Đó là ngày 22 tháng 11 năm 1943. Màn đêm bao trùm lên một hòn đảo ở Thái Bình Dương, và trận chiến Makin vừa bắt đầu. Cuộc tấn công đang diễn ra đúng theo kế hoạch thì một chuyện lạ lùng đã xảy ra.[1]
Samuel Marshall, đại tá và là một sử gia, đã tận mắt chứng kiến sự việc đó. Ông là người đầu tiên được quân đội Mỹ hộ tống lên bờ khi họ tìm cách chiếm đảo, khu vực đang nằm trong tay quân Nhật. Hiếm có một sử gia nào ở gần chiến trận đến vậy. Bản thân cuộc xâm chiếm là một chiến dịch được giữ kín hoàn toàn, gần như một thử nghiệm trong phòng thí nghiệm. Quả là cơ hội lý tưởng cho Marshall quan sát chiến tranh diễn ra như thế nào trong đời thực.
Họ tiến thêm được ba dặm trong ngày hôm đó với cái nóng như thiêu đốt. Khi họ dừng bước vào tối hôm đó, chẳng ai còn đủ năng lượng để đào hào phòng thủ, nhưng họ không nhận ra có một trại binh Nhật cách đó một quãng ngắn. Cuộc tấn công bắt đầu sau khi trời tối. Quân Nhật tấn công vào quân Mỹ, tất cả có 11 đợt. Bất chấp việc bị áp đảo về mặt quân số, quân Nhật gần như đã chọc thủng phòng tuyến của quân Mỹ.
Ngày hôm sau, Marshall cảm thấy có chuyện gì đó không ổn. Ông biết rằng có thể thu được rất nhiều điều bằng cách nhìn những lá cờ trên bản đồ hoặc đọc kĩ nhật kí của các sĩ quan. Vậy là ông quyết định làm một điều mà chưa ai thử. Quả là cách mạng trong giới học thuật lịch sử. Cũng sáng hôm đó, ông lượn vòng qua những binh sĩ Mỹ và phỏng vấn họ theo nhóm. Ông đề nghị họ trả lời một cách thoải mái nhất ngay cả những ý kiến mà họ không tán thành với cấp trên của mình.
Đó quả là một chiến lược thiên tài. Một đồng nghiệp sau này đã viết: “Marshall gần như lập tức nhận ra mình đã nắm đúng bí quyết của việc báo cáo chính xác tình hình chiến sự. Tất cả mọi người đều nhớ được gì đó – như một mảnh ghép còn thiếu trong trò chơi ghép hình.”[2] Và đó là cách vị đại tá có được một phát hiện khó hiểu.
Hầu hết binh sĩ chưa hề nổ súng.
Trong hàng thế kỉ, thậm chí hàng thiên niên kỉ, các vị tướng và chỉ huy, các nghệ sĩ và thi sĩ đều xem hành động chiến đấu của các binh sĩ là lẽ đương nhiên. Nếu có một thứ khiến “kẻ đi săn” bên trong chúng ta trỗi dậy, thì đó là chiến tranh. Chiến tranh là khi con người chúng ta phải làm gì đó mà chúng ta thạo nhất. Chiến tranh là khi chúng ta phải nổ súng giết kẻ thù.
Nhưng khi Đại tá Samuel Marshall tiếp tục phỏng vấn các nhóm binh sĩ, ở Thái Bình Dương và chiến trường châu Âu, ông phát hiện rằng trên thực tế chỉ 15 – 25% binh sĩ từng nổ súng. Ngay cả ở thời khắc then chốt, tuyệt đại đa số đều ngần ngại bóp cò. Một sĩ quan tuyệt vọng kể lại việc mình đã phải chạy đi chạy lại dọc chiến hào để gào thét: “Mẹ kiếp! Nổ súng đi!” Nhưng “họ chỉ nổ súng khi tôi nhìn họ hoặc có sĩ quan khác kề bên.”[3]
Tình hình ở Makin đêm đó buộc binh lính hoặc là hành động hoặc là chết, khi bạn kì vọng tất cả mọi người thực sự chiến đấu vì mạng sống của họ. Nhưng ở tiểu đoàn của Marshall với hơn 300 binh sĩ, ông có thể xác định chỉ có 36 người thực sự kéo cò súng.
Phải chăng các binh lính thiếu kinh nghiệm chiến đấu? Không. Dường như không có bất kì khác biệt nào giữa những tân binh và cựu binh dày dạn kinh nghiệm trong thái độ sẵn sàng nổ súng. Và nhiều người lựa chọn không nổ súng lại là những tay thiện xạ trong khi huấn luyện.
Có thể họ nhát gan? Khó lòng như vậy. Ở vị trí của một binh sĩ không nổ súng đồng nghĩa với việc cái chết có thể ập đến bất cứ lúc nào. Với một người bình thường, họ là những người yêu nước dũng cảm, trung thành, sẵn sàng hi sinh cho đồng đội. Thế nhưng, đến khi cần, họ lại né tránh nhiệm vụ của mình.
Họ không nổ súng.
Những năm sau Thế chiến thứ Hai, Samuel Marshall trở thành một trong những sử gia đáng kính nhất ở thế hệ ông. Quân lực Hoa Kỳ rất coi trọng những điều ông nói. Trong cuốn sách Men Against Fire (tạm dịch: Những người chống nổ súng) xuất bản năm 1946 – cho đến tận bây giờ nó vẫn được đọc tại các học viện quân sự – ông nhấn mạnh rằng “một cá nhân mạnh khỏe và bình thường […] có một sự phản kháng không nhận thấy từ bên trong, họ sẽ không lựa chọn việc giết hại đồng loại, sẽ không làm theo ý chí của mình mà tước đoạt mạng sống của người khác”.[4] Ông tin rằng, hầu hết mọi người đều có “nỗi sợ sự hung hãn”, điều này vốn hết sức bình thường trong “bản chất vốn tình cảm” của chúng ta.[5]
Vậy điều gì đã diễn ra? Có phải ngài đại tá đã phát hiện ra một bản năng mạnh mẽ nào đó? Được xuất bản khi lý thuyết vỏ ngoài đang chiếm được sự quan tâm của các nhà khoa học và mô hình vượn sát thủ của Raymond Dart đang thịnh hành, những phát hiện của Marshall thật khó tiếp nhận. Vị đại tá có linh cảm rằng phân tích của ông không chỉ giới hạn trong quân Đồng minh tại Thế chiến thứ Hai, mà còn đúng với tất cả các binh sĩ trong suốt lịch sử. Từ những người Hy Lạp ở Troy tới lính Đức ở Verdun.
Mặc dù Marshall là người có tiếng tăm lừng lẫy nhưng vào những năm 1980, sự nghi ngờ về ông bắt đầu xuất hiện. Trang nhất tờ New York Times ngày 19 tháng 2 năm 1989 giật tít: “Cuốn sách của SLA. Marshall về chiến tranh bị công kích là sai lầm”. Còn tạp chí American Heritage gọi đó là trò chơi xỏ, tuyên bố rằng Marshall đã “giàn dựng tất cả” và chưa bao giờ tiến hành phỏng vấn bất kì ai. Một cựu sĩ quan còn chế nhạo: “Đó là tay chuyên xuyên tạc lịch sử. Hắn không hiểu bản chất con người.”[6]
Marshall không thể biện hộ cho mình bởi ông đã qua đời 12 năm trước đó. Các sử gia khác đã lao vào cuộc tranh cãi – và cả các kho lưu trữ – và tìm ra những dấu hiệu chứng minh Marshall đã bóp méo sự thật. Nhưng các cuộc phỏng vấn là có thật, và chắc chắn ông đã hỏi binh sĩ liệu họ có khai hỏa những khẩu M1 không.[7]
Sau khi nghiên cứu về Marshall, về những người phỉ báng và bênh vực ông, tôi không còn biết phải nói gì. Phải chăng tôi chỉ hơi quá háo hức chuyện ngài đại tá đúng? Hay thật sự ông đã tìm ra điều gì đó? Càng đi sâu vào cuộc tranh cãi, Marshall càng gây ấn tượng với tôi rằng ông là một nhà tư duy trực giác – không phải một chuyên gia thống kê xuất sắc, mà là một nhà quan sát tinh tế và nhạy bén.
Câu hỏi đặt ra là: Có thêm bằng chứng nào ủng hộ luận thuyết của ngài đại tá không?
Câu trả lời ngắn gọn là: Có.
Câu trả lời đầy đủ? Suốt những thập kỉ qua, bằng chứng cho thấy Đại tá Marshall đúng ngày càng chất chồng.
Trước hết, các đồng nghiệp ở tiền tuyến cũng quan sát được điều y hệt như Marshall đã thấy. Trung tá Lionel Wigram than phiền trong chiến dịch 1943 ở Sicily rằng, ông ấy không thể trông chờ vào quá một phần tư binh sĩ của mình.[8] Hay trong trường hợp Tướng Bernard Montgomery, người từng viết một lá thư gửi về nhà có nội dung như sau: “Rắc rối với các chàng trai Anh của chúng ta là, về bản chất họ không phải những kẻ sát nhân.”[9]
Sau này, khi các sử gia bắt đầu phỏng vấn các cựu chiến binh Thế chiến thứ Hai, họ thấy rằng hơn một nửa trong số người được phỏng vấn chưa bao giờ nổ súng giết hại ai cả, và hầu hết các vụ bắn giết là do một nhóm thiểu số các binh sĩ gây ra.[10] Trong Không lực Hoa Kỳ, chưa đầy 1% phi công máy bay chiến đấu chịu trách nhiệm với gần 40% số máy bay bị bắn hạ.[11] Một sử gia đã ghi nhận, hầu hết phi công “chưa bao giờ bắn hạ bất kì ai hay thậm chí thử làm vậy.”[12]
Sau những phát hiện này, các học giả bắt đầu xem xét lại những giả định về các cuộc chiến khác. Như trận Gettysburg diễn ra vào năm 1863 trong cao trào Nội chiến Mỹ. Việc kiểm tra 27.574 khẩu súng hỏa mai thu hồi được từ chiến trường đã tiết lộ rằng có tới 90% vẫn còn nguyên đạn.[13] Điều này thật vô lý. Trung bình, một tay súng dành 95% thời gian nạp đạn cho khẩu súng của mình và chỉ dùng 5% còn lại để bắn. Vì để sử dụng một khẩu hỏa mai đòi hỏi rất nhiều thao tác (dùng răng xé lớp buộc đầu súng, đổ thuốc súng vào cần điểm hỏa, nhét đầu đạn vào bằng cách thông nòng súng, kéo kíp nổ vào vị trí, lên búa súng rồi kéo cò), thật lạ, nói giảm nói tránh là rất nhiều khẩu súng vẫn đầy đạn.
Nhưng mọi việc còn lạ hơn nữa. Khoảng 12.000 khẩu súng hỏa mai được nạp gấp đôi, và một nửa trong số đó là gấp ba. Một khẩu súng thậm chí có hai mươi ba viên đạn trong nòng súng – thật là ngớ ngẩn. Những binh sĩ này đã được sĩ quan của họ rèn luyện rất kĩ càng. Họ đều biết súng hỏa mai được thiết kế để bắn mỗi lần một viên đạn.
Vậy họ đã làm gì vậy? Mãi về sau các sử gia mới đoán ra: nạp đạn cho súng là lý do hoàn hảo để không phải bắn. Và nếu tình cờ súng đã nạp đạn rồi, chậc, bạn chỉ việc nạp thêm lần nữa. Và lần nữa.[14]
Những phát hiện tương tự được tìm thấy tại quân đội Pháp. Trong một khảo sát chi tiết tiến hành với các sĩ quan của mình vào những năm 1860, đại tá người Pháp tên là Ardant du Picq phát hiện ra rằng binh sĩ không hề chiến đấu. Khi họ khai hỏa vũ khí của mình, họ thường ngắm quá cao. Việc đó có thể diễn ra hàng tiếng đồng hồ: hai đội quân trút hỏa lực của họ quá đầu nhau, trong khi tất cả tranh nhau một lý do để làm việc khác ngoài việc bắn – bất kì điều gì khác – trong lúc chờ đợi (tiếp thêm đạn dược, nạp lại đạn cho vũ khí, tìm chỗ trú, bất kì việc gì).
Chuyên gia quân sự Dave Grossman viết, “Kết luận rõ ràng là hầu hết các binh sĩ không cố giết hại kẻ thù.”[15]
Khi đọc được điều này, tôi chợt nhớ lại một đoạn văn về hiện tượng giống hệt những điều được mô tả ở trên của một trong những tác giả mà tôi yêu thích: “Trong cuộc chiến tranh này, tất cả mọi người luôn cố gắng bắn trượt kẻ thù khi có cơ hội.” Đó là những điều mà George Orwell viết trong cuốn sách kinh điển về Nội chiến Tây Ban Nha, cuốn Homage to Catalonia (tạm dịch: Lòng kính trọng đối với Catalonia).[16] Điều này không có nghĩa là chẳng hề có thương vong, dĩ nhiên; nhưng theo Orwell, hầu hết binh sĩ bị băng bó trong bệnh xá đều bị thương do tai nạn.
Trong những năm gần đây, liên tu bất tận các nhà khoa học ủng hộ những kết luận của Đại tá Marshall. Trong số đó phải kể đến nhà xã hội học Randall Collins, người phân tích hàng trăm bức ảnh các binh sĩ lâm trận và, lặp lại những ước tính của Marshall, tính toán rằng chỉ khoảng 13-18% số binh sĩ nổ súng.[17]
“Xét từ những bằng chứng phổ biến nhất đã cho thấy quan điểm về con người kiểu Hobbes là sai lầm”, Collins khẳng định. “Con người được lập trình để đoàn kết; và đây là điều khiến cho bạo lực trở nên khó thực hiện.”[18]
❀ ❀ ❀
[1] Về trận Makin, xem Anthony King, The Combat Soldier. Infantry Tactics and Cohesion in the Twentieth and Twenty-First Centuries (Oxford, 2013), tr. 46-8.
[2] Bill Davidson, “Why Half Our Combat Soldiers Fail to Shoot’’, Collier’s Weekly (ngày 8 tháng 11 năm 1952).
[3] Trích trong King, The Combat Soldier, tr. 48.
[4] S. L. A. Marshall, Men Against Fire. The Problem of Battle Command (Oklahoma, 2000), tr. 79.
[5] Như trên, tr. 78.
[6] Trích trong John Douglas Marshall, Reconciliation Road: A Family Odyssey (Washington DC, 2000), tr. 190.
[7] Như trên
[8] David Lee, Up Close and Personal: The Reality of Close-Quarter Fighting in World War II (London, 2006), tr. 19.
[9] Max Hastings, “Their Wehrmacht Was Better Than Our Army”, Washington Post (ngày 5 tháng 5 năm 1985).
[10] Richard Holmes, Acts of War. Behaviour of Men in Battle (London, 1985), tr. 376.
[11] Dave Grossman, On Killing. The Psychological Cost of Learning to Kill in War and Society (New York, 2009), tr. 31.
[12] R. A. Gabriel, No More Heroes. Madness and Psychiatry in War (New York, 1987), tr. 31.
[13] Major T. T. S. Laidley, “Breech-loading Musket”, in The United States Service Magazine (tháng 1 năm 1865), tr. 69.
[14] Grossman, On Killing, tr. 23-6.
[15] Như trên, tr. 23.
[16] George Orwell, Homage to Catalonia (London, 2000), tr. 39. Xuất bân lần đầu năm 1938.
[17] Randall Collins, Violence. A Micro-sociological Theory (Princeton, 2008), tr. 53.
[18] Như trên, tr. 11.