Càng tìm hiểu về tâm lý học quyền lực, tôi càng hiểu rằng quyền lực giống như một thứ ma túy – một loại có cả một danh mục dài dằng dặc các tác dụng phụ đi kèm. “Quyền lực có xu hướng tha hóa, và quyền lực tuyệt đối sẽ dẫn đến sự tha hóa tuyệt đối,” đó là nhận xét khá nổi tiếng của một sử gia người Anh, Lord Acton, đưa ra vào thế kỉ 19. Có rất ít tuyên bố mà các nhà tâm lý học, xã hội học và sử học nhất trí đồng thuận như tuyên bố trên.[1]
Dacher Keltner gọi điều này là “nghịch lý quyền lực”. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng chúng ta thường chọn những cá nhân khiêm tốn và tốt bụng nhất lãnh đạo chúng ta. Nhưng một khi họ lên đến vị trí đỉnh cao, quyền lực thường xông thẳng vào bộ não và suy nghĩ của họ – sau đó vận may lại hất văng họ.
Chúng ta chỉ cần nhìn vào những người anh em họ khỉ đột và tinh tinh thì sẽ thấy rằng việc lật đổ một thủ lĩnh khó khăn như thế nào. Trong đàn khỉ đột, chỉ một kẻ độc tài duy nhất được phép đưa ra mọi quyết định và độc quyền tiếp cận hậu cung khỉ cái. Hay các con tinh tinh đầu đàn cũng phải trải qua những cuộc chiến cam go thì mới giành được vị trí thủ lĩnh, một vị trí dành riêng cho con đực khỏe nhất và thạo việc hình thành các liên minh nhất.
“Toàn bộ tác phẩm của Machiavelli dường như có thể áp dụng trực tiếp cho hành vi của tinh tinh,” nhà sinh vật học Frans de Waal đã đưa ra nhận xét như vậy trong cuốn sách có tên Chimpanzee Politics (tạm dịch: Nền chính trị của tinh tinh) của mình, xuất bản đầu những năm 80 của thế kỉ trước.[2] Con đực số một – con đầu đàn – nghênh ngang đi lại như một đấng nam tử tu mi và ra lệnh cho những con khác phục tùng mệnh lệnh của nó. Còn những con phụ tá vừa giúp nó cầm cương nhưng cũng có thể dễ dàng âm mưu đâm sau lưng nó bất cứ khi nào có cơ hội.
Qua hàng thập kỉ dài, các nhà khoa học đã nghiên cứu và phát hiện ra rằng DNA chúng ta và tinh tinh giống nhau đến 99%. Điều này đã gợi cảm hứng cho Newt Gingrich, Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ quyết định tặng hàng chục cuốn sách của De Waal cho các đồng nghiệp vào năm 1995. Trong suy nghĩ của ông, Quốc hội Hoa Kỳ chẳng khác gì bầy tinh tinh. Khác biệt duy nhất có chăng là các thành viên phải cố gắng nhiều hơn để che giấu bản năng của họ.
Bấy giờ, những gì chua được biết đến rộng rãi đó là ngoài tinh tinh, con người còn có một họ hàng khác cũng có DNA tương đồng đến 99%, loài đó là Bonobo. Lần đầu tiên Frans de Waal bắt gặp chúng là vào đầu những năm 1970, khi chúng vẫn còn được gọi với cái tên “tinh tinh lùn”. Thậm chí, suốt một thời gian dài, loài tinh tinh và loài bonobo còn được cho là cùng một loài.[3]
Trên thực tế, bonobo là một loài khác hẳn. Trong Chương 4 chúng ta nhận ra rằng giống vượn này tự thuần hóa, giống như Homo puppy. Con cái của loài này sẽ đóng vai trò then chốt trong quá trình này, bởi vì dù không khỏe như các con đực, nhưng chúng lại biết hỗ trợ nhau bất cứ khi nào một con trong số chúng bị con khác giới quấy rối. Nếu cần, chúng sẵn sàng cắn mất một nửa dương vật của con đực.[4] Nhờ sự cân bằng quyền lực này, bonobo cái có thể tự do lựa chọn bạn đời của chúng, và những con tử tế nhất thường được lựa chọn trước tiên.
(Nếu bạn nghĩ toàn bộ sự giải phóng này sẽ khiến cho đời sống tình dục buồn tẻ thì hãy nghĩ lại: “Bonobo hành xử như chúng đã đọc tác phẩm Kama Sutra (tạm dịch: Dục Kinh)”, De Waal viết, “chúng thực hành mọi tư thế và biến thể có thể nghĩ ra.”[5] Cuốn sách cũng cung cấp một thông tin khá thú vị rằng, khi hai nhóm bonobo gặp nhau lần đầu, chúng thường kết thúc bằng một cuộc truy hoan).
Trước khi chúng ta trở nên quá nhiệt tình: rõ ràng con người không phải bonobo. Ngày càng nhiều cơ quan nghiên cứu uy tín đã chỉ ra rằng, chúng ta có nhiều điểm chung với loài vượn này hơn là với loài tinh tinh ham mê quyền lực kiểu Machiavelli. Trước hết, xuyên suốt phần lớn lịch sử loài người, các thể chế chính trị của chúng ta giống với của loài bonobo hơn nhiều. Hãy nhớ các chiến thuật của những thành viên bộ lạc !Kung (xem Chương 5): “Chúng tôi từ chối người khoác lác, vì một ngày nào đó niềm kiêu hãnh của anh ta sẽ khiến anh ta giết hại ai đó. Cho nên chúng tôi luôn nói thịt của anh ta không có giá trị. Bằng cách này chúng tôi làm dịu con tim của anh ta và giúp anh ta trở nên hòa nhã hơn.”
Trong một cuộc phân tích 48 nghiên cứu về các xã hội săn bắt hái lượm, một nhà nhân chủng học người Mỹ đã khẳng định rằng chủ nghĩa Machiavelli[6] gần như là nguyên nhân dẫn đến tai họa. Để minh chứng cho điều này, một nhà khoa học đã chỉ ra một số đặc điểm mà bạn cần phải làm nếu như bạn muốn nắm vị trí thủ lĩnh ở thời tiền sử. Bạn phải có những đặc điểm sau:
Hào hiệp
Can trường
Khôn ngoan
Lôi cuốn
Ngay thẳng
Công bằng
Đáng tin
Khéo léo trong cách hành xử
Mạnh mẽ
Khiêm tốn[7]
Đối với các cư dân săn bát hái lượm, vai trò thủ lĩnh chỉ mang tính tạm thời và cả nhóm cùng bàn bạc đưa ra các quyết định. Bất kì ai ngu ngốc hành xử kiểu Machiavelli đều bị cho là đang đùa giỡn với tính mạng. Kẻ ích kỉ và tham lam sẽ bị đuổi ra khỏi bộ lạc và chắc chắn sẽ bị chết đói. Sau cùng, chẳng ai muốn chia sẻ thức ăn với những kẻ đã tự cảm thấy no nê.
Một dấu hiệu nữa chỉ ra rằng cách hành xử của loài người gần với loài bonobo hơn tinh tinh đó là ngay từ bẩm sinh, chúng ta đã chán ghét sự bất bình đẳng. Hãy thử tìm kiếm cụm từ “ghét bất bình đẳng” (inequality aversion) bằng Google Scholar và bạn sẽ tìm được hơn 10.000 bài viết khoa học về bản năng nguyên thủy này. Trẻ con chỉ mới ba tuổi đã biết cách chia bánh rất đều, và khi lên sáu tuổi chúng sẽ thà vứt cả cái bánh đi còn hơn là để người khác hưởng phần lớn hơn.[8] Cũng như bonobo, con người nhiệt tình và thường xuyên chia sẻ.
Nói vậy, chúng ta cũng không nên phóng đại những phát hiện này. Homo puppy không phải là những người bình đẳng bẩm sinh. Các nhà tâm lý đã nhấn mạnh rằng, chúng ta chấp nhận một chút bất bình đẳng nếu chúng ta nghĩ đó là điều hợp lý và chừng nào mọi thứ có vẻ như vẫn ngay thẳng. Nếu bạn có thể thuyết phục được mọi người rằng bạn khôn ngoan, tốt hay thánh thiện hơn, khi đó mọi người sẽ nhận thấy việc để bạn giữ nhiều trọng trách là điều hợp lý và bạn sẽ không sợ bị ai đó chống đối nữa.
Cùng với sự xuất hiện của những khu định cư đầu tiên khiến sự bất bình đẳng gia tăng, các thủ lĩnh và vua chúa bắt đầu hợp pháp hóa lý do họ được hưởng nhiều đặc quyền hơn các thần dân của mình. Nói cách khác, họ bắt đầu thực hiện việc tuyên truyền. Trong khi tù trưởng của các bộ lạc du mục đều khiêm nhường thì giờ đây các thủ lĩnh bắt đầu ra vẻ ta đây. Vua chúa tự nhận rằng họ được quyền cai trị là do những quyền lực thần thánh ban cho hoặc chính họ là thần thánh.
Dĩ nhiên ngày nay, hoạt động tuyên truyền nhằm củng cố và bảo vệ quyền lực trở nên tinh vi hơn, nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta không còn nghĩ ra những ý thức hệ khéo léo để biện minh cho lý do một số cá nhân lại “xứng đáng” hưởng nhiều quyền lực, địa vị hay của cải hơn những người khác. Chúng ta vẫn đang làm như vậy. Trong xã hội Tư bản Chủ nghĩa, chúng ta có xu hướng sử dụng những lập luận về các giá trị. Nhưng làm cách nào để xã hội xác định được người mang lại nhiều giá trị nhất? Làm cách nào bạn xác định được ai đóng góp nhiều nhất cho xã hội? Chủ ngân hàng hay người quét rác? Đó là suy nghĩ của chúng ta hay của những người luôn nghĩ vượt ra khỏi khuôn khổ? Câu chuyện bạn thêu dệt càng hay thì miếng bánh bạn nhận được càng to. Thực tế, bạn có thể nhìn vào toàn bộ quá trình tiến hóa của nền văn minh như một lịch sử do các nhà cai trị liên tục nghĩ ra những lý lẽ biện minh mới nhằm phục vụ cho các đặc quyền của họ.[9]
Nhưng có gì đó rất lạ đang diễn ra ở đây. Tại sao chúng ta lại tin những câu chuyện mà các nhà lãnh đạo nói với chúng ta?
Một số sử gia cho rằng đó là vì chúng ta khờ dại – và điều đó có thể chỉ là sức mạnh siêu việt của chúng ta với tư cách một giống loài.[10] Nói theo cách đơn giản hơn thì lý thuyết đó như sau: nếu bạn muốn có hàng nghìn người lạ làm việc trong một đội, bạn cần có điều gì đó gắn kết họ lại với nhau. Chất keo này phải mạnh hơn cả sự thân thiết, vì mặc dù mạng lưới xã hội của Homo puppy là lớn nhất trong tất cả các loài linh trưởng, nhưng nó vẫn không đủ lớn để hình thành được các thành phố hay nhà nước.
Tiêu biểu như các nhóm xã hội của chúng ta từng có số lượng không quá 150 người. Vào những năm 1990, các nhà khoa học đã tìm ra giới hạn này khi hai nhà nghiên cứu người Mỹ đề nghị một nhóm tình nguyên viên liệt kê tất cả bạn bè và gia đình mà họ sẽ gửi thiệp Giáng sinh đến. Con số trung bình là 68 hộ, tức là khoảng 150 cá nhân.[11]
Khi bạn bắt đầu nhìn vào con số này, bạn sẽ thấy nó xuất hiện ở khắp nơi. Từ các quân đoàn La Mã tới những người khai hoang mộ đạo, từ các đơn vị doanh nghiệp tới những người bạn thật sự của chúng ta trên Facebook, cái ngưỡng ma mị này được giăng ở khắp nơi và cho thấy bộ não con người chưa được trang bị để chấp nhận con số nhiều hơn 150 mối quan hệ có ý nghĩa.
Vấn đề là ở chỗ trong khi 150 vị khách tập hợp trong một bữa tiệc lớn thì con số này lại không đủ để xây nên một kim tự tháp hay phóng tên lửa lên mặt trăng. Những dự án ở quy mô càng lớn thì càng cần sự hợp tác của những nhóm lớn hơn, cho nên những người lãnh đạo cần khích lệ chúng ta.
Bằng cách nào? Bằng những câu chuyện hoang đường. Chúng ta học cách tưởng tượng mối quan hệ họ hàng với những người chúng ta chưa bao giờ gặp gỡ. Các tôn giáo, các nhà nước, các công ty, các dân tộc – tất cả thật sự chỉ tồn tại trong đầu óc của chúng ta, trong những câu chuyện các thủ lĩnh của chúng ta và chính chúng ta kể. Dù chưa có ai từng gặp “nước Pháp” hay bắt tay với “Giáo hội Công giáo La Mã” cả, nhưng điều đó không quan trọng nếu chúng ta kí giao kèo đồng ý với những câu chuyện tưởng tượng ấy.
Một ví dụ rõ ràng cho những câu chuyện hoang đường như thế là nhân vật Chúa Trời, dĩ nhiên rồi. Hay còn gọi là Đại Huynh như ban đầu. Thậm chí, khi còn niên thiếu, tôi đã băn khoăn tại sao Đấng sáng tạo trong Thiên Chúa giáo mà tôi tin theo lại quan tâm nhiều đến con người và những điều thế tục như vậy. Hồi đó, tôi không biết rằng tổ tiên du mục của chúng ta có một quan niệm rất khác về thánh thần, họ cho rằng các vị thần của họ rất ít quan tâm đến đời sống con người (xem Chương 5).
Câu hỏi là: Chúng ta lấy đâu ra niềm tin vào một vị Chúa quyền uy tối thượng như vậy? Và tại sao chúng ta lại tin vào một vị Chúa tức giận trước tội lỗi của con người như vậy? Gần đây các nhà khoa học đã đưa ra một giả thuyết hết sức thú vị. Để hiểu nó, chúng ta phải quay lại Chương 3, nội dung chương này đã tiết lộ cho chúng ta biết rằng có gì đó độc đáo trong đôi mắt của loài Homo puppy. Nhờ lòng trắng xung quanh mống mắt, chúng ta có thể nhìn theo hướng ánh mắt của người khác. Cái nhìn thoáng qua này giúp chúng ta tin rằng mình hiểu được suy nghĩ của người khác, đây là yếu tố quan trọng trong việc tạo dựng những niềm tin trong nhau.
Khi chúng ta bắt đầu sống thành từng nhóm lớn hơn, với hàng nghìn người xa lạ, mọi thứ dần thay đổi. Hoàn toàn theo nghĩa đen, chúng ta đánh mất hình ảnh về nhau. Bạn chẳng có cách nào tiếp xúc bằng mắt với hàng nghìn hay hàng vạn hoặc hàng triệu người, do đó sự nghi ngại lẫn nhau bắt đầu tăng lên. Con người ngày càng ngờ vực người khác đang lừa dối cộng đồng, trong khi họ phải làm lụng vất vả thì những kẻ khác lại nhởn nhơ.
Và vì thế các thủ lĩnh thấy cần phải có người giám sát người dân, cần phải có ai đó nghe được mọi thứ và nhìn thấy mọi thứ. Một Con mắt nhìn thấy tất cả. Chúa Trời.
Không phải ngẫu nhiên mà các vị thần hay báo thù như vậy.[12] Chúa trở thành một siêu Leviathan, theo dõi tất cả mọi người 24/7, 24 tiếng mỗi ngày, bảy ngày mỗi tuần. Thậm chí những suy nghĩ của bạn cũng không được an toàn và riêng tư. “Ngay cả tóc trên đầu anh em cũng đã được đếm cả rồi,” Kinh Thánh nói với chúng ta ở Matthew Chương 10 câu 30. Chính thực thể thông suốt mọi sự này đã giám sát từ trên trời và – khi cần – dùng đến đòn roi.
Những câu chuyện thần thoại rất quan trọng để giúp các thủ lĩnh của chúng ta làm những điều mà không giống loài nào từng làm trước đó. Chúng giúp chúng ta cùng làm việc với quy mô rất lớn, lên đến hàng triệu người xa lạ. Hơn nữa, những truyền thuyết này vẫn được phổ biến cho đến tận ngày nay, chính từ những sức mạnh thêu dệt to lớn mà các nền văn minh vĩ đại xuất hiện. Do Thái giáo và Hồi giáo, Chủ nghĩa Dân tộc và Chủ nghĩa Tư bản – tất cả đều là sản phẩm của trí tưởng tượng của nhân loại. “Tất cả xoay quanh việc kể những câu chuyện và thuyết phục mọi người tin chúng,” sử gia Israel Yuval Noah Harari viết trong cuốn Sapiens[13].[14]
Đây là một thuyết khá hấp dẫn, nhưng nó có một hạn chế.
Nó bỏ qua 95% lịch sử loài người.
Như đã xảy ra, tổ tiên du mục của chúng ta đã vượt qua ngưỡng ma mị 150 người.[15] Tuy chúng ta săn bắt hái lượm theo từng nhóm nhỏ, nhưng các nhóm cũng thường xuyên thay đổi các thành viên, biến chúng ta thành một phần trong một mạng lưới rộng lớn gồm toàn các Homo puppy “thụ phấn chéo”. Chúng ta đã thấy điều này ở Chương 3 với các bộ lạc như người Aché ở Paraguay và người Hadza ở Tanzania, nơi các thành viên gặp gỡ hơn 1.000 người trong suốt cuộc đời họ.[16]
Hơn nữa, người tiền sử cũng có trí tưởng tượng phong phú. Họ khéo léo thêu dệt những câu chuyện hoang đường và truyền lại các thế hệ tiếp theo như một cách bôi trơn những bánh răng hợp tác của đám đông. Đền thờ sớm nhất thế giới được tìm thấy ở Göbekli Tepe thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay (xem Chương 5) là một ví dụ rất thực tế, ngôi đền được xây dựng với sự nỗ lực và phối hợp nhịp nhàng của hàng nghìn người.
Điểm khác biệt duy nhất có thể chỉ ra là vào thời tiền sử, những câu chuyện hoang đường này kém bền vững hơn. Các tù trưởng có thể bị lật đổ bất cứ lúc nào và những tượng đài nhanh chóng bị mưa gió xói mòn. Nói theo lời của hai nhà nhân chủng học Graeber và Wengrow:
Thay vì biếng nhác trong sự ngây thơ thời săn bắt hái lượm cho đến khi vị thần bất bình đẳng bằng cách nào đó được thả ra (khỏi cái chai), tổ tiên thời tiền sử của chúng ta dường như đã biết đóng mở thành công nút chai thường xuyên, giới hạn sự bất bình đẳng trong những vở kịch nghi lễ, xây dựng những vị thần và vương quốc giống như xây dựng những tượng đài của chính họ, để rồi sau đó lại hân hoan tháo dỡ xuống.[17]
Trong hàng thiên niên kỉ, chúng ta đủ khả năng để hoài nghi về những câu chuyện chúng ta nghe được. Nếu một kẻ to mồm nào đó tuyên bố rằng hắn được bàn tay của Chúa lựa chọn, bạn có thể nhún vai. Nếu kẻ đó khiến người ta cảm thấy khó chịu, chẳng chóng thì chầy hắn sẽ nhận một mũi tên vào cạnh sườn. Homo puppy thân thiện chứ không hề ngây thơ.
Phải tới tận khi có sự xuất hiện của quân đội và các vị chỉ huy thì tất cả những chuyện này mới thay đổi. Cứ thử đứng lên chống lại một kẻ chuyên quyền sẵn sàng ra lệnh lột da, thiêu sống, hay xé xác phanh thây những người chống đối hắn xem. Khi đó, những lời phê phán bỗng trở nên chẳng còn cấp bách nữa. Machiavelli viết: “Đây là lý do giải thích cho việc tại sao tất cả những nhà tiên tri có vũ trang giành chiến thắng và mọi nhà tiên tri không có vũ trang đều thất bại.”
Từ lúc này trở đi, thần thánh và vua chúa không còn dễ bị phế truất nữa. Giờ đây những hành động chống đối chuyện hoang đường có thể gây ra những nguy hiểm chết người. Nếu bạn thấy có một vị thần nào răn dạy những điều không đúng cho lắm, thì bạn nên giữ điều đó cho riêng mình thôi. Nếu bạn tin quốc gia dân tộc là một ảo tưởng ngu ngốc, điều đó có thể khiến bạn mất đầu. Machiavelli khuyên rằng: “Quyền lực là thứ hữu ích bởi vì, nếu có chuyện gì đó mà dân chúng không hề tin thì những nhà lãnh đạo có thể khiến cho họ tin bằng sức mạnh vũ lực.”[18]
Bạn có thể nghĩ bạo lực không phải là hằng số trong phương trình này – ít nhất không phải trong các nền dân chủ có trật tự với thói quan liêu nhàm chán của họ. Nhưng chớ nhầm lẫn: mối đe dọa bạo lực vẫn hiện diện rất rõ, và nó đang lan rất nhanh.[19] Đó là lý do nhiều gia đình cùng con cái bị tống ra khỏi nhà vì không trả được các khoản thế chấp. Đó là lý do tại sao những người di dân lại không thể thong dong vượt qua biên giới bước vào vùng đất đẹp như trong tiểu thuyết mà chúng ta gọi là châu Âu và Hoa Kỳ. Và đó cũng là lý do chúng ta tiếp tục tin vào đồng tiền.
Chỉ cần cân nhắc: tại sao con người lại chịu ở trong những khu vực mà chúng ta gọi là “văn phòng” suốt 40 tiếng một tuần, để đối lấy vài miếng kim loại hoặc vài mẩu giấy hay vài chữ số thêm vào tài khoản ngân hàng của họ? Có phải do chúng ta đã bị chế ngự bởi cỗ máy tuyên truyền của những người nắm trong tay quyền lực? Nếu như vậy thì tại sao lại không có bất kì ai cảm thấy bất bình? Tại sao không ai tìm đến các cơ quan thuế và nói: “Thưa ngài, tôi vừa đọc một cuốn sách thú vị về sức mạnh của thần linh và nhận ra tiền bạc chỉ là thứ hão huyền, cho nên tôi sẽ không đóng thuế.”
Thực tế đã chứng minh cho bạn thấy, nếu bạn phớt lờ một hóa đơn và không chịu đóng thuế, bạn sẽ bị phạt hoặc tài khoản của bạn sẽ bị phong tỏa. Nếu bạn không sẵn lòng tuân thủ, những nhà cầm quyền có thể bỏ tù bạn. Tiền bạc có thể là thứ huyễn hoặc, nhưng nó được phổ biến và được bạo lực bảo lãnh.[20]
❀ ❀ ❀
[1] Lord Acton, “Letter to Bishop Mandell Creighton” (ngày 5 tháng 4 năm 1887), xuất bản trong J. N. Figgis và R. V. Laurence (biên tập), Historical Essays and Studies (London, 1907).
[2] Frans de Waal, Chimpanzee Politics. Power and Sex Among Apes (Baltimore, 2007), tr. 4. Xuất bản lần đầu năm 1982.
[3] Frans de Waal và Frans Lanting, Bonobo. The Forgotten Ape (Berkeley, 1997).
[4] Natalie Angier, “In the Bonobo World, Female Camaraderie Prevails”, New York Times (ngày 10 tháng 9 năm 2016).
[5] Frans de Waal, “Sex as an Alternative to Aggression in the Bonobo”, trong Paul R. Abramson và Steven D. Pinkerton, Sexual Nature/Sexual Culture (Chicago, 1995), tr. 37.
[6] Chủ nghĩa Machiavelli mô tả khuôn mẫu của hành vi chính trị bỏ qua các tiêu chuẩn đạo đức để đạt được các mục tiêu chính trị và duy trì quyền lực.
[7] Christopher Boehm, “Egalitarian Behavior and Reverse Dominance Hierarchy”, Current Anthropology, tập 34, số 3 (1993), tr. 233.
[8] Christina Starmans, Mark Sheskin và Paul Bloom, “Why People Prefer Unequal Societies”, Nature Human Behaviour, tập 1, số 4 (2017).
[9] Xem thêm Rutger Bregman và Jesse Frederik, “Waarom vuilnismannen meer verdienen dan bankiers”. De Correspondent (2015).
[10] Người ủng hộ thuyết này nổi tiếng nhất là Yuval Noah Harari, trong cuốn Sapiens (2011) của ông.
[11] Robin Dunbar, How Many Friends Does One Person Need? Dunbar’s Number and Other Evolutionary Clues (Cambridge, Mass., và London, 2010), tr. 26.
[12] Lời biện hộ thuyết phục nhất cho thuyết này là trong Ara Norenzayan, Big Gods (2013). Xem thêm Harvey Whitehouse chủ biên, “Complex Societies Precede Moralizing Gods Throughout World History”, Nature (ngày 20 tháng 3 năm 2019) và Edward Slingerland chủ biên, ‘Historians Respond to Whitehouse et al. (2019), “Complex Societies Precede Moralizing Gods Throughout World History”, PsyArXiv Preprints (ngày 2 tháng 5 năm 2019).
[13] Cuốn sách được phát hành ở Việt Nam với tựa đề Sapiens Lược sử loài người.
[14] Harari, Sapiens, tr. 34.
[15] Douglas W. Bird chủ biên, “Variability in the organization and size of hunter-gatherer groups: Foragers do not live in small-scale societies”, tạp chí Human Evolution (tháng 6 năm 2019).
[16] Hill chủ biên, “Hunter-Gatherer InterBand Interaction Rates. Implications for Cumulative Culture”.
[17] Graeber và Wengrow, “How to Change the Course of Human History (at Least, the Part That’s Already Happened)”.
[18] Machiavelli, The Prince, tr. 149.
[19] David Graeber, The Utopia of Rules. On Technology, Stupidity and the Secret Joys of Bureaucracy (Brooklyn and London, 2015), tr. 31-3.
[20] Đây là lý do các nhà kính tế học nghiêm túc có thể tiên liệu sớm việc câu chuyện thần thoại chúng ta gọi là “Bitcoin” sẽ thất bại trong khi đô la sẽ thống trị nhiều thập kỉ nữa. Đồng đô la được hậu thuẫn bởi quân đội mạnh nhất thế giới, trong khi Bitcoin chỉ được hậu thuẫn bằng niềm tin.