Nhân Loại - Một Lịch Sử Tràn Đầy Hi Vọng

Lượt đọc: 1172 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
02

❊ ❊ ❊

Lần đầu tiên đọc về vụ Kitty Genovese, tôi mới là một sinh viên. Như hàng triệu người, tôi ngấu nghiến cuốn sách đầu tay The Tipping Point của nhà báo Malcolm Gladwell, ở trang 27 của cuốn sách đó tôi đọc được thông tin về 38 nhân chứng.[1]

Câu chuyện đó khiến tôi bị ám ảnh giống như những câu chuyện về máy sốc điện của Milgram và nhà tù của Zimbardo. “Tôi vẫn nhận được thư về vụ này,” Rosenthal nói nhiều năm sau. “Người ta bị ám ảnh bởi câu chuyện này. Nó giống như một món trang sức – bạn cứ nhìn nó, và nhiều cảm xúc khác ùa về trong bạn như dòng thác lũ.”[2]

Thứ Sáu ngày 13 định mệnh đó trở thành chủ đề của nhiều vở kịch và ca khúc. Nhiều chương trình truyền hình như Seinfeld, Girls và Law and Order đã dành nhiều tập phim để nói về vụ án này. Trong một bài diễn văn vào năm 1994 tại Kew Gardens, Tổng thống Bill Clinton nhắc lại “thông điệp rùng rợn” về vụ sát hại Kitty, thậm chí Thứ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ là Paul Wolfowitz còn dùng nó như một lý lẽ bào chữa gián tiếp cho vụ xâm lược Iraq vào năm 2003. (Ông ấy cáo buộc rằng những người Mỹ phản đối cuộc chiến tranh này cũng thờ ơ như 38 nhân chứng kia.)[3]

Tôi nhận thấy bài học đạo đức của câu chuyện trên đã được thể hiện một cách rất rõ ràng. Tại sao lại không có bất kì ai tới giúp đỡ Kitty Genovese? Ôi chao, bởi vì mọi người nhẫn tâm và dửng dưng. Thông điệp này lập tức nhận được sự đồng tình khi Kitty Genovese trở thành cái tên được nhắc đến ở mọi nơi – đó cũng chính là thời điểm mà Chúa Ruồi trở thành cuốn sách bán chạy, Adolf Eichmann ra hầu tòa, Stanley Milgram gây chấn động khắp thế giới và Philip Zimbardo bắt đầu sự nghiệp.

Nhưng khi bắt đầu đọc các tài liệu để nghiên cứu về bối cảnh xung quanh cái chết của Kitty, lại một lần nữa, tôi đọc được một câu chuyện hoàn toàn khác.

Bibb Latané và John Darley là hai nhà tâm lý học khá trẻ khi đó. Họ nghiên cứu những hành động của người ngoài cuộc trong các tình huống khẩn cấp và nhận thấy một điều khác thường. Không lâu sau vụ sát hại Kitty, họ quyết định thực hiện một thí nghiệm. Đối tượng trong thí nghiệm lần này của họ là sinh viên đại học. Không mảy may nghi ngờ, những người tham gia nghiên cứu được đề nghị ngồi một mình trong phòng kín và nói về đời sống đại học với một vài sinh viên khác qua hệ thống điện thoại nội bộ.

Ngoại trừ việc không hề có sinh viên nào khác: thay vào đó, các nhà nghiên cứu bật băng ghi âm sẵn. Đến thời điểm thích hợp, một giọng nói đã vang lên: “Tôi thật sự cần giúp đỡ, có ai không, xin hãy giúp tôi [âm thanh tắc nghẹn]… tôi sắp chết…”[4]

Và điều gì sẽ xảy ra tiếp theo? Khi một chủ thể thử nghiệm nghĩ rằng chỉ mình họ nghe thấy những tiếng kêu cứu, thì ngay lập tức họ xông ra hành lang. 100% những người thực hiện thí nghiệm này đều làm vậy, không một ai là không hành động.

Bên cạnh đó, một thí nghiệm khác cũng được tiến hành, giống như thí nghiệm trên, nhưng lần này đối tượng thí nghiệm được dẫn dắt để tin rằng có năm sinh viên khác đang ngồi trong các phòng gần đó và họ cũng nghe thấy những tiếng kêu cứu kia. Kết quả là chỉ 62% những người thực hiện thí nghiệm này hành động trước tiếng kêu cứu.[5] Qua thí nghiệm trên chúng ta có thể nhận ra: hiệu ứng bàng quan[6].

Những phát hiện của Latané và Darley nằm trong số những đóng góp then chốt trong lĩnh vực tâm lý học xã hội. Trong 20 năm tiếp theo, hơn 1.000 cuốn sách cũng như bài báo được xuất bản với đề tài cách hành xử của những người ngoài cuộc trong những tình huống khẩn cấp.[7] Kết quả của những nghiên cứu này cũng giải thích sự thờ ơ của 38 nhân chứng ở Kew Gardens: Kitty Genovese chết không phải vì chẳng thể đánh thức cả khu phố bởi những tiếng thét của mình, mà chính vì cả khu phố đều nghe thấy tiếng hét của cô.

Điều này được minh họa qua lời kể của một cư dân trong tòa nhà sau này với một phóng viên. Lúc đó, chồng của bà định gọi điện báo cảnh sát, nhưng bà liền nói: “Chắc đã có tới 30 cuộc gọi rồi.”[8] Nếu như Kitty bị tấn công trong một ngõ vắng, với chỉ một nhân chứng thì có lẽ cô ấy đã sống sót.

Tất cả những điều này chỉ càng làm cho vụ sát hại Kitty thêm nổi tiếng hơn. Câu chuyện của cô đã được in trong những cuốn sách tâm lý học hàng đầu và tiếp tục được cánh nhà báo cùng giới nghiên cứu nhắc đến như một ví dụ điển hình cho đến tận hôm nay.[9] Nó không khác gì một câu chuyện ngụ ngôn thời hiện đại về sự ẩn danh nguy hiểm của cuộc sống ở những đô thị lớn.

❀ ❀ ❀

[1] Gladwell, The Tipping Point, tr. 27.

[2] Rosenthal nói điều này trong phim tài liệu The Witness (2015), do anh trai Kitty là Bill Genovese thực hiện.

[3] Bill Keller, “The Sunshine Warrior”, New York Times (ngày 22 tháng 9 năm 2002).

[4] John M. Darley và Bibb Latené, “Bystander j Intervention in Emergencies”, tạp chí Personality and Social Psychology, tập 8, số 4 (1968).

[5] Malcolm Gladwell nói 85 và 31 phần trăm trong sách của ông, nhưng bài viết gốc nói rõ rằng đây là tỉ lệ phần trăm số người chạy tới giúp đỡ trước khi tiếng kêu xin giúp đỡ đầu tiên của “nạn nhân” chấm dứt (sau 75 giây). Nhiều người đáp lại sau lúc này nhưng vẫn trong vòng hai phút rưỡi.

[6] Hiệu ứng bàng quan hay Hội chứng Genovese là hiện tượng tâm lý xã hội, hiện tượng này chỉ về một tình huống khẩn cấp mà trong đó những người chứng kiến đã không giúp đỡ nạn nhân.

[7] Maureen Dowd, “20 Years After the Murder of Kitty Genovese, the Question Remains: Why?”, New York Times (ngày 12 tháng 3 năm 1984).

[8] Cook, Kitty Genovese, tr. 161.

[9] Rachel Manning, Mark Levine và Alan Collins, “The Kitty Genovese Murder and the Social Psychology of Helping. The Parable of the 38 Witnesses”, American Psychologist, tập 62, số 6 (2007).

Nguyên tác Humankind: A Hopeful History - Người dịch Nguyễn Xuân Hồng
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.