Nhân Loại - Một Lịch Sử Tràn Đầy Hi Vọng

Lượt đọc: 1114 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
03

❊ ❊ ❊

Trong những năm qua, mỗi khi nói với mọi người về chủ đề cuốn sách mà tôi đang viết này, tôi lại thấy cặp lông mày của họ nhíu lại. Đó là dấu hiệu cho thấy sự không tin tưởng. Một nhà xuất bản tại Đức đã thẳng thừng từ chối xuất bản cuốn sách này. Tổng biên tập của nhà xuất bản đó đã nói rằng bà không tin “nhân chi sơ, tính bản thiện”. Một thành viên trong giới trí thức tại Paris từng quả quyết với tôi rằng người Pháp cần đến bàn tay cứng rắn của chính phủ. Và khi tôi đến Hoa Kỳ sau cuộc bầu cử tổng thống diễn ra vào năm 2016, bất kì ai tại bất kì nơi nào tôi gặp đều hỏi rằng có phải đầu óc tôi đang có vấn đề không.

Phần lớn mọi người đều tử tế ư? Đã bao giờ tôi xem tivi chưa?

Cách đây không lâu, một nghiên cứu do hai nhà tâm lý học của Mỹ thực hiện, đã chứng minh rằng con người bướng bỉnh và cố chấp ra sao khi một mực khăng khăng tin rằng: bản chất con người là ích kỉ. Hai nhà nghiên cứu đã để các đối tượng thí nghiệm xem một vài tình huống về những điều tử tế mà con người đã làm cho nhau. Vậy sau đó những người này đã thấy gì? Về cơ bản, chúng ta được giáo dục để nhìn thấy sự ích kỉ ở khắp mọi nơi.

Họ có thấy ai đó giúp một người già qua đường không?

Họ có thấy nhưng lại cho rằng đó là một màn kịch được dàn dựng.

Họ có thấy ai đó hỗ trợ tiền cho một người vô gia cư không?

Hẳn là người cho tiền chỉ muốn cho mọi người thấy rằng mình cũng tử tế.

Thậm chí, ngay cả khi hai nhà nghiên cứu cho các đối tượng của họ xem dữ liệu cụ thể về những hành động tốt như: người lạ trả lại ví mà họ nhặt được, hay sự thật rằng đại đa số mọi người không dối trá hoặc trộm cắp. Tuy nhiên, kết quả là các đối tượng vẫn không chịu nhìn nhận rằng: bản chất con người vốn rất tốt đẹp. Hai nhà tâm lý đã viết: “Các đối tượng vẫn quả quyết rằng những lối hành xử có vẻ vị tha và đầy tính người ấy, cuối cùng, chắc chắn vẫn chỉ là sự ích kỉ mà thôi.”[1]

Hoài nghi là căn nguyên gây ra mọi chuyện. Người hoài nghi luôn đúng.

Khi đọc đến đây, có thể bạn sẽ nghĩ: có điều gì đó không đúng, chưa bao giờ tôi được giáo dục để có cách nhìn tiêu cực như thế. Ở nơi tôi sống, mọi người rất tin tưởng, giúp đỡ nhau, thậm chí chẳng nhà nào phải khóa cửa. Bạn đã đúng, rất dễ để nhìn nhận rằng những người sống quanh chúng ta – những người trong gia đình, bạn bè, hàng xóm và đồng nghiệp của chúng ta – họ đều tử tế.

Nhưng khi chúng ta vượt ra khỏi phạm vi khu vực mình sống và nhìn ở góc rộng hơn, thì những hoài nghi về sự tử tế của con người sẽ nhanh chóng xâm chiếm chúng ta. Hãy xem lại cuộc Khảo sát Giá trị Thế giới[2], một cuộc khảo sát lớn tiến hành từ những năm 1980 bởi một nhóm các nhà khoa học tại gần 100 quốc gia trên thế giới. Trong bảng khảo sát có một câu hỏi: “Bạn cho rằng mình có thể tin tưởng được hầu hết mọi người, kể cả người lạ hay bạn cần thận trọng khi tiếp xúc với những người lạ?”

Những câu trả lời này đáng để chúng ta phải suy ngẫm. Phần lớn mọi người tại các quốc gia đều nghĩ rằng, đa số mọi người đều không đáng tin. Thậm chí, ở những nền dân chủ đã hình thành từ lâu như: Pháp, Đức, Anh và Hoa Kỳ, đa số dân chúng đều có chung quan điểm đó.[3]

Một câu hỏi khiến tôi luôn cảm thấy thú vị đó là: tại sao chúng ta lại có quan điểm tiêu cực về con người, trong khi theo bản năng, chúng ta tin tưởng những người trong các cộng đồng gần gũi của mình như làng xóm, họ hàng. Vậy tại sao niềm tin đó lại thay đổi khi áp dụng với tất cả mọi người? Tại sao có rất nhiều điều luật và quy định, nhiều công ty và thiết chế xã hội lại bắt đầu với giả định rằng không thể tin tưởng được mọi người? Tại sao khoa học đã chứng minh cho chúng ta thấy rằng mọi người đang sống trên Hành tinh A, nhưng chúng ta cứ khăng khăng tin mình đang sống trên Hành tinh B?

Phải chăng là do thiếu giáo dục? Không thể khẳng định điều đó bởi vì trong cuốn sách này, tôi sẽ giới thiệu rất nhiều nhà trí thức một mực tin và khẳng định rằng loài người là giống loài vô đạo đức. Vậy nguyên nhân là do niềm tin hoặc do thể chế chính trị ư? Không. Một số tôn giáo xây dựng đức tin trên nền tảng giáo lý: con người luôn tội lỗi. Giới tư bản thì cho rằng bất kể là ai thì cũng đều có động cơ tư lợi. Hay rất nhiều nhà khoa học tự nhiên đã xem con người là một bệnh dịch hủy diệt trái đất. Tuy có hàng nghìn quan điểm về vấn đề bản tính con người nhưng bản chất con người thì chỉ có một.

Điều khiến tôi băn khoăn là: Tại sao chúng ta lại hình dung con người thật xấu xa? Điều gì khiến chúng ta tin rằng bản chất của chính mình là tồi tệ?

Hãy thử hình dung có một loại ma túy mới xuất hiện trên thị trường. Nó rất dễ gây nghiện và hầu như tất cả mọi người đều dính phải nó. Các nhà khoa học nhanh chóng điều tra và chẳng mấy mà họ đã đưa ra kết luận rằng thứ ma túy ấy gây ra những cảm giác: “nhận thức sai về rủi ro, lo lắng, tâm trạng trì trệ, trông chờ, khinh thường cũng như thù địch với người khác và đương nhiên là phê nữa.”[4]

Bạn có sử dụng thứ ma túy này không? Con cái bạn có thử nó không? Chính phủ có hợp thức hóa nó không? Câu trả lời cho tất cả câu hỏi trên là: Có. Bởi thứ ma túy tôi đang nói đến là một trong những thứ ma túy phổ biến nhất, lan truyền nhanh nhất trong thời đại chúng ta. Thứ ma túy đó chúng ta vẫn dùng hằng ngày, không những vậy nó còn được đảm bảo và phân phối cho con cái chúng ta trên quy mô toàn cầu.

Thứ ma túy đó chính là tin tức.

Tôi được dạy để tin rằng tin tức là yếu tố rất tốt và cần thiết cho sự phát triển của con người. Là một công dân, bạn có nghĩa vụ phải đọc báo và xem thời sự. Chúng ta càng biết nhiều tin tức, chúng ta càng hiểu biết và nền dân chủ của chúng ta càng trở nên tốt đẹp hơn. Đây là điều mà nhiều phụ huynh nói với con cái họ, tuy nhiên các nhà khoa học lại đưa ra kết luận trái ngược hoàn toàn. Kết quả mà hàng chục nghiên cứu đã chỉ ra là: tin tức chính là một mối hiểm họa ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của con người.[5]

Người đầu tiên tiến hành những nghiên cứu trong lĩnh vực này, từ những năm 1990, là George Gerbner (1919-2005). Cũng chính ông là người đã tìm ra thuật ngữ hội chứng thế giới trung dung (mean world syndrome) nhằm miêu tả hiện tượng này đi kèm với các triệu chứng lâm sàng như: hoài nghi, yếm thế và bi quan. Những người theo dõi tin tức thường đồng tình với những tuyên bố: “Hầu hết mọi người chỉ quan tâm đến bản thân.” Họ tin rằng chúng ta, với tư cách là mỗi cá nhân đều bất lực trong việc làm cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn. Họ dễ bị căng thẳng và suy nhược hơn.

Một vài năm trước, người dân tại 30 quốc gia khác nhau đều được hỏi chung một câu hỏi: “Bạn nghĩ thế giới đang trở nên tốt đẹp hơn, hay vẫn vậy, hay ngày càng tệ đi?”. Ở mọi quốc gia, từ Nga tới Canada, từ Mexico tôi Hungary, đại đa số mọi người đã trả lời rằng thế giới đang ngày càng tệ đi.[6] Nhưng thực tế lại hoàn toàn ngược lại. Trong những thập kỉ gần đây, nghèo đói, chiến tranh, tử vong ở trẻ em, tội phạm, lao động trẻ em, tử vong do thiên tai và số vụ tai nạn máy bay đều giảm mạnh. Hiện tại chúng ta đang sống trong kỉ nguyên giàu có nhất, an toàn nhất và lành mạnh nhất từ trước đến nay.

Vậy tại sao chúng ta không nhận ra điều này? Rất đơn giản, bởi với con người ngày nay tin tức càng độc lạ, sự kiện càng khác thường, giật gân – một vụ tấn công khủng bố, nổi dậy bạo lực, hay thiên tai – thì càng có sức hấp dẫn mạnh mẽ. Bạn sẽ không bao giờ thấy bài báo nào có tiêu đề như Kể từ hôm qua, số người phải sống trong cảnh đói nghèo đã giảm đi 137.000 người, mặc dù số liệu này được báo cáo rất chính xác và chi tiết hằng ngày trong suốt 25 năm qua.[7] Bạn cũng không bao giờ thấy một bản tin truyền hình trực tiếp có phóng viên đứng ở hiện trường và nói: “Nơi tôi đang đứng không hề có bất kì dấu hiệu nào cho thấy chiến tranh sắp nổ ra cả.”

Một vài năm trước, một nhóm các nhà xã hội học người Hà Lan đã tiến hành phân tích cách các vụ tai nạn máy bay được đưa tin trên truyền thông. Trong khoảng những năm 1991-2005, họ nhận thấy một tỉ lệ nghịch là: số vụ tai nạn máy bay liên tục giảm, nhưng sự chú ý của giới truyền thông về các vụ tai nạn máy bay lại tăng lên rất nhiều. Và thật lạ lùng, mọi người ngày càng sợ phải bay trên những chiếc máy bay ngày càng an toàn.[8]

Trong một nghiên cứu khác do nhóm nghiên cứu truyền thông thực hiện khi họ biên soạn cơ sở dữ liệu về hơn bốn triệu đầu mục tin tức: di trú, tội phạm và khủng bố để xem liệu có mô thức chung nào trong những vấn đề này không. Điều mà họ phát hiện là trong những thời điểm di trú hoặc bạo lực giảm đi, báo chí lại đưa tin nhiều hơn về nó. “Vì vậy,” họ kết luận, “dường như chẳng hề có quan hệ hay thậm chí là cả mối quan hệ tiêu cực giữa tin tức và thực tiễn.”[9]

Dĩ nhiên, khi nhắc đến cụm từ “tin tức” tôi không có ý nói đến toàn bộ nền báo chí hiện nay, bởi có rất nhiều bài báo giúp chúng ta hiểu hơn về thế giới. Nhưng tin tức – thông tin về các sự kiện bất ngờ và giật gân – ngày càng trở nên phổ biến và được nhiều người đón đọc hơn. Tại các nước phương Tây, cứ mười người trưởng thành thì có đến tám người “tiêu thụ” tin tức hằng ngày. Trung bình mỗi ngày chúng ta thường dành ra một giờ để đọc tin tức. Nếu gộp lại, cả đời một người sẽ dành ra khoảng ba năm chỉ để đọc tin.[10]

Tại sao con người lại dễ bị tin tức làm ảnh hưởng và đe dọa? Có hai lý do. Lý do thứ nhất là thiên kiến tiêu cực (negativity bias) – theo thuật ngữ của ngành tâm lý học – chúng ta hướng đến điều Xấu nhiều hơn là điều Tốt. Quay lại thời săn bắt và hái lượm, nỗi sợ rắn hay nhện mang lại điều tốt gấp trăm lần hiện tại. Việc sợ quá nhiều sẽ không giết chết bạn; nhưng sợ quá ít thì chắc chắn là có đấy. Lý do thứ hai là, chúng ta cũng bị đè nặng bởi thiên kiến sẵn có (availability bias). Nếu chúng ta thường xuyên thấy điều gì đó, chúng ta liền giả định rằng nó khá phổ biến quanh chúng ta. Thực tế, hằng ngày chúng ta tiếp nhận một lượng thông tin lớn về các vụ: tai nạn máy bay, thảm họa, những vụ bắt cóc trẻ em và những vụ chặt đầu – các vụ việc này có xu hướng lưu lại trong trí nhớ rất lâu – và điều đó khiến thế giới quan của chúng ta trở nên méo mó, tiêu cực. Như chuyên gia thống kê người Lebanon, Nassim Nicholas Taleb, lạnh lùng nói: “Lý trí của chúng ta không đủ mạnh để miễn nhiễm trước những điều tiêu cực mà báo chí viết ra.”[11]

Trong kỉ nguyên số, tin tức mà chúng ta tiếp nhận ngày càng trở nên cực đoan hơn. Trước đây, các nhà báo không biết nhiều về cá nhân từng độc giả, vậy nên họ viết cho đại chúng. Nhưng hiện tại, những ông trùm đằng sau Facebook, Twitter và Google lại biết rất rõ từng người một. Họ biết thông tin nào khiến bạn sốc, kính hãi, thông tin nào khiến bạn phải nhấp chuột. Họ biết cách thu hút sự chú ý của bạn và duy trì nó, bằng cách đó họ biết nên phục vụ bạn “món ăn” nào sẽ sinh lợi cho họ – những quảng cáo được cá nhân hóa.

Những vũ điệu truyền thông cuồng loạn này không khác gì cuộc tấn công trực diện, một cái bạt tai nhắm thẳng vào thế giới trần tục. Phải thành thật nhìn nhận là đời sống cũng như hành động của hầu hết mọi người đã trở nên dễ đoán hơn. Điều này có vẻ tạo ra cảm giác dễ chịu thật đấy nhưng cũng không kém phần tẻ nhạt. Cho nên trong khi chúng ta thích có những người hàng xóm dễ chịu với cuộc sống tẻ nhạt (và may là hầu hết hàng xóm đều thích hợp), nhưng “tẻ nhạt” lại không khiến bạn phải giật mình hay thu hút sự chú ý của bạn. “Dễ chịu” thì nhà sản xuất các chương trình lại không bán được quảng cáo. Và vì thế Thung lũng Silicon tiếp tục cung cấp cho chúng ta tiêu đề nhử[12] giật gân hơn bao giờ hết, biết rất rõ, như một tiểu thuyết gia Thụy Sĩ từng châm biếm: “Tin tức tác động đến trí óc giống như đường với cơ thể.”[13]

Từ vài năm trước, tôi quyết tâm không xem tin tức hoặc lướt điện thoại trong lúc ăn sáng nữa. Và thay vì lướt mạng xã hội hay đọc báo, tôi sẽ đọc một cuốn sách về lịch sử, tâm lý học hoặc triết học.

Tuy nhiên, tôi cũng nhanh chóng nhận ra một điều vô cùng đơn giản. Hầu hết nội dung các cuốn sách cũng là viết về những điều khác thường. Những cuốn sách về lịch sử nằm trong danh sách bán chạy nhất luôn nói về các thảm họa và nghịch cảnh, quyền hành và áp bức. Về chiến tranh, chiến tranh, và… chiến tranh. Và nếu một thời kì nào đó không có chiến tranh, thì các sử gia sẽ gọi đó là thời kì chiến nhàn (interbellum) – giai đoạn giữa các cuộc chiến.

Trong các ngành khoa học, quan điểm luôn chiếm thế thượng phong đó là: loài người luồn luôn xấu xa. Hãy thử tìm đọc một vài cuốn sách tiêu biểu về bản chất con người, bạn sẽ thấy những tiêu đề như Demonic Males (tạm dịch: Quỷ dữ), The Selfish Gene[14] và The Murderer Next Door (tạm dịch: Sát nhân nhà hàng xóm). Từ lâu, các nhà sinh vật học đã thừa nhận lý thuyết tiến hóa theo cách u ám nhất. Lý thuyết này cho rằng, cho dù một loài động vật có vẻ làm một điều gì đó tốt đẹp, nhưng cuối cùng vẫn bị coi là ích kỉ. Tình cảm gia đình ư? Sẽ bị coi là gia đình trị! Con khỉ chia sẻ một quả chuối? Sẽ bị coi là để cho kẻ khác lợi dụng, ăn bám![15] Một nhà sinh vật học người Mỹ từng mỉa mai: “Những hành động thể hiện tính hợp tác lại bị coi là sự pha trộn của chủ nghĩa cơ hội và bóc lột… Hãy xé toạc lớp vỏ “người vị tha” và bạn sẽ nhìn thấy dòng máu “đạo đức giả” đang chảy trong họ”.[16]

Trong lĩnh vực kinh tế học, cái nhìn về con người cũng không sáng sủa hơn là mấy. Các nhà kinh tế định nghĩa chúng ta là con người kinh tế (homo economicus) nghĩa là luôn cố gắng vì lợi ích riêng của mình chẳng khác gì những người máy ích kỉ, đầy toan tính. Dựa trên quan niệm về bản chất con người này, các nhà kinh tế đã xây lên một thánh đường lý thuyết chắc chắn và đúc kết lại thành hàng chồng giấy tờ dày cộp chỉ để ghi các điều luật quy định.

Tuy nhiên, thực tế lại cho thấy chưa một ai từng nghiên cứu xem liệu con người kinh tế có thực sự tồn tại hay không. Mãi cho tới năm 2000, nhà kinh tế học Joseph Henrich và nhóm của ông mới bắt đầu nghiên cứu về vấn đề này. Họ đã thăm 15 cộng đồng tại 12 quốc gia trên năm châu lục. Đối tượng nghiên cứu mà họ chọn bao gồm: nông dân, dân du mục và những người săn bắt hái lượm, nhằm tìm kiếm điều mà chúng ta gọi là họ người (hominid) đã dẫn dắt lý thuyết kinh tế trong hàng thập kỉ. Tuy nhiên nghiên cứu này đã không đạt được kết quả như mong muốn. Sau mỗi lần như vậy, những điều thu thập được đều chỉ ra rằng con người vốn rất tử tế, rất tốt bụng.[17]

Sau khi công bố phát hiện có tầm ảnh hưởng này, Henrich tiếp tục tìm kiếm sinh vật huyền thoại mà rất nhiều nhà kinh tế học dựa vào để phát triển các lý thuyết của mình. Cuối cùng ông ấy đã tìm thấy: con người kinh tế bằng xương bằng thịt. Mặc dù người (homo) chưa phải là từ chính xác để chỉ về giống loài này. Ông nhận ra, hóa ra con người kinh tế không phải là con người, mà là loài tinh tinh. Henrich đã ghi lại rằng: “Các dự đoán thường thấy về mô hình con người kinh tế đã đạt được thành công trong việc dự đoán hành vi của tinh tinh trong những thí nghiệm đơn giản. Cho nên, toàn bộ lý thuyết về con người kinh tế không hề trở nên vô ích mà chỉ là đã áp dụng nhầm giống loài mà thôi.”[18]

Tệ hơn nữa là, quan điểm mập mờ về bản chất con người đã tạo ra một hiệu ứng phản dược suốt nhiều thập kỉ. Những năm 1990, giáo sư kinh tế học Robert Frank đã rất băn khoăn rằng: không biết việc nhìn nhận loài người cơ bản là ích kỉ sẽ gây ra tác động như thế nào đến sinh viên của mình. Ông giao cho sinh viên một loạt bài tập được thiết kế nhằm đo lường tính cách quảng đại và bao dung của họ. Vậy kết quả thu được từ bài tập này là gì? Đó là càng nghiên cứu kinh tế học lâu thì sinh viên của ông càng trở nên ích kỉ. Chính Frank đã đưa ra kết luận: “Chúng ta trở thành những gì mà chúng ta dạy.”[19]

Học thuyết bản chất con người vốn là ích kỉ đã bén rễ sâu vào suy nghĩ cũng như tư duy của người phương Tây. Những nhà tư tưởng lớn như: Thucydides, Augustine, Machiavelli, Hobbes, Luther, Calvin, Burke, Bentham, Nietzsche, Freud và các nhà lập quốc Hoa Kỳ đều có những luận điểm riêng cho lý thuyết về văn minh. Tuy nhiên, tất cả họ đều cho rằng loài người đang sống trên Hành tinh B.

Quan điểm yếm thế này vốn đã được lưu truyền từ thời Hy Lạp cổ đại. Chúng ta đọc được về nó ở những trước tác của một trong những sử gia đầu tiên, Thucydides, khi ông mô tả một cuộc nội chiến nổ ra trên đảo Corcyra của Hy Lạp năm 427 trước Công nguyên. Ông viết: “Với những quy ước thông thường của một cuộc sống văn minh bị rối loạn, thì con người với bản chất sẵn sàng phạm lỗi ngay cả ở nơi có luật pháp, sẽ kiêu hãnh phô bày bản chất đích thực của mình.”[20] Có nghĩa là, cách con người hành xử chẳng khác gì những con thú.

Một nhãn quan tiêu cực được truyền bá trong Kitô giáo ngay từ những ngày đầu đó là: con người sinh ra đã mắc tội (hay còn gọi là tội nguyên tổ). Giáo lý này được rất nhiều vị thánh nổi tiếng rao giảng, chẳng hạn như Thánh Augustine (354-430), trong một tác phẩm của mình ông đã viết: “Không ai hoàn toàn sạch tội cả, cho dù là một đứa trẻ mới sinh.”[21]

Quan niệm về tội nguyên tổ vẫn phổ biến suốt thời cải cách tôn giáo, khi những người Tin Lành tách khỏi Giáo hội Công giáo La Mã. Theo nhà cải cách và nhà thần học John Calvin thì “bản chất của con người không chỉ thiếu và ít điều tốt, mà còn phong phú và sẵn có mọi điều xấu xa đến mức chúng không thể ở yên một chỗ”. Niềm tin này được lưu truyền trong những bản văn Tin Lành chính yếu như Giáo lý vấn đáp Heidelberg (1563), trong đó có viết rằng con người: “hoàn toàn không thể làm bất kì điều gì tử tế và có thiên hướng làm mọi điều xấu xa”.

Thật lạ là, không chỉ có Kitô giáo truyền thống, mà suốt cả thời kì Khai sáng, thời kì vốn đặt lý trí lên đức tin, cũng xuất phát từ quan điểm tiêu cực về bản chất con người. Các tín hữu Chính Thống giáo được thuyết phục rằng giống loài chúng ta cơ bản là trụy lạc và điều tử tế nhất chúng ta có thể làm là thoa một lớp dầu bóng bẩy lên lòng mộ đạo. Các triết gia thời kì Khai sáng cũng cho rằng loài người trụy lạc, nên đã “kê đơn” một mớ giá trị đạo đức nhằm cố gắng che đi sự thối nát sẵn có ở mỗi người.

Tính liên tục và xuyên suốt trong tư duy phương Tây về quan niệm và bản chất con người khiến chúng ta phải kinh ngạc. Niccolò Machiavelli, cha đẻ môn khoa học chính trị đã kết luận: “Có thể nói đặc điểm chung của mọi con người là: vô ơn, hay thay đổi, đạo đức giả.” John Adams, nhà sáng lập nền dân chủ Mỹ cũng tán đồng với ý kiến đó, ông viết: “Mọi người đều trở thành những tên bạo chúa nếu họ có cơ hội.” Còn Sigmund Freud, cha đẻ của tâm lý học hiện đại thì nói: “Chúng ta là hậu duệ của vô số những thế hệ sát nhân.”

Vào thế kỉ 19, sau khi Charles Darwin đã công bố thuyết tiến hóa của mình, nó nhanh chóng được giới khoa học đem ra bàn luận và mổ xẻ. Nhà khoa học uy tín Thomas Henry Huxley cũng rao giảng rằng cuộc sống là một trận chiến vĩ đại “con người chống lại con người, dân tộc chống lại dân tộc”.[22] Triết gia Herbert Spencer đã bán được cả trăm nghìn cuốn sách về điều mà ông khẳng định rằng, chúng ta cần phải thêm dầu vào lửa trong trận chiến này, vì “toàn bộ nỗ lực của mẹ thiên nhiên là loại bỏ những gì kém cỏi để thế giới không còn những thứ ấy, và nhường chỗ cho những điều tốt đẹp hơn”.[23]

Điều đáng nói là những nhà tư tưởng này gần như được chúng khẩu đồng từ ca tụng như “những nhà hiện thực chủ nghĩa”, trong khi các nhà tư tưởng bất đồng chính kiến với lòng tin vào sự lương thiện của con người lại bị đem ra giễu cợt, bị coi là một trò đùa.[24] Emma Goldman, một nhà nữ quyền dành cả đời để đấu tranh cho tự do và bình đẳng đã bị phỉ báng và khinh miệt đến độ bà đã phải thốt lên: “Tội nghiệp thay bản chất con người, bao tội ác rùng rợn đã được thực hiện nhân danh người!… Gã lang băm mắc bệnh tâm thần càng nặng, thì thái độ kiên định của gã về sự xấu xa cũng như những khiếm khuyết của bản chất con người càng hiển hiện rõ.”[25]

Cho đến gần đây, các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau mới cùng đi đến thống nhất rằng: quan điểm nghiệt ngã của chúng ta về nhân tính con người là bởi những thay đổi triệt để mà chúng ta đã thực hiện. Nhận thức này vẫn còn mới mẻ đến độ nhiều người trong số họ không nhận ra mình có đồng sự. Khi tôi có dịp trò chuyện với một nhà tâm lý học xuất chúng về khuynh hướng mới của ngành sinh học, bà đã phải thốt lên rằng: “Ôi Chúa ơi, vậy là nó cũng đang diễn ra ở lĩnh vực đó à?”[26]

❀ ❀ ❀

[1] Clayton R. Critcher và David Dunning, “No Good Deed Goes Unquestioned: Cynical Reconstruals Maintain Belief in the Power of Self-interest”, tạp chí Experimental Social Psychology (số 6, 2011), tr. 1212.

[2] Khảo sát Giá trị Thế giới (WVS] là một dự án nghiên cứu toàn cầu khám phá giá trị và niềm tin của mọi người, cách họ thay đổi theo thời gian cũng như tác động xã hội và chính trị mà họ có. Kế từ năm 1981, mạng lưới các nhà khoa học xã hội trên toàn thế giới đã tiến hành khảo sát quốc gia đại diện như một phần của WVS ở gàn 100 quốc gia.

[3] Sören Holmberg và Bo Rothstein, “Trusting other people”, Public Affairs (30 tháng 12 năm 2016).

[4] Jodie Jackson, “Publishing the Positive. Exploring the Motivations for and the Consequences of Reading Solutions-focusedjournalism”, constructivejournalism.org (mùa thu 2016).

[5] Wendy M. Johnston và Graham C. L. Davey, “The psychological impact of negative TV news bulletins: The catastrophizing of personal worries”, tạp chí British Psychology (ngày 13 tháng 4 năm 2011).

[6] Hans Rosling, Factfulness (London, 2018), tr. 50.

[7] Chris Weller, “A top economist just put the fight against poverty in stunning perspective”, Business Insider (ngày 17 tháng 10 năm 2017).

[8] Toni van der Meer et al., “Mediatization and the Disproportionate Attention to Negative News. The case of airplane crashes”, Journalism Studies (ngày 16 tháng 1 năm 2018).

[9] Laura Jacobs (biên tập), “Back to Reality: The Complex Relationship Between Patterns in Immigration News Coverage and Real-World Developments in Dutch and Flemish Newspapers (1999-2015)”, Mass Communication and Society (ngày 20 tháng 3 năm 2018).

[10] Nic Newman (biên tập), Reuters Institute Digital News Report. Tracking the Future of News (2012). Xem thêm Rob Wijnberg, ‘The problem with real news – and what we can do about it’, Medium.com (ngày 12 tháng 9 năm 2018).

[11] Michael Bond, “How to keep your head in scary situations”, New Scientist (ngày 27 tháng 8 năm 2008).

[12] Nguyên văn “clickbait”, hay còn gọi là mồi câu nhấp chuột. Đây là một đường liên kết với tiêu đề hấp dẫn, lôi cuốn khiến mọi người tò mò và nhấp chuột vào.

[13] Rolf Dobelli, “Avoid News. Towards a Healthy News Diet”, dobelli.com (tháng 8 năm 2010).

[14] Cuốn sách được phát hành ở Việt Nam với tựa đề Gen vị kỉ.

[15] Frans de Waal, The Bonobo and the Atheist, tr. 38-9.

[16] Michael Ghiselin, The Economy of Nature and the Evolution of Sex (Berkeley, 1974), tr. 247.

[17] Joseph Henrich chủ biên, “In Search of Homo Economicus: Behavioral Experiments in 15 Small-Scale Societies”, tạp chí American Economic Review (số 2,2001).

[18] David Sloan Wilson và Joseph Henrich, “Scientists Discover what Economists Haven’t Found: Humans”, Evonomics.com (ngày 12 tháng 7 năm 2016).

[19] David Sloan Wilson, “Charles Darwin as the Father of Economics: A Conversation with Robert Frank”, The Evolution Institute (ngày 10 tháng 9 năm 2015).

[20] Thucydides, History of the Peloponnesian War, Rex Warner dịch (1972), tr. 242-5.

[21] Saint Augustine, The Confessions of Saint Augustine, Maria Boulding dịch (2012), tr. 12?

[22] Thomas Henry Huxley, The Struggle for Existence in Human Society (xuất bản lần đầu năm 1888).

[23] Herbert Spencer, Social Statistics, Chương XVIII, đoạn 4 (1851).

[24] “Tôi không tin rằng xu hướng bản chất con người luôn hướng xuống,” Mahatma Gandhi, lãnh tụ huyền thoại của phong trào giành độc lập của An Độ, người mà Churchill xem như một “thầy tu khổ hạnh cởi trần”. “Cái thiện của con người là ngọn lửa có thể được giấu kín nhưng không bao giờ dập tắt,” trích lời Nelson Mandela phát biểu.

[25] Emma Goldman, Anarchism and Other Essays (Stillwell, 2008), tr. 29. Xuất bản lần đâu năm 1910.

[26] Đây là Marie Lindegaard, nhân vật mà chúng ta sẽ gặp trong Chương 9.

Nguyên tác Humankind: A Hopeful History - Người dịch Nguyễn Xuân Hồng
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.