Song ngài cũng bắt đầu lo sợ rằng một thế lực bên ngoài nào đó có thể phá vỡ niềm hạnh phúc của mình. Chilo có thể báo tin ngài biến mất với quan thái thú thành phố, hoặc với những kẻ nô lệ được trả tự do của hắn ở nhà; và trong trường hợp đó, rất có thể lính gác thành phố sẽ đến lục soát căn nhà. Ngài chợt lóe lên ý nghĩ rằng, quả thực, trong tình huống ấy ngài có thể ra lệnh bắt Lygia và giam cô trong nhà mình, nhưng ngài cảm thấy mình không nên làm thế, và ngài cũng chẳng đủ tàn nhẫn để hành động như vậy. Ngài đủ bạo ngược, ngạo mạn và sa đọa, nếu cần thì cũng vô tình, nhưng ngài không phải là Tigellinus hay Nero. Đời sống binh nghiệp đã để lại trong ngài một chút ý thức về công lý, về tôn giáo, và một lương tâm đủ để hiểu rằng một hành động như vậy sẽ đê hèn đến mức quái đản. Có lẽ ngài đã có thể thực hiện một hành động tàn nhẫn ấy trong cơn thịnh nộ và khi đang sung sức, nhưng vào khoảnh khắc đó, ngài tràn ngập sự dịu dàng và đang lâm bệnh. Vấn đề duy nhất đối với Vinicius lúc bấy giờ là không ai được đứng giữa ngài và Lygia.
Ngài cũng ngạc nhiên nhận ra rằng, kể từ khoảnh khắc Lygia đứng về phía ngài, cả bản thân cô lẫn Crispus đều không hề đòi hỏi ngài bất kỳ lời hứa hẹn nào, cứ như thể họ tin chắc rằng, trong trường hợp cần thiết, một thế lực siêu nhiên nào đó sẽ bảo vệ họ. Vị viện nguyên lão trẻ tuổi, người mà kể từ sau bài giảng của Tông đồ ở Ostrianum đã bắt đầu mơ hồ và lẫn lộn ranh giới giữa những điều có thể và không thể, cũng gần như tin rằng điều đó có thể xảy ra. Nhưng suy xét mọi việc một cách tỉnh táo hơn, ngài nhớ lại những gì mình đã nói về gã người Hy Lạp, và lại yêu cầu đưa Chilo đến gặp mình.
Crispus đồng ý, và họ quyết định sai Ursus đi. Vinicius, những ngày trước đó – trước chuyến viếng thăm Ostrianum – từng thường xuyên phái nô lệ tìm Chilo nhưng đều vô kết, nay chỉ dẫn tường tận chỗ ở của gã cho lực sĩ người Lygia; rồi viết vài chữ lên tấm bảng sáp, ngài quay sang bảo Crispus: “Ta đưa tấm bảng này, bởi vì kẻ này vốn đa nghi và ranh mãnh. Nhiều lần khi ta cho gọi, hắn toàn bảo người nhà đáp rằng hắn không có ở nhà; hắn luôn làm vậy mỗi khi không có tin vui mang về cho ta và sợ ta nổi giận.”
“Nếu tìm thấy hắn, ta sẽ lôi hắn về, dù hắn muốn hay không,” Ursus nói. Đoạn, khoác áo choàng vào, hắn vội vã bước ra ngoài.
Tìm một người ở Roma không phải chuyện dễ dàng, ngay cả khi có chỉ dẫn chính xác nhất; nhưng trong những trường hợp ấy, bản năng thợ săn cùng sự am hiểu tường tận thành phố đã giúp ích cho Ursus. Do đó, sau một khoảng thời gian, hắn đã tìm đến nơi ở của Chilo.
Tuy nhiên, hắn không nhận ra Chilo. Mới trước đó hắn chỉ gặp gã đúng một lần trong đời, hơn nữa lại là vào ban đêm. Vả lại, lão già kiêu ngạo và tự mãn từng xúi giục hắn mưu sát Glaucus nay lại trông khác hẳn gã người Hy Lạp đang gù rạp vì khiếp sợ, đến mức chẳng ai có thể ngờ cả hai là cùng một người. Chilo, nhận thấy Ursus nhìn mình như một kẻ hoàn toàn xa lạ, liền trấn tĩnh lại sau cơn hoảng sợ ban đầu. Nhìn thấy tấm bảng sáp có bút tích của Vinicius, gã càng thêm phần bình tĩnh. Ít ra thì sự nghi ngờ rằng gã bị lừa vào một ổ phục kích có chủ ý cũng không còn làm gã bận tâm nữa. Hơn nữa, gã nghĩ rằng đám tín đồ Cơ Đốc không giết Vinicius, hiển nhiên là vì họ không dám ra tay với một nhân vật có thế lực như vậy.
“Và rồi Vinicius sẽ bảo vệ ta trong lúc hoạn nạn,” gã thầm nghĩ; “dĩ nhiên ngài đâu có sai người đến để nộp mạng ta cho cái chết.”
Vì vậy, lấy lại chút can đảm, gã cất tiếng hỏi: “Bạn hiền ơi, vị quý tộc Vinicius đáng kính của ta không sai người đem kiệu tới sao? Chân ta sưng phù cả rồi, đi bộ xa thế sao nổi.”
“Không có đâu,” Ursus đáp; “chúng ta sẽ đi bộ.”
“Nhưng nếu ta từ chối thì sao?”
“Đừng làm thế, vì ngươi thế nào cũng phải đi.”
“Rồi ta sẽ đi, nhưng là tự nguyện. Chẳng ai ép được ta, bởi ta là người tự do, lại là bạn của quan thái thú thành phố. Là một triết gia, ta cũng có những pháp thuật để khuất phục kẻ khác, và ta biết cách biến con người thành cây cối hay dã thú. Nhưng ta sẽ đi, ta sẽ đi! Ta chỉ mặc thêm chiếc áo choàng hơi ấm và đội mũ trùm đầu thôi, kẻo nô lệ trong khu này nhận ra ta; chúng sẽ níu lấy ta từng khoảnh khắc để hôn tay ta mất.”
Thế là gã mặc chiếc áo choàng mới vào, sụp chiếc mũ trùm đầu rộng vành kiểu xứ Gaul xuống, đề phòng Ursus nhận ra nét mặt khi bước ra nơi có ánh sáng rõ hơn.
“Ngươi định dẫn ta đi đâu thế?” gã hỏi dọc đường.
“Đến vùng Trans-Tiber.”
“Ta mới đến Roma chưa lâu và chưa từng đặt chân đến đó, nhưng chắc hẳn ở đấy cũng có những con người yêu chuộng đức hạnh.”
Nhưng Ursus, vốn là một người phác thực, từng nghe Vinicius kể rằng gã người Hy Lạp đã cùng hắn đến Ostrianum và từng thấy hắn cùng Croton bước vào ngôi nhà nơi Lygia ở, bèn dừng lại một lát rồi bảo: “Đừng nói dối nữa, lão già kia, vì hôm nay chính mắt ngươi đã ở cùng Vinicius tại Ostrianum và dưới cổng nhà chúng ta đấy thôi.”
“À!” Chilo kêu lên, “thế hóa ra nhà các ngươi ở vùng Trans-Tiber à? Ta mới đến Roma chẳng bao lâu, nào có rành tên gọi các khu phố. Đúng thế đấy, bạn hiền ạ; ta đã đứng dưới cổng, và đã nhân danh đức hạnh mà van xin Vinicius đừng bước vào. Ta ở Ostrianum đấy, và ngươi có biết vì sao không? Ta đang nỗ lực cảm hóa Vinicius trong một thời gian, và muốn ngài ấy lắng nghe vị thủ lĩnh của các Tông đồ. Nguyện xin ánh sáng soi rọi tâm hồn ngài ấy và cả ngươi nữa! Nhưng ngươi là một tín đồ Cơ Đốc, hẳn ngươi mong muốn chân lý đánh bại dối gian.”
“Đúng vậy,” Ursus khiêm nhường đáp.
Can đảm hoàn toàn trở1 lại với Chilo.
“Vinicius là một bậc quyền quý,” gã nói, “và là bạn của Xê-da. Ngài ấy đôi khi vẫn lắng nghe những lời thì thầm của ác quỷ; nhưng dẫu chỉ một sợi tóc trên đầu ngài ấy rụng xuống, Xê-da cũng sẽ trừng trị tất cả tín đồ Cơ Đốc.”
“Có một đấng tối cao đang bảo vệ chúng ta.”
“Chắc chắn rồi, chắc chắn rồi! Nhưng các ngươi định làm gì với Vinicius?” Chilo gặng hỏi, nỗi sợ hãi lại dâng lên.
“Ta không rõ. Chúa truyền dạy lòng xót thương.”
“Ngươi trả lời hay lắm. Hãy luôn nhớ lấy điều đó, kẻo ngươi sẽ bị rán trong địa ngục như một dải xúc xích trên chảo mỡ đấy.”
Ursus thở dài, và Chilo thầm nghĩ rằng mình luôn có thể sai khiến gã đàn ông vốn đáng sợ vào khoảnh khắc nổi giận ban đầu ấy theo ý muốn. Thế là, muốn biết chuyện gì đã xảy ra khi bắt cóc Lygia, gã tiếp tục gặng hỏi với giọng điệu của một vị quan tòa nghiêm khắc: “Các ngươi đã đối xử với Croton ra sao? Khai mau, đừng có quanh co lẩn tránh.”
Ursus lại thở dài một tiếng. “Vinicius sẽ tự nói cho ngươi biết.”
“Ý ngươi là ngươi đã đâm hắn bằng dao, hoặc dùng gậy đánh chết hắn chứ gì.”
“Ta không mang vũ khí.”
Gã người Hy Lạp không khỏi kinh ngạc trước sức mạnh siêu phàm của tên man tộc.
“Nguyện xin thần Pluto – à ý ta là, xin Chúa tha thứ cho ngươi!”
Họ đi tiếp một lúc trong im lặng; rồi Chilo cất lời: “Ta sẽ không phản bội ngươi đâu; nhưng hãy cẩn thận tụi lính canh.”
“Ta kính sợ Chúa, chứ không sợ lính canh.”
“Thế mới phải chứ. Chẳng có tội ác nào nặng nề hơn tội giết người. Ta sẽ cầu nguyện cho ngươi; nhưng ta không biết liệu lời cầu nguyện của ta có linh nghiệm hay không, trừ khi ngươi thề không bao giờ dùng một ngón tay chạm vào ai trong suốt cuộc đời.”
“Dù sao thì ta cũng đâu có cố ý giết người,” Ursus đáp.
Nhưng Chilo, kẻ muốn tự bảo vệ mình trong mọi tình huống, vẫn không ngừng lên án tội ác giết người và giục Ursus thề nguyền. Gã cũng dò la về Vinicius; nhưng người Lygia trả lời một cách miễn cưỡng, lặp lại rằng chính từ miệng Vinicius, gã sẽ nghe được những gì mình cần biết. Cứ vừa đi vừa trò chuyện như thế, cuối cùng họ cũng vượt qua quãng đường dài ngăn cách nơi ở của gã người Hy Lạp với vùng Trans-Tiber, và dừng chân trước ngôi nhà. Trái tim Chilo lại bắt đầu đập loạn nhịp đầy bất an. Nỗi sợ hãi khiến gã có cảm giác như Ursus đang nhìn mình bằng một ánh mắt thèm thuồng nào đó.
“Chẳng được an ủi bao nhiêu,” gã tự lẩm bẩm với chính mình, “nếu hắn lỡ tay giết ta. Dù thế nào đi nữa, ta vẫn mong thần linh giáng tai họa liệt bại xuống hắn, và xuống cả lũ người Lygia ấy – xin ngài hãy thực hiện điều đó, hỡi Zeus, nếu ngài có thể.”
Vừa thầm nghĩ thế, gã vừa kéo chặt chiếc áo choàng xứ Gaul quanh mình, miệng lầm bầm rằng mình sợ cái lạnh. Cuối cùng, khi họ đã bước qua cổng và khoảng sân thứ nhất, đi vào hành lang dẫn đến khu vườn của ngôi nhà nhỏ, gã chợt khựng lại và nói: “Hãy cho ta lấy lại hơi sức một chút, kẻo lát nữa ta chẳng thể trò chuyện với Vinicius và đưa ra những lời khuyên cứu rỗi cho ngài ấy.”
Gã dừng lại; bởi dù tự nhủ rằng không có nguy hiểm nào đe dọa, đôi chân gã vẫn run lẩy bẩy khi nghĩ đến việc mình đang ở giữa những con người bí ẩn mà gã từng thấy ở Ostrianum.
Cùng lúc đó, một khúc thánh ca từ ngôi nhà nhỏ vang vọng đến tai họ.
“Âm thanh gì thế?” Chilo hỏi.
“Ngươi tự nhận mình là người Cơ Đốc mà lại không biết rằng ở chỗ chúng ta, phong tục sau mỗi bữa ăn là cất tiếng hát ca ngợi Cứu Chúa sao,” Ursus đáp. “Chắc là Miriam và con trai bà ấy đã về, và có lẽ vị Tông đồ đang ở cùng họ, vì ngài vẫn thăm viếng người góa phụ và Crispus mỗi ngày.”
“Hãy dẫn ta thẳng đến chỗ Vinicius.”
“Vinicius ở chung phòng với mọi người, vì đó là căn phòng lớn duy nhất; những gian khác đều rất nhỏ, chúng ta chỉ vào đó để ngủ. Vào đi, ngươi sẽ được nghỉ ngơi ở trong đó.”
Họ bước vào. Căn phòng khá tối; trời chiều nhiều mây và lạnh giá, ánh lửa từ vài ngọn nến chẳng thể xua tan hoàn toàn bóng tối. Bằng trực giác nhiều hơn là nhận diện, Vinicius đoán ra Chilo qua chiếc áo trùm đầu. Thấy chiếc giường ở góc phòng và Vinicius đang nằm trên đó, Chilo liền tiến thẳng về phía ngài, chẳng thèm nhìn những người khác, như thể đinh ninh rằng ở gần ngài là an toàn nhất.
“Ôi chúa công, sao ngài lại không nghe theo những lời khuyên can của con?” gã kêu lên, hai tay chắp lại.
“Im miệng!” Vinicius nói, “và lắng nghe!”
Đoạn, ngài nhìn xoáy vào mắt Chilo, cất giọng chậm rãi và dằn từng tiếng, như thể muốn gã người Hy Lạp hiểu rõ từng lời ngài như một mệnh lệnh và khắc ghi nó mãi mãi trong tâm trí:
“Croton đã lao vào ta định giết và cướp tài sản, ngươi hiểu chứ? Ta đã giết hắn, và những con người này đã băng bó những vết thương ta phải chịu đựng trong cuộc giằng co đó.”
Chilo hiểu ngay lập tức rằng nếu Vinicius nói vậy thì hẳn là do có sự thỏa thuận nào đó với nhóm tín đồ Cơ Đốc, và trong trường hợp ấy, ngài muốn mọi người tin điều đó. Gã cũng nhận ra điều này qua sắc mặt ngài; thế là, chỉ trong chớp mắt, chẳng hề lộ chút ngờ vực hay kinh ngạc nào, gã ngẩng đầu lên và thán lên: “Đó đúng là một tên côn đồ vô ơn bội nghĩa! Nhưng con đã cảnh báo ngài rồi, thưa chúa công, chớ nên tin tưởng hắn; những lời dạy dỗ của con trôi tuột khỏi đầu hắn chẳng khác nào hạt đậu ném vào vách đá. Trong cả chốn Âm phủ cũng chẳng đủ hình phạt cho hắn! Kẻ không thể sống lương thiện thì ắt phải là phường gian ác; mà còn gì khó hơn việc một kẻ gian ác trở thành lương thiện chứ? Vậy mà hắn dám cả gan ra tay với chính ân nhân của mình, một vị chúa công vô cùng độ lượng – ôi các vị thần!”
Đến đây, gã sực nhớ ra lúc dọc đường mình đã tự nhận với Ursus là người Cơ Đốc, liền vội im bặt.
“Nếu không nhờ thanh dao găm ta mang theo, hắn đã tước đoạt mạng sống của ta rồi,” Vinicius nói.
“Con xin tạ ơn khoảnh khắc con khuyên ngài dắt theo cả dao găm.”
Vinicius ném một cái nhìn dò xét về phía gã người Hy Lạp, rồi hỏi: “Hôm nay ngươi đã làm những gì?”
“Sao cơ? Gì chứ? Chẳng phải con đã thưa với ngài rằng con đã cầu nguyện cho sức khỏe của ngài đó sao, thưa chúa công?”
“Còn gì nữa không?”
“Con đang định sang thăm ng thì người tốt bụng này đến và bảo ngài cho gọi con.”
“Đây là tấm bảng sáp. Ngươi hãy cầm nó đến nhà ta; ngươi sẽ tìm gặp người quản gia được trả tự do của ta và giao nó cho ông ta. Trên bảng có viết rằng ta đã đi Beneventum. Ngươi sẽ tự mình nói với Demas rằng ta đã đi từ sáng nay, do nhận được bức thư gấp của Petronius.” Đến đây, ngài nhấn mạnh từng từ: “Ta đã đi Beneventum, ngươi hiểu chưa?”
“Ngài đã đi rồi, thưa chúa công. Sáng nay con đã tiễn ngài ở cổng Porta Capena, và kể từ lúc ngài khởi hành, nỗi buồn cứ bủa vây lấy con đến độ nếu sự hào phóng của ngài không xoa dịu nó, con sẽ khóc đến chết mất thôi, giống như người vợ bất hạnh của Zethos [Aedon bị hóa thành chim sơn ca] vì thương nhớ Itylos vậy.”
Vinicius, dẫu đang lâm bệnh và đã quen với bản tính lật lọng của gã người Hy Lạp, cũng không khỏi bật cười. Vả lại, ngài rất mừng vì Chilo đã thông minh hiểu ngay ý mình chỉ trong chớp mắt; thế là ngài bảo:
“Vì thế nên ta sẽ viết thư để lau khô những giọt nước mắt của ngươi. Hãy đưa cho ta ngọn nến.” Chilo, giờ đây đã hoàn toàn yên trí, đứng dậy, bước vài bước về phía lò sưởi và cầm lấy một ngọn nến đang cháy trên vách tường. Nhưng khi gã đang làm việc đó, chiếc mũ trùm đầu tuột khỏi đầu gã, và ánh nến chiếu thẳng vào khuôn mặt gã. Glaucus chồm dậy từ chỗ ngồi, bước nhanh đến và đứng ngay trước mặt gã.
“Ngươi không nhận ra ta sao, Cephas?” hắn hỏi. Giọng nói của hắn mang một vẻ gì đó đáng sợ đến mức làm toàn thân những kẻ có mặt phải rùng mình.
Chilo giơ cao ngọn nến, rồi đánh rơi nó xuống đất gần như ngay khoảnh khắc ấy; đoạn gã khom rạp người xuống và bắt đầu rên rỉ: “Tôi không phải là hắn – tôi không phải là hắn! Xin khoan dung!”
Glaucus quay về phía các tín đồ và nói: “Đây chính là kẻ đã phản bội – đã hủy hoại tôi và gia đình tôi!”
Câu chuyện đó đã được tất cả tín đồ Cơ Đốc và cả Vinicius biết rõ – người mà trước đó không nhận ra Glaucus chính là vì ngài cứ liên tục ngất đi vì đau đớn trong lúc vết thương được băng bó nên đã không nghe thấy tên hắn. Nhưng đối với Ursus, khoảnh khắc ngắn ngủi ấy cùng những lời nói của Glaucus chẳng khác nào một tia chớp xé toạc màn đêm. Nhận ra Chilo, hắn đã chồm đến bên gã chỉ với một cú nhảy, túm lấy cánh tay gã và bẻ quặt ra sau, hét lên: “Chính là kẻ này đã xúi ta giết Glaucus!”
“Xin khoan dung!” Chilo rên rỉ. “Tôi sẽ dâng cho các người – ôi chúa công!” gã kêu lên, quay đầu về phía Vinicius, “hãy cứu tôi! Tôi đã tin tưởng ngài, hãy bênh vực tôi. Bức thư của ngài – tôi sẽ mang đến tận nơi. Ôi chúa công, chúa công ơi!”
Nhưng Vinicius, kẻ tỏ ra dửng dưng hơn bất cứ ai trước những gì đang diễn ra – một phần vì toàn bộ câu chuyện của gã người Hy Lạp ngài ít nhiều đã rõ, phần vì trái tim ngài vốn chẳng biết đến lòng trắc ẩn – liền cất giọng: “Hãy chôn hắn xuống vườn; sẽ có người khác đi giao thư.”
Chilo cảm thấy những lời đó chẳng khác nào bản án tử hình dành cho mình. Xương cốt gã như đang rời rã trong bàn tay đáng sợ của Ursus; nước mắt giàn giụa vì đau đớn.
“Nhân danh Chúa của các người, hãy rủ lòng thương!” gã khóc thét; “Tôi là một tín đồ Cơ Đốc! Pax vobiscum! Tôi là một tín đồ Cơ Đốc; và nếu các người không tin, hãy rửa tội cho tôi lần nữa, rửa tội hai lần, mười lần đi! Glaucus, đó là sự hiểu lầm! Hãy để tôi nói, hãy biến tôi thành nô lệ đi! Đừng giết tôi! Xin hãy rủ lòng thương!”
Giọng gã nghẹn ngào vì đau đớn, ngày càng yếu ớt đi, thì Tông đồ Peter đứng dậy khỏi bàn; trong giây lát, mái tóc trắng của ngài run rẩy cúi gục về phía trước ngực, đôi mắt nhắm lại; nhưng rồi ngài mở mắt ra và cất lời giữa không gian tĩnh lặng:
“Cứu Chúa đã dạy chúng ta điều này: ‘Nếu anh em ngươi phạm tội cùng ngươi, hãy quở trách nó; nhưng nếu nó hối cải, hãy tha thứ cho nó. Và nếu trong một ngày nó xúc phạm đến ngươi bảy lần, và bảy lần quay lại cùng ngươi mà rằng: “Xin hãy thương xót tôi!”, thì hãy tha thứ cho nó.’”
Một sự tĩnh lặng sâu thẳm hơn nữa bao trùm. Glaucus cúi gục đầu, lấy hai tay che mặt một hồi lâu; cuối cùng hắn bỏ tay xuống và nói: “Cephas, cầu xin Thiên Chúa tha thứ cho những tội lỗi của ngươi, như ta đã nhân danh Chúa mà tha thứ vậy.”
Ursus buông cánh tay gã người Hy Lạp ra, lập tức nói thêm: “Nguyện xin Cứu Chúa rủ lòng thương xót ngươi, đúng như ta đã tha thứ cho ngươi vậy.”
Chilo quỵ xuống đất, chống hai tay xuống nền nhà, quay đầu láo liên như một con dã thú sa bẫy để dò xét xem cái chết có thể ập đến từ hướng nào. Gã vẫn chưa dám tin vào tai mắt mình, và chẳng dám hy vọng vào sự tha thứ. Ý thức từ từ quay trở lại với gã; đôi môi thâm tím vẫn còn đang run lên vì khiếp sợ.
“Hãy bình an ra về!” Vị Tông đồ cất tiếng.
Chilo đứng dậy, nhưng không thốt nên lời. Gã tiến đến gần chiếc giường của Vinicius, như thể vẫn đang tìm kiếm sự bảo vệ ở đó; bởi gã chưa kịp suy ngẫm rằng chính con người từng lợi dụng dịch vụ của gã và vẫn là đồng lõa ấy lại đang kết án gã, trong khi những kẻ bị gã hãm hại lại rộng lượng thứ tha. Suy nghĩ đó phải lát nữa mới đến với gã. Lúc này, điều hiện rõ trên khuôn mặt gã chỉ là sự kinh ngạc và hoài nghi tột độ. Dù đã thấy họ tha thứ cho mình, gã vẫn muốn tẩu thoát khỏi chốn của những con người khó hiểu này càng sớm càng tốt, bởi lòng tốt của họ khiến gã sợ hãi chẳng kém gì sự tàn nhẫn của họ. Gã có cảm giác rằng nếu mình cứ nán lại thêm chút nữa, một điều bất ngờ nào đó sẽ lại xảy ra; thế là, đứng sững bên cạnh Vinicius, gã cất giọng đứt quãng: “Hãy đưa thư đi, thưa chúa công – hãy đưa thư cho con!”
Rồi giật lấy tấm bảng sáp mà Vinicius chìa ra, gã cúi đầu vái chào đám tín đồ một cái, vái chào người bệnh một cái, rồi lấm lét lùi sát vào chân tường và vội vã chuồn qua cánh cửa. Ra đến khu vườn, khi màn đêm bao bọc lấy xung quanh, nỗi sợ hãi lại làm dựng tóc gáy gã, bởi gã đinh ninh rằng Ursus sẽ lao ra và kết liễu đời mình trong đêm tối. Gã định cắm cổ chạy hết sức có thể, nhưng đôi chân lại chẳng chịu nghe lời; ngay khoảnh khắc tiếp theo, chúng hoàn toàn mất kiểm soát, bởi Ursus thực sự đang đứng sát bên gã.
Chilo ngã sấp mặt xuống đất và bắt đầu rên rỉ: “Urban – nhân danh Chúa...”
Nhưng Urban bảo: “Đừng sợ. Tông đồ đã lệnh cho ta dẫn ngươi ra ngoài cổng, kẻo ngươi lạc đường trong bóng tối, và nếu ngươi kiệt sức thì hãy đưa ngươi về đến tận nhà.”
“Ngươi nói gì cơ?” Chilo hỏi, ngẩng phắt mặt lên. “Sao? Ngươi không giết ta à?”
“Không, ta không giết; và nếu lúc nãy ta có thô tay làm gãy cái xương nào của ngươi thì hãy tha thứ cho ta.”
“Hãy đỡ ta đứng dậy,” gã người Hy Lạp nói. “Ngươi sẽ không giết ta chứ? Thật không? Đưa ta ra đường cái đi; từ đó ta tự đi một mình được.”
Ursus nhấc bổng gã lên nhẹ tựa chiếc lông hồng và đặt đứng vững vàng trên đôi chân; đoạn hắn dẫn gã qua dãy hành lang tối tăm để ra khoảng sân thứ hai. Từ đó có lối đi thông ra đường lớn và phố xá. Trong hành lang, Chilo lại thầm niệm trong lòng: “Đời ta thế là tiêu rồi!” Chỉ khi đã đặt chân ra đến ngoài phố, gã mới hồn vía trở lại và thốt lên: “Ta tự đi một mình được rồi.”
“Bình an ở cùng ngươi.”
“Và ở cùng ngươi! Cả ngươi nữa! Cho ta thở cái đã.”
Và sau khi Ursus đã rời đi, gã hít một hơi thật sâu căng lồng ngực. Gã sờ soạng vùng thắt lưng và hông, như để tự trấn an rằng mình vẫn còn sống, rồi rảo bước rít lên với dáng vẻ vội vã.
“Nhưng rốt cuộc sao chúng lại không giết mình cơ chứ?” Và bất chấp mọi lời bàn của gã với Euricius về giáo lý Cơ Đốc, bất chấp cuộc trò chuyện bên bờ sông với Urban, và bất chấp tất cả những gì gã từng nghe ở Ostrianum, gã vẫn chẳng thể tìm ra câu trả lời cho câu hỏi đó.