Tại thành Rome, người ta đã biết rằng trên đường đi, Caesar muốn ghé qua Ostia, hay nói đúng hơn là muốn xem con tàu lớn nhất thế giới vừa mới chở lúa mì từ Alexandria về, rồi từ Ostia, ngài sẽ đi theo con đường Via Littoralis để đến Antium. Mệnh lệnh đã được ban ra từ nhiều ngày trước; chính vì thế, ngay từ sáng sớm, tại cổng Porta Ostiensis, đám đông gồm cả dân nghèo bản địa và đủ mọi sắc dân trên thế giới đã tụ tập lại để thỏa mắt ngắm nhìn đoàn tùy tùng của Caesar – điều mà dân chúng Rome chẳng bao giờ thấy là đủ. Đường đến Antium không khó mà cũng chẳng xa. Bản thân Antium là nơi tập hợp những tòa lâu đài và biệt thự được xây cất cùng trang hoàng theo lối vương giả, tại đó có thể tìm thấy mọi tiện nghi, thậm chí là cả những thú xa hoa tinh tế nhất thời bấy giờ. Tuy nhiên, Caesar có thói quen mang theo trên mọi hành trình tất cả những vật dụng khiến ngài cảm thấy vui thích, bắt đầu từ nhạc cụ, đồ đạc trong nhà, cho đến cả những bức tượng và tranh ghép mosaic, ngay cả khi ngài chỉ định dừng chân dọc đường trong chốc lát để nghỉ ngơi hay giải trí. Vì lẽ đó, mỗi chuyến đi của ngài đều có cả những quân đoàn tôi tớ tháp tùng, chưa kể đến các đơn vị cấm vệ quân và quân Augustiani; mỗi người trong số các Augustiani này lại có một đoàn nô lệ riêng.
Từ sáng sớm ngày hôm đó, những người chăn gia súc từ vùng Campania với khuôn mặt rám nắng, chân quấn da dê, đã lùa năm trăm con lừa cái qua cổng thành, để ngày mai khi đến Antium, Poppæa có sữa tắm. Đám dân đen ngắm nhìn những đôi tai dài đung đưa giữa những đám bụi với vẻ thích thú và cười cợt, tai lắng nghe tiếng roi quất vun vút cùng những tiếng hò hét hoang dại của người chăn gia súc. Sau khi đàn lừa đi qua, những đám thanh niên ùa ra, cẩn thận quét dọn đường sá rồi phủ lên đó hoa và lá thông. Trong đám đông, người ta tự hào thì thầm với nhau rằng, toàn bộ con đường đến Antium sẽ được rải hoa theo cách đó, những đóa hoa được lấy từ các khu vườn tư nhân xung quanh hoặc mua với giá đắt đỏ từ những tay buôn ở cổng Porta Mugionis. Khi những giờ ban sáng trôi qua, dòng người ngày một đông đúc hơn. Một vài gia đình mang theo cả nhà đi cùng, và để tránh thời gian trôi qua tẻ nhạt, họ bày biện lương thực lên những phiến đá vốn dành để xây đền thờ nữ thần Ceres mới, rồi ăn bữa trưa ngay dưới bầu trời quang đãng. Ở chỗ này chỗ kia, từng nhóm người quây lại, dẫn đầu là những kẻ đã từng đi đây đi đó; họ bàn tán về chuyến đi hiện tại của Caesar, về những chuyến đi tương lai của ngài, và về những chuyến đi nói chung. Thủy thủ và những cựu binh kể lại những điều kỳ diệu họ từng nghe trong những chiến dịch xa xôi về những vùng đất mà chân người La Mã chưa từng đặt tới. Những kẻ chỉ quanh quẩn ở nhà, chưa từng đi quá con đường Appian Way, lắng nghe với vẻ kinh ngạc trước những câu chuyện kỳ lạ về Ấn Độ, về Ả Rập, về những quần đảo bao quanh nước Anh nơi Briareus đã giam giữ thần Saturn đang say ngủ trên một hòn đảo nhỏ đầy những linh hồn. Họ nghe về những vùng đất phương Bắc xa xôi với biển băng giá, về những tiếng rít và tiếng gầm thét mà đại dương phát ra khi mặt trời lặn xuống tắm. Những câu chuyện kiểu này được đám dân đen dễ dàng tin theo, những câu chuyện mà ngay cả những người như Tacitus và Pliny cũng tin. Họ cũng bàn tán về con tàu mà Caesar sắp đến xem—con tàu đã chở lượng lúa mì đủ dùng cho hai năm, chưa kể bốn trăm hành khách, số lượng binh lính tương đương, và vô số dã thú để dùng trong các trò chơi mùa hè. Điều này tạo nên thiện cảm chung đối với Caesar, người không chỉ nuôi sống mà còn ban phát trò vui cho dân chúng. Chính vì thế, một sự chào đón đầy nhiệt tình đang chờ đón ngài.
Trong khi đó, một đội kỵ binh Numidia thuộc cấm vệ quân tiến đến. Họ mặc quân phục màu vàng, thắt lưng đỏ và đeo những chiếc khuyên tai lớn, ánh lên sắc vàng trên khuôn mặt đen sạm. Mũi giáo tre của họ lấp lánh như lửa dưới ánh mặt trời. Sau khi họ đi qua, một đoàn người diễu hành bắt đầu tiến vào. Đám đông chen lấn xô đẩy để nhìn cho rõ hơn; nhưng các đơn vị bộ binh cấm vệ quân đã có mặt ở đó, dàn hàng dọc hai bên cổng thành, ngăn cản việc áp sát con đường. Dẫn đầu là những cỗ xe chở lều bạt màu tím, đỏ, tía, và những chiếc lều bằng vải byssus dệt từ những sợi chỉ trắng như tuyết; cùng với thảm phương Đông, những chiếc bàn gỗ citrus, các mảnh tranh mosaic, đồ dùng nhà bếp, và những lồng chim từ phương Đông, phương Bắc, phương Tây, những loài chim mà lưỡi hoặc não của chúng sẽ xuất hiện trên bàn tiệc của Caesar, cùng những vò rượu và giỏ trái cây. Nhưng những vật dụng không thể chịu được va đập hay vỡ nát trên xe đều được nô lệ khiêng vác. Vì thế, hàng trăm người đi bộ, tay mang theo các loại vò, bình và tượng đồng Corinth. Có những đội chuyên trách vác bình Etruscan; đội khác vác bình Hy Lạp; đội khác nữa vác các loại bình vàng bạc hoặc bình thủy tinh Alexandria. Tất cả đều được bảo vệ bởi những đơn vị nhỏ bộ binh và kỵ binh cấm vệ quân; bên trên mỗi nhóm nô lệ là những cai ngục cầm roi da gắn những cục chì hoặc sắt ở đầu thay vì những sợi dây mảnh. Đoàn diễu hành, gồm những người đang trang trọng, cẩn thận mang vác đủ loại đồ vật, trông chẳng khác nào một cuộc rước lễ thiêng liêng; và sự tương đồng ấy càng trở nên rõ rệt hơn khi các nhạc cụ của Caesar và triều đình được khiêng qua. Người ta thấy đàn hạc, đàn lút Hy Lạp, đàn lút của người Do Thái và người Ai Cập, đàn lyre, đàn forminga, cithara, sáo, những chiếc tù và sừng trâu dài uốn lượn và chũm chọe. Khi nhìn vào biển nhạc cụ lấp lánh dưới ánh mặt trời bằng vàng, đồng, đá quý và ngọc trai, người ta có thể tưởng tượng như Apollo và Bacchus đang khởi hành một chuyến đi vòng quanh thế giới. Sau các nhạc cụ là những cỗ xe lộng lẫy chở đầy những nghệ sĩ nhào lộn, vũ công nam và nữ, được sắp xếp đầy tính nghệ thuật, trên tay cầm gậy. Theo sau họ là những nô lệ không phải để phục vụ mà để hưởng lạc; đó là những cậu bé và cô bé được chọn lọc từ khắp Hy Lạp và Tiểu Á, với mái tóc dài hoặc những lọn tóc xoăn được búi trong những chiếc lưới vàng, những đứa trẻ trông như thần Cupid với khuôn mặt tuyệt mỹ, nhưng lại được bao phủ hoàn toàn bởi một lớp mỹ phẩm dày, để gió vùng Campania không làm rám đi làn da mỏng manh của chúng.
Và một lần nữa, một đội cấm vệ quân gồm những người Sicambri khổng lồ xuất hiện, mắt xanh, râu ria, tóc vàng và đỏ. Đi trước họ là những người lính cầm cờ mang theo những con đại bàng La Mã, những tấm bảng có khắc chữ, tượng các vị thần Đức và La Mã, và cuối cùng là những bức tượng và tượng bán thân của Caesar. Từ dưới lớp da thú và áo giáp của người lính lộ ra những cơ chân tay rám nắng và vạm vỡ, trông như những cỗ máy chiến tranh có khả năng sử dụng các loại vũ khí hạng nặng mà những đội hộ vệ kiểu này được trang bị. Mặt đất như chùng xuống dưới bước chân đều đặn và nặng nề của họ. Như thể ý thức được sức mạnh mà họ có thể sử dụng ngay cả đối với Caesar, họ nhìn đám dân đen trên đường phố với vẻ khinh khỉnh, rõ ràng là đã quên mất rằng nhiều người trong số họ đã đến thành phố này trong xiềng xích. Nhưng số lượng của họ không đáng kể, vì lực lượng cấm vệ quân chính vẫn ở lại trại để canh giữ thành phố và giữ trật tự. Khi họ đi qua, những con sư tử và hổ bị xích của Nero được dắt theo, để nếu ngài có ý muốn bắt chước thần Dionysus, ngài sẽ có chúng để buộc vào xe của mình. Chúng được dắt bằng những sợi xích thép bởi những người Ả Rập và người Ấn Độ, nhưng những sợi xích đó được quấn đầy hoa lá khiến lũ thú trông như đang được dẫn dắt bởi những đóa hoa. Những con sư tử và hổ, vốn đã được các huấn luyện viên tài năng thuần hóa, nhìn đám đông bằng đôi mắt xanh lờ đờ, nhưng chốc chốc chúng lại ngẩng cái đầu khổng lồ lên, hít hà qua cái mũi khò khè luồng hơi của đám đông, đồng thời liếm mép bằng cái lưỡi đầy gai.
Bây giờ là những cỗ xe và kiệu của Caesar, lớn có nhỏ có, dát vàng hoặc tím, khảm ngà voi hoặc ngọc trai, hoặc lấp lánh kim cương; theo sau là một đội cấm vệ quân nhỏ khác trong bộ giáp La Mã, những cấm vệ quân chỉ gồm những tình nguyện viên người Ý;* rồi đến đám đông các nô lệ hầu cận và các cậu bé được tuyển chọn; và cuối cùng là bản thân Caesar, người mà sự xuất hiện của ngài đã được báo trước từ xa bởi tiếng reo hò của hàng ngàn người.
[* Cư dân Ý được miễn nghĩa vụ quân sự bởi Augustus, do đó cái gọi là cohors Italica, thường đóng quân ở châu Á, được tạo thành từ những người tình nguyện. Các cấm vệ quân, chừng nào không phải là người nước ngoài, đều được tạo thành từ những người tình nguyện.]
Trong đám đông có Tông đồ Phêrô, người muốn được một lần trong đời nhìn thấy Caesar. Ông đi cùng Lygia, người đang che mặt bằng một chiếc khăn voan dày, và Ursus, người với sức mạnh to lớn chính là lá chắn an toàn nhất cho cô gái trẻ giữa đám đông hoang dã và ồn ào. Chàng trai người Lygia nhặt một viên đá vốn dùng để xây đền thờ, mang đến cho vị Tông đồ để ông đứng lên đó, nhờ vậy mà ông có thể nhìn rõ hơn những người khác.
Đám đông lầm bầm khi Ursus đẩy họ ra, giống như một con tàu rẽ sóng; nhưng khi anh mang viên đá mà bốn người khỏe nhất cũng không nhấc nổi lên, tiếng lầm bầm chuyển thành sự kinh ngạc, và những tiếng kêu “Macte!” vang lên khắp xung quanh.
Trong khi đó, Caesar đã xuất hiện. Ngài ngồi trên một cỗ xe do sáu con ngựa giống Idumean trắng có móng đóng vàng kéo. Cỗ xe có hình dạng một chiếc lều với các mặt mở, có chủ ý để đám đông có thể nhìn thấy Caesar. Một vài người có thể tìm được chỗ ngồi trên xe, nhưng Nero, vì muốn sự chú ý chỉ tập trung vào duy nhất mình, đã đi qua thành phố một mình, dưới chân chỉ có hai gã lùn dị dạng. Ngài mặc một chiếc áo tunic trắng và chiếc áo toga màu thạch anh tím, thứ ánh sáng xanh nhạt trên khuôn mặt ngài. Trên đầu ngài là vòng nguyệt quế. Kể từ khi rời Naples, thân hình ngài đã to béo lên trông thấy. Khuôn mặt ngài rộng ra; dưới hàm dưới treo một cái nọng cằm đôi, khiến cái miệng vốn đã quá gần mũi dường như chạm cả vào lỗ mũi. Chiếc cổ to lớn của ngài được bảo vệ như thường lệ bằng một chiếc khăn lụa, thứ mà ngài chỉnh sửa từng phút bằng bàn tay trắng trẻo, mập mạp, đầy những sợi lông đỏ trông như những vết máu; ngài không cho phép những kẻ nhổ lông (epilatores) nhổ những sợi lông này đi, vì đã có người bảo rằng làm vậy sẽ khiến ngón tay bị run và gây hại cho việc chơi đàn lút của ngài. Sự phù phiếm vô biên được thể hiện rõ trên khuôn mặt ngài lúc đó, cũng như mọi khi, cùng với vẻ chán chường và đau khổ. Nhìn chung, đó là một khuôn mặt vừa khủng khiếp vừa tầm thường. Trong khi tiến lên, ngài quay đầu từ bên này sang bên kia, thỉnh thoảng chớp mắt, và chăm chú lắng nghe cách đám đông chào đón mình. Ngài được đáp lại bằng một cơn bão tiếng reo hò và tán thưởng: “Chào Caesar thần thánh! Imperator, chào ngài, kẻ chinh phục! Chào ngài, đấng vô song!—Con của Apollo, chính là Apollo!”
Khi nghe thấy những lời này, ngài mỉm cười; nhưng đôi lúc, một đám mây như bao phủ lấy khuôn mặt ngài, bởi lẽ đám dân đen La Mã vốn châm chọc và tinh quái trong việc tính toán, chúng tự cho phép mình chỉ trích ngay cả những bậc chinh phục vĩ đại, thậm chí cả những người mà chúng yêu mến và kính trọng. Người ta biết rằng có lần, khi Julius Caesar tiến vào Rome, chúng đã reo lên: “Hỡi những người dân, hãy giấu vợ mình đi; lão dâm tặc đang tới!” Nhưng sự phù phiếm quái đản của Nero không thể chịu đựng được dù chỉ là một lời chê trách hay phê bình nhỏ nhất; trong khi đó, giữa đám đông, bên cạnh những tiếng reo hò tán thưởng, người ta vẫn nghe thấy những tiếng kêu: “Ahenobarbus, Ahenobarbus! Ngươi đã giấu bộ râu rực lửa của mình ở đâu rồi? Ngươi sợ rằng Rome sẽ bén lửa từ nó sao?” Và những kẻ hét lên như vậy không hề biết rằng câu đùa của chúng ẩn chứa một lời tiên tri khủng khiếp.
Những tiếng gọi này không làm Caesar quá tức giận, vì ngài không để râu, từ lâu ngài đã dâng nó trong một chiếc ống vàng cho thần Jupiter Capitolinus rồi. Nhưng những kẻ khác, ẩn nấp sau những đống đá và các góc đền thờ, lại hét lên: “Kẻ giết mẹ! Nero! Orestes! Alcmæon!” và những kẻ khác nữa: “Octavia đâu?” “Hãy trả lại chiếc áo choàng tím!” Với Poppæa, người đi ngay sau ngài, chúng hét lên: “Flava coma (tóc vàng)!!” – cái tên mà chúng dùng để chỉ gái điếm. Đôi tai sành nhạc của Caesar cũng bắt được những tiếng kêu này, và ngài nâng viên ngọc lục bảo được mài nhẵn lên mắt như để nhìn và ghi nhớ những kẻ đã thốt ra chúng. Trong khi nhìn như vậy, ánh mắt ngài dừng lại ở vị Tông đồ đang đứng trên tảng đá.
Trong chốc lát, hai con người ấy nhìn nhau. Không ai trong đoàn tùy tùng rực rỡ kia, và không ai trong đám đông khổng lồ nọ, nghĩ rằng ngay lúc ấy, hai thế lực của trái đất đang nhìn nhau, một trong số đó sẽ sớm tan biến như một giấc mơ đẫm máu, còn kẻ kia, trong y phục giản đơn, sẽ chiếm lấy thế giới và thành phố này làm sở hữu vĩnh hằng.
Trong khi đó Caesar đã đi qua; và ngay sau ngài, tám người châu Phi khiêng một chiếc kiệu tráng lệ, bên trong là Poppæa, người bị dân chúng căm ghét. Ăn mặc như Nero, trong bộ trang phục màu thạch anh tím, với một lớp mỹ phẩm dày trên mặt, bất động, trầm tư, thờ ơ, nàng trông giống như một vị thần xinh đẹp và độc ác đang được rước trong lễ diễu hành. Theo sau nàng là cả một triều đình tôi tớ, nam có nữ có, tiếp đó là một đoàn xe chở đầy vật dụng ăn mặc và sinh hoạt. Mặt trời đã xế chiều khi đoàn Augustiani bắt đầu đi qua,—một hàng dài lấp lánh, rực rỡ như một con rắn bất tận. Kẻ lười biếng Petronius, được đám đông chào đón một cách tử tế, đã ra lệnh cho họ khiêng mình cùng tên nô lệ đẹp như thần của mình trên kiệu. Tigellinus đi trên một cỗ xe do những con ngựa lùn được trang trí bằng lông vũ trắng và tím kéo. Người ta thấy hắn nhổm người dậy trên xe nhiều lần, vươn cổ ra để xem liệu Caesar có chuẩn bị ra hiệu cho hắn đến gần xe của ngài hay không. Trong số những người khác, đám đông chào đón Licinianus bằng sự tán thưởng, Vitelius bằng những tiếng cười, Vatinius bằng những tiếng huýt sáo. Đối với các chấp chính quan Licinus và Lecanius, họ tỏ ra thờ ơ, nhưng họ yêu mến Tullius Senecio, không biết vì lý do gì, và Vestinius nhận được sự tán thưởng.
Triều đình đông không đếm xuể. Có vẻ như tất cả những gì giàu có nhất, rực rỡ nhất và nổi tiếng nhất ở Rome đều đang di cư đến Antium. Nero chưa bao giờ đi du lịch mà không có hàng ngàn cỗ xe; xã hội đi cùng ngài hầu như luôn vượt quá số lượng binh lính trong một quân đoàn. [Vào thời các Caesar, một quân đoàn luôn là 12.000 người.] Vì thế, Domitius Afer xuất hiện, và lão già hom hem Lucius Saturninus; và Vespasian, người vẫn chưa lên đường thực hiện chiến dịch ở Judea, nơi mà từ đó ông trở về để nhận vương miện Caesar, và các con trai của ông, và Nerva trẻ tuổi, và Lucan, và Annius Gallo, và Quintianus, và vô số phụ nữ nổi tiếng về sự giàu có, nhan sắc, lối sống xa hoa và đồi trụy.
Ánh mắt của đám đông đổ dồn vào bộ yên cương, những cỗ xe, những con ngựa, bộ đồng phục kỳ lạ của những tôi tớ, vốn tập hợp từ đủ mọi dân tộc trên trái đất. Trong cuộc diễu hành đầy kiêu hãnh và hùng vĩ đó, người ta khó lòng biết nên nhìn vào đâu; và không chỉ ánh mắt, mà cả tâm trí cũng bị lóa mắt bởi ánh vàng, tím và tía rực rỡ ấy, bởi những viên đá quý lấp lánh, bởi sự chói lọi của gấm vóc, ngọc trai và ngà voi. Dường như chính những tia nắng mặt trời đang tan chảy vào vực thẳm chói lòa ấy. Và mặc dù trong đám đông không thiếu những con người khốn khổ, những kẻ bụng tóp lại, với nỗi đói khát trong ánh mắt, thì cảnh tượng ấy không chỉ kích thích lòng ham muốn hưởng lạc và lòng đố kỵ, mà còn lấp đầy họ bằng sự sung sướng và kiêu hãnh, bởi nó mang lại cảm giác về sức mạnh và sự bất khả chiến bại của Rome, nơi mà cả thế giới đóng góp vào, và trước mặt nó cả thế giới phải quỳ gối. Quả thực, không có ai trên trái đất dám nghĩ rằng sức mạnh đó sẽ không trường tồn qua mọi thời đại, và sống lâu hơn mọi dân tộc, hoặc có bất cứ thứ gì tồn tại đủ sức mạnh để chống lại nó.
Vinicius, đi ở cuối đoàn tùy tùng, nhảy ra khỏi xe khi nhìn thấy vị Tông đồ và Lygia, những người mà chàng không ngờ sẽ gặp, và chào họ với khuôn mặt rạng rỡ, cất tiếng gấp gáp, như một người không có thời gian để lãng phí,—“Nàng đã đến rồi sao? Ta không biết phải cảm ơn nàng thế nào, ôi Lygia! Chúa không thể gửi cho ta một điềm báo tốt hơn. Ta chào nàng ngay cả khi đang từ biệt, nhưng không phải là từ biệt lâu đâu. Trên đường đi, ta sẽ bố trí các trạm thay ngựa, và cứ ngày nào rảnh rỗi ta sẽ đến thăm nàng cho đến khi ta được phép quay lại.—Tạm biệt!”
“Tạm biệt, Marcus!” Lygia đáp; rồi nàng nói thêm bằng giọng trầm hơn: “Nguyện Chúa đi cùng ngài, và mở lòng ngài đón nhận lời của Paul.”
Trong lòng chàng cảm thấy vui sướng vì nàng quan tâm đến việc chàng sớm trở thành một Kitô hữu; vì thế chàng đáp,—
“Ocelle mi! Hãy cứ như lời nàng nói. Paul thích đi cùng người của ta, nhưng ông ấy đang ở với ta, và sẽ là bạn đồng hành cũng như bậc thầy của ta. Hãy vén khăn che mặt đi, hỡi niềm vui của ta, để ta được nhìn thấy nàng trước khi ta lên đường. Tại sao nàng lại che giấu như thế?”
Nàng vén chiếc khăn voan lên, lộ ra khuôn mặt tươi sáng và đôi mắt mỉm cười kỳ diệu, hỏi,—
“Khăn che mặt không tốt sao?”
Và nụ cười của nàng mang theo một chút vẻ chống đối dịu dàng của thiếu nữ; nhưng Vinicius, trong khi nhìn nàng với vẻ say đắm, đáp,—
“Không tốt cho đôi mắt của ta, vốn dĩ cho đến chết chỉ muốn nhìn mỗi mình nàng thôi.”
Rồi chàng quay sang Ursus và nói,—
“Ursus, hãy bảo vệ nàng như con ngươi của mắt ngươi, vì nàng là domina của ta cũng như của ngươi.”
Sau đó nắm lấy tay nàng, chàng áp môi lên, trước sự kinh ngạc tột độ của đám đông, những người không thể hiểu nổi những dấu hiệu tôn trọng như vậy từ một Augustiani lừng lẫy đối với một thiếu nữ trong bộ y phục giản dị, gần như là nô lệ.
“Tạm biệt!”
Rồi chàng vội vã rời đi, vì toàn bộ đoàn tùy tùng của Caesar đã đẩy lên phía trước khá xa. Vị Tông đồ Phêrô ban phước cho chàng bằng một dấu thánh giá nhẹ nhàng; nhưng gã Ursus tử tế bắt đầu tán dương chàng ngay lập tức, vui mừng vì cô chủ trẻ của mình lắng nghe một cách háo hức và biết ơn anh vì những lời khen ngợi đó.
Đoàn tùy tùng di chuyển tiếp và ẩn mình trong những đám bụi vàng; tuy nhiên, họ vẫn nhìn theo thật lâu, cho đến khi Demas người thợ xay tiến lại gần, người mà Ursus thường làm việc cho vào ban đêm. Khi đã hôn tay vị Tông đồ, ông ta nài nỉ họ vào nhà mình để nghỉ ngơi, nói rằng nhà ông ở gần khu Emporium, rằng họ chắc hẳn phải đói và mệt vì đã dành phần lớn thời gian trong ngày ở cổng thành.
Họ đi cùng ông, và sau khi nghỉ ngơi, dùng bữa tại nhà ông, mãi đến chiều tối mới trở lại vùng Trans-Tiber. Dự định băng qua sông bằng cầu Æmilian, họ đi qua Clivus Publicus, vượt qua đồi Aventine, giữa các ngôi đền của Diana và Mercury. Từ độ cao đó, vị Tông đồ nhìn xuống những kiến trúc bao quanh mình, và những thứ đang dần biến mất ở phía xa. Chìm trong im lặng, ông suy ngẫm về sự mênh mông và quyền thống trị của thành phố này, nơi ông đã đến để rao giảng lời Chúa. Cho đến nay, ông đã thấy sự cai trị của Rome và các quân đoàn của nó ở nhiều vùng đất khác nhau mà ông từng đi qua, nhưng đó chỉ như những chi tiết đơn lẻ của quyền lực, mà ngày hôm đó, lần đầu tiên ông nhìn thấy được nhân cách hóa dưới hình hài của Nero. Thành phố này, rộng lớn, săn mồi, tham lam, không kiềm chế, thối rữa đến tận xương tủy, và không thể xâm phạm trong sức mạnh siêu phàm của nó; vị Caesar kia, kẻ giết anh em, kẻ giết mẹ, kẻ giết vợ, lôi theo sau một đoàn tùy tùng gồm những bóng ma đẫm máu không kém gì triều đình của ngài. Kẻ phóng đãng đó, tên hề đó, nhưng đồng thời cũng là chúa tể của ba mươi quân đoàn, và thông qua chúng là chúa tể của toàn trái đất; những triều thần phủ đầy vàng và áo choàng đỏ, không biết ngày mai ra sao, nhưng trong lúc này lại quyền thế hơn cả các vị vua,—tất cả những thứ đó cùng lại tạo thành một kiểu vương quốc địa ngục của sự sai trái và tội ác. Trong trái tim đơn thuần của mình, ông kinh ngạc rằng Chúa có thể ban cho Satan quyền năng không thể tưởng tượng nổi như vậy, rằng Ngài có thể nhượng trái đất cho nó nhào nặn, lật đổ, và giẫm đạp, để vắt kiệt máu và nước mắt từ đó, để xoắn nó như một cơn lốc, tấn công nó như một trận cuồng phong, thiêu rụi nó như một ngọn lửa. Và trái tim Tông đồ của ông lo âu trước những suy nghĩ ấy, và trong tinh thần, ông thưa với Thầy: “Lạy Chúa, con phải bắt đầu thế nào trong thành phố này, nơi Ngài đã sai con đến? Biển cả và đất đai, dã thú trên đồng và sinh vật dưới nước đều thuộc về nó; nó sở hữu các vương quốc và thành phố khác, cùng ba mươi quân đoàn bảo vệ chúng; còn con, lạy Chúa, chỉ là một ngư dân từ một hồ nước! Con phải bắt đầu thế nào, và làm sao con chiến thắng được sự gian ác của nó?”
Nói như vậy, ông ngước cái đầu bạc trắng đang run rẩy của mình lên thiên đường, cầu nguyện và kêu cầu từ tận đáy lòng đến với Đấng Thầy Chí Thánh, bản thân ông đầy nỗi buồn và sợ hãi.
Trong khi đó, lời cầu nguyện của ông bị Lygia ngắt lời.
“Cả thành phố như đang chìm trong lửa vậy,” nàng nói.
Quả thực, mặt trời ngày hôm đó lặn xuống một cách kỳ lạ. Cái đĩa khổng lồ của nó đã chìm được một nửa sau đồi Janiculum, cả khoảng không bầu trời tràn ngập ánh đỏ. Từ nơi họ đang đứng, cái nhìn của Phêrô bao quát những không gian rộng lớn. Hơi lệch về bên phải, họ nhìn thấy những bức tường trải dài của trường đua Circus Maximus; phía trên đó là những tòa cung điện cao chót vót của đồi Palatine; và ngay trước mặt họ, bên kia Forum Boarium và Velabrum, là đỉnh đồi Capitol, với ngôi đền thờ thần Jupiter. Nhưng những bức tường, những cột trụ và những đỉnh đền thờ như đang chìm trong ánh vàng và tím ấy. Những phần của con sông nhìn thấy từ phía xa chảy như đang nhuốm máu; và khi mặt trời lặn dần từng phút sau ngọn núi, ánh sáng ngày càng đỏ hơn, ngày càng giống một vụ hỏa hoạn, nó lan rộng và tăng dần cho đến khi cuối cùng bao trùm lấy bảy ngọn đồi, từ đó lan ra khắp vùng xung quanh.
“Cả thành phố dường như đang bốc cháy!” Lygia lặp lại.
Phêrô lấy tay che mắt, và nói—
“Cơn thịnh nộ của Chúa đang đổ xuống nó.”