Kẻ Cướp Cuối Cùng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 2 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 10

❊ ❊ ❊

Ann Arbor nằm cách Sault Sainte Marie gần 550 cây số. Nếu đi đường 23 và I-75, mất khoảng 5 tiếng để ta đến đó, không tính thời gian nghỉ. Khi ta lái ngược lên phía bắc, đi quá Flint và Saginaw, thành thị bắt đầu nhường chỗ cho nông thôn, cảnh vật chỉ còn những cánh đồng và rặng cây. Phía sau rừng cây này là các hồ nước mà ta không thể thấy được từ trên đường cao tốc. Bên bờ hồ có những căn chòi, nơi đám dân thành phố đổ tới để tránh sức nóng mùa hè của Michigan.

Tới mỏm bắc của bán đảo Hạ Michigan, ta có thể bắt gặp những thị trấn du lịch, nơi người ta gạ khách mua những con tuần lộc nhồi bông và áo phông in hình gấu đen Bắc Mỹ. Các cửa hàng thì ba hoa rằng mình bán thứ kẹo mềm hảo hạng nhất. Cầu Mackinac cũng là một điểm thu hút khách du lịch nổi tiếng - 8 cây số thép và cáp treo bắc qua dải nước hẹp giữa hồ Michigan và hồ Huron.

Ở đầu cầu bên kia là bán đảo Thượng Michigan. Đi thêm 80 cây số theo đường 1-75 là tới Sault Sainte Marie gần biên giới Canada. Tối thứ Năm, tôi và Elizabeth đến nơi. Chúng tôi lái xe tới bờ sông

Saint Mary ngắm ánh đèn tắt dần bên kia mặt sông gợn sóng, rồi cùng nhau trở về đặt phòng khách sạn.

Chuyến đi của chúng tôi khởi hành khá muộn màng. Owen McCaleb phải suy tính rất lâu mới quyết định cử Elizabeth lên phía bắc. Chúng tôi chất đồ lên xe ô tô, sắp xếp cho Sarah ở nhờ nhà Bridget Shellcross. Mãi tới giữa buổi chiều, chúng tôi mới lên đường.

Sáng thứ Sáu, chúng tôi dậy sớm và lái xe tới sở cảnh sát hạt Chippewa - một tòa nhà gạch nâu trên phố Court. Cảnh sát trưởng gặp chúng tôi ở sảnh. Ông ta tên là Walter Delacorte, cao 1,8 mét với đôi vai rộng và cái bụng phình ra mà không có vẻ mập. Ông ta đeo cặp kính râm màu hổ phách vào rồi dẫn chúng tôi dọc theo dãy nhà tới một quán ăn với khẩu hiệu HÃY BẦU CALLIE SPENCER VÀO THƯỢNG VIỆN treo trên cửa sổ.

“Các vị đã đi một quãng đường rất dài,” ông ta nói, “ít nhất thì các vị xứng đáng có một bữa sáng ngon miệng. Hai vị sẽ không phải thất vọng đâu.”

Mùi thịt nướng và cà phê sực nức khi chúng tôi bước vào quán. Cô bồi bàn dẫn chúng tôi qua quầy thu ngân dài tới một cái bàn ở sâu bên trong, tách biệt khỏi các thực khách khác. Chúng tôi tán gẫu một chút trong khi ăn trứng ốp lết, Delacorte hỏi han về chuyến đi và công việc của tôi. Hóa ra ông ta là người hâm mộ của dòng truyện trinh thám. Chỉ sau khi cô bồi bàn thu dọn bát đĩa, Elizabeth và ông ta mới bắt đầu bàn tới chuyện công việc.

“Tôi biết lý do các vị tới đây,” Delacorte nói, “nhưng tôi không chắc mình có thể giúp được gì. Tôi hơi nghi ngờ về việc người các vị đang tìm từng xuất hiện ở Sault Sainte Marie.”

“Ông đã đọc bản thảo tôi gửi chưa?” cô hỏi, tay mở một bản sao của nó trên bàn. Lời tuyên bố của tên mặc áo kẻ. Cô đã gửi nó qua fax cho Delacorte trước khi chúng tôi rời Ann Arbor.

“Tôi xem rồi,” ông ta nói. “Nó chán ngắt và tôi hiểu tại sao các vị cho rằng nên gửi nó cho tôi. Nhưng tôi vẫn chưa tin lắm. Các vị cứ thử đặt mình vào địa vị tôi mà xem.”

Ông ta gõ những ngón tay núc ních lên tập giấy. “Kẻ viết những trang này tự nhận mình đã giết Charlie Dawtrey. Nhưng tôi đã bắt giữ người khác trong vụ đó - một anh chàng tên là Kyle Scudder. Anh ta đã dính vào một cuộc ẩu đả với Dawtrey. Đó là sự thật. Vụ việc xảy ra trong quán Cozy Inn ở Brimley. Vài tiếng sau, Dawtrey bị đánh chết. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa về chuyện đã xảy ra.”

Delacorte ngả người ra sau và dựa vai vào ghế. Bộ đồng phục xám rất vừa vặn, có vẻ như nó được may đo để ních vừa cái bụng. Mắt ông ta màu xám nhạt, mái tóc đen đã điểm những sợi bạc.

“Về Terry Dawtrey,” ông ta nói, “vụ đó cũng sáng tỏ rồi. Họ thả gã ra để tới dự đám tang cha mình và rồi gã cố tẩu thoát. Một cảnh sát của tôi buộc phải bắn gã. Tôi chỉ ước giá mà cái chuyện khốn kiếp đó chưa từng xảy ra, nhưng giờ thì sự đã rồi. Chẳng cần phải giải thích thêm gì cả. Giờ hai vị lại đem tới đây mẩu chuyện có lẽ đã được một người có mặt ở nghĩa trang hôm đó viết.” Ngón tay của viên cảnh sát trưởng lại gõ lên tập bản thảo. “Hắn viết rằng mình đã nằm trên đồi với một khẩu súng trường. Rồi hắn bắn một phát về phía Dawtrey nhưng bị trượt. Nhưng trong tất cả những người tôi phỏng vấn, không ai thấy hắn ở đó cả. Hắn chỉ là một bóng ma. Vậy nên tôi biết làm gì với thông tin các vị gửi đây? Nó cũng ngang với việc các vị nói rằng xe ô tô của tôi chạy được là nhờ một bầy quỷ sau tay lái.”

Elizabeth hất cằm về phía tập bản thảo. “Nếu hắn chưa từng ở đó, vậy ông giải thích sao về cái này?”

“Chỉ là một tác phẩm hư cấu thôi.”

“Nhưng nó khá chi tiết đấy chứ.”

Ánh mắt Delacorte tỏ vẻ thân mật. “Tôi đồng ý, nó cũng không tệ. Nhưng chẳng có thông tin nào trong này chưa được phát trên bản tin cả.”

“Kẻ viết bản thảo này miêu tả lại hắn đã sát hại Henry Kormoran như thế nào,” Elizabeth nói. “Và chắc chắn hắn không nghe chuyện đó trên bản tin vì hắn viết nó trước khi thi thể Kormoran được tìm thấy.”

“Vậy thì có vẻ hắn đã giết Kormoran. Các vị có nghĩa vụ điều tra vụ đó ở Ann Arbor. Tôi chỉ có trách nhiệm với vụ cha con Dawtrey ở đây thôi.”

“Hắn cũng viết một dòng đe dọa Sutton Bell ở trang cuối. Và sau đó, Bell đã bị tấn công. Bell, Kormoran và Terry Dawtrey đều tham gia vụ cướp ngân hàng Great Lakes. Vậy nên lập luận các vụ án này có liên quan tới nhau chẳng phải rất hợp lý hay sao?”

Viên cảnh sát trưởng lướt lưỡi qua răng cửa, trầm ngâm.

“Tôi không nghi ngờ việc chúng có liên quan với nhau,” ông ta nói. “Có lẽ các vị đang gặp phải một gã bắt chước trong vụ này. Có thể hắn nghe tin Dawtrey bị bắn và cảm thấy chuyện đó thật tuyệt. Hắn cho rằng ai đó nên trừ khử nốt cả Kormoran và Bell nữa -và quyết định bản thân nên thực hiện nhiệm vụ đó. Nhưng với hắn, như thế là chưa đủ. Hắn muốn nhận phần vinh quang trong vụ Dawtrey nữa. Thế nên hắn mới viết nên câu chuyện này.”

“Vậy đây chỉ là chuyện hư cấu à?”

“Dựa vào những chi tiết trong vụ cha con Dawtrey, tôi không có lý do gì để nghi ngờ điều đó cả. Vả lại làm gì có chứng cứ.”

Cô bồi bàn bước tới và rót cho chúng tôi một lượt cà phê nữa. Delacorte cho đầy đường và kem vào cốc của mình.

“Vậy chúng ta thảo luận về chứng cứ nhé?” Elizabeth hỏi.

Tay ông ta khuấy cốc cà phê. “Hai vị đã đi tới tận đây. Chúng ta có thể thảo luận về bất cứ chủ đề gì các vị muốn.”

Elizabeth vuốt một lọn tóc ra phía sau và nói, “Tôi tò mò muốn biết về Kyle Scudder, người mà ông cho là đã giết Charlie Dawtrey. Ông kể rằng đã có một cuộc ẩu đả. Nguồn cơn là gì thế?”

“Chuyện thường tình ấy mà,” Delacorte đáp. “Cả hai cùng mê một phụ nữ. Bà ta tên là Madelyn Turner. Nhiều năm về trước, bà ta lập gia đình với Dawtrey một khoảng thời gian. Họ có một đứa con trai độ 15 tuổi. Đứa trẻ ở với bà mẹ sau khi cuộc hôn nhân đổ vỡ.”

“Sao cuộc hôn nhân này lại đổ vỡ?”

“Cô nên hỏi sao nó lại bắt đầu thì hơn. Charlie Dawtrey đã gần 60 khi gặp Madelyn, bà ta lúc đó khoảng 40 tuổi gì đó. Ông già chẳng được vẻ gì, làm một công việc bần tiện cả đời. Nhưng Madelyn hồi trẻ lại là một mỹ nhân có tiếng. Bà ta từng qua lại với vô số đàn ông. Một vài trong số đó giàu nứt đố đổ vách hoặc rất thành đạt.

“Bà ta cặp kè với Dawtrey trong 3 năm. Rồi quay sang dan díu và sống chung với một người đàn ông tên là Alden Turner suốt 7 năm, tới khi ông này chết mới thôi.”

Delacorte uống chút cà phê rồi nói tiếp. “Tôi nghĩ là Dawtrey chưa bao giờ chinh phục được bà ta. Họ vẫn liên lạc với nhau - họ còn đứa con chung. Kyle Scudder bắt đầu hẹn hò với bà ta vài tháng trước. Tôi ngờ rằng anh ta không nhận ra khoảng cách về tuổi tác. Madelyn đã ngoại ngũ tuần nhưng cố gắng không để lộ vẻ già nua. Scudder mới 42 tuổi. Họ gặp nhau lúc Madelyn thuê anh ta tỉa tót vườn nhà mình. Vậy là anh ta đổ đứ đừ người phụ nữ đó. Hẳn là Scudder ghen khi bà ta vẫn dành thời gian cho Charlie Dawtrey. Anh ta bắt gặp cả hai đang ngồi với nhau trong quán Cozy Inn tối hôm đó. Cuộc ẩu đả nổ ra khi Charlie đặt tay lên vai Madelyn theo cách mà Kyle Scudder không ưa chút nào.”

“Vậy Scudder đã khai những gì?” Elizabeth hỏi. “Anh ta có thừa nhận đã giết Dawtrey không?”

“Anh ta phủ nhận, nói rằng đã ở nhà Madelyn cả đêm hôm đó.”

“Bà ta nói sao?”

“Còn tùy cô phỏng vấn bà ta vào lúc nào. Đầu tiên, Madelyn khai anh ta đi theo mình về nhà từ quán Cozy nhưng bà ta không cho Scudder vào nhà - vì vẫn còn giận cái cách anh ta đối xử với Charlie. Sau đó, bà ta thay đổi lời khai, nói rằng mình và Scudder đã qua đêm cùng nhau.”

Tôi nói xen vào. “Tại sao bà ta lại thay đổi lời khai?”

Delacorte nhìn tôi từ đầu đến chân như thể ông ta đã quên mất sự có mặt của tôi ở đó. Đó là một cái nhìn bình tĩnh, đầy thẩm quyền, với chủ ý nhắc cho tôi nhớ mình đang ở lạc chỗ: Một thường dân ngồi trong buổi họp mà trên nguyên tắc anh ta không có quyền được dự. Delacorte để tôi ngồi đấy chỉ là vì phép lịch sự với Elizabeth mà thôi.

Ông ta thoáng mỉm cười, tỏ ý sẽ chiều ý tôi mà trả lời câu hỏi đó.

“Anh Loogan ạ,” ông ta nói, “nếu tôi hiểu được hết lý do tại sao phụ nữ làm việc này hay việc kia, tôi đã kiếm được một công việc ngon ăn hơn bây giờ nhiều. Nếu phải đoán, tôi nghĩ là lần đầu Madelyn đã khai thật. Nhưng khi hiểu được Scudder đang ở trong tình cảnh hiểm nghèo đến thế nào, bà ta quyết định bao che.”

“Có nhân chứng nào không?” Elizabeth hỏi.

“Charlie Dawtrey sống một mình ở một căn chòi trong rừng. Không có hàng xóm xung quanh. Chẳng ai nghe hay nhìn thấy gì cả.”

“Còn vũ khí giết người?”

“Chúng tôi không tìm thấy nó ở hiện trường. Bên pháp y nói có lẽ đó là một thanh nạy lốp xe.” Môi Delacorte thoáng nở một nụ cười nữa rồi ông ta đặt tay lên tập bản thảo. “Tôi hiểu điều đó làm các vị hài lòng đến thế nào, vì nó khớp với những gì được viết trong này. Nhưng tôi cũng phải nói luôn, tay bác sĩ pháp y chỗ tôi rất khoái tiết lộ thông tin cho đám phóng viên. Kẻ viết thứ này hoàn toàn có thể biết được chi tiết về thanh nạy lốp xe trên báo chí.”

“Tôi đoán là ông chuẩn bị kể cho tôi biết Kyle Scudder cũng sở hữu một thanh nạy lốp xe?”

Nụ cười lại nở ra, lần này với vẻ hài lòng.

“Ai mà chẳng có thanh nạy lốp xe cơ chứ? Chúng tôi đã có lệnh khám nhà và xe tải anh ta. Điều nực cười là chúng tôi chẳng tìm thấy thanh nạy lốp xe nào. Anh ta nói mình cũng có một cái nhưng đánh mất rồi. Anh ta khai rằng vài tuần trước mình dừng lại bên đường để giúp một phụ nữ bị xịt lốp. Anh ta đoán hôm đó mình đã lỡ tay bỏ nó lại trong cốp xe của cô ta. Đương nhiên là anh ta không biết tên người phụ nữ đó.”

“Ông cho là anh ta nói dối,” Elizabeth nói.

“Tôi cho là anh ta đã có đủ thời gian để phi tang thanh nạy lốp xe. Mãi tới hôm sau, người ta mới phát hiện ra Charlie Dawtrey đã chết. Con trai ông ta tới đó để gặp cha. Chính là con của Madelyn -tên là Nick. Cậu bé đi xe đạp tới. Hôm đó, hai cha con hẹn nhau đi câu cá.”

Elizabeth rướn người ra trước, còn tôi ngắm nhìn khuôn mặt cô. Cô nhìn thẳng vào Delacorte như thể cố gắng đọc suy nghĩ của ông ta.

Sau cùng, cô nói, “Ông không mảy may lo lắng mình đã phạm sai lầm hay sao – rằng Kyle Scudder vô tội?”

“Tôi thực sự không thấy thế,” Delacorte nói. “Nhưng giờ tôi không theo vụ này nữa. Tôi đã chuyển toàn bộ vụ án cho công tố viên của hạt rồi. Tôi sẽ chuyển thông tin của các vị tới đó, nhưng ngay cả ông ta cũng tin là vụ này rõ mười mươi rồi.”

Elizabeth thở dài và tôi có thể thấy rõ cô đã quyết định sẽ ngừng thảo luận vấn đề này tại đây.

“Hãy chuyển sang vụ Terry Dawtrey,” cô nói.

Delacorte gật đầu tán thành.

“Gã đang thụ án 30 năm tù,” Elizabeth nói. “Ông có thấy lạ khi họ thả gã ra, dù chỉ trong vài tiếng đồng hồ thôi?”

“Viên quản lý nhà tù Kinross đã đưa ra quyết định đó, nhưng tôi chẳng ngạc nhiên chút nào. Khi cha ai đó chết, ta cũng nên linh động một chút chứ.”

“Nhưng Dawtrey là một tù nhân tai tiếng. Gã là kẻ đã bắn Harlan Spencer, trong khi hiện giờ Callie Spencer đang ứng cử vào Thượng viện.”

Delacorte uống một hớp cà phê rồi trả lời. “Theo tôi được biết, viên quản lý nhà tù đã hỏi ý kiến Harlan Spencer và ông ấy không hề phản đối. Chuyện này cũng chẳng khiến tôi ngạc nhiên. Tôi từng làm việc dưới quyền Harlan khi ông ấy còn là cảnh sát trưởng. Tôi không có ý nói rằng ông ấy tha thứ cho Dawtrey, nhưng tôi biết giờ ông ấy đã chấp nhận những chuyện đã xảy ra.”

“Hai cảnh sát của ông đã tới đón Terry Dawtrey ở nhà tù Kinross, chở gã tới nhà thờ rồi ra nghĩa trang.”

“Chúng tôi vẫn theo đúng quy trình chuẩn. Tôi đã giao cho Sam Tillman và Paul Rhiner áp tải Dawtrey. Họ làm việc này nhiều lần rồi, chưa từng xảy ra vấn đề gì cả.”

“Vậy lần này có chuyện gì thế?”

Viên cảnh sát trưởng nhìn quanh quán ăn, tôi tưởng ông ta định gọi bồi bàn tới rót thêm cà phê, nhưng hóa ra là để đảm bảo không có ai ngồi gần mà nghe trộm.

“Chuyện này chỉ riêng chúng ta biết thôi nhé,” ông ta nói.

“Đương nhiên rồi,” Elizabeth đáp.

“Tillman và Rhiner bị đình chỉ rồi và tất cả vụ việc đang được điều tra. Nhớ là cô phải giữ bí mật những gì tôi kể đấy.”

“Tôi hiểu,” cô nói.

Ông ta ném cho tôi một cái nhìn cảnh cáo và tôi cũng nhìn lại. Tôi nghĩ ông ta coi tôi cũng vô hại thôi.

“Sự thật là họ làm hỏng bét mọi chuyện,” ông ta nói. “Terry Dawtrey tỏ ra biết điều lúc ở nhà thờ. Khi tới nghĩa trang, Tillman và Rhiner lơ là một chút. Đáng ra họ phải kè kè bên cạnh Dawtrey mọi lúc mọi nơi mới phải. Tillman là một thành viên của giáo đoàn nhà thờ Saint Joseph. Anh ta đứng lại bên huyệt mộ nói chuyện với linh mục. Rhiner thì để Dawtrey đi quanh đó. Dawtrey bảo cậu ta rằng gã muốn tới thăm mộ bà nội. Rhiner giữ khoảng cách phía sau gã. Họ đã xiềng chân Dawtrey lại rồi. Gã có thể chạy đi đâu được cơ chứ?”

“Thế mà Dawtrey lại tháo được xiềng chân,” Elizabeth nói.

“Gã có người trợ giúp. Ai đó đã đặt một bình hoa hồng trước mộ bà nội gã, bên cạnh là chìa khóa để mở còng lẫn trong bãi cỏ.”

Tôi chỉ tay vào tập bản thảo. “Trong này cũng có chi tiết đó.”

“Nó cũng được in trên báo rồi,” Delacorte nói. “Chúng tôi chưa biết chiếc chìa khóa có nguồn gốc từ đâu. Đáng ra phải kiểm soát gắt gao việc mua bán chìa khóa còng, nhưng tôi từng thấy chúng được rao bán trên eBay[1].” Ông ta nói thêm cho tôi hiểu, “Khóa còng tay gần như giống hệt nhau. Chỉ cần một loại chìa khóa là có thể mở được hết.”

Cô bồi bàn trở lại với ấm cà phê và Delacorte lại thêm đường cùng kem vào cốc.

“Còn những bông hồng thì sao?” tôi hỏi ông ta. “Ông đã thử điều tra nguồn gốc của chúng chưa?”

“Hoa hồng cũng chỉ là hoa thôi. Chúng tôi không thể lần theo chúng tới một cửa hàng cụ thể. Trên chiếc bình không có dấu vân tay nào.”

Ông ta nhướn mày như thể mời chào tôi hỏi thêm câu khác. Khi tôi không hỏi gì thêm, ông ta quay lại với Elizabeth và nói tiếp những gì đang bỏ dở.

“Khi Dawtrey mở được khóa xiềng, gã chạy tới hàng rào nghĩa trang. Rhiner kêu gã đứng lại. Dawtrey trèo qua hàng rào và chắc sẽ tẩu thoát thành công nếu Rhiner không bắn gã. Ai đó đã để săn một chiếc xe cho gã ở bên kia nghĩa trang. Đó là một chiếc Camaro cũ thuộc sở hữu của một thằng nhóc giao bánh pizza. Nó đã bị lấy cắp đêm hôm trước. Thằng nhóc cứ để xe nổ máy trước một tòa căn hộ lúc vào đó giao bánh, khi quay ra thì chiếc xe đã biến mất.”

“Có manh mối gì về thủ phạm đánh cắp chiếc xe không?” Elizabeth hỏi.

“Dĩ nhiên là chẳng ai biết gì cả,” Delacorte nói. “Và các dấu vân tay trên xe cũng đã bị xoá sạch. Chúng tôi tìm thấy chìa khóa xe trên tấm che nắng, ít tiền mặt trong ngăn đựng găng tay và quần áo cùng với giày trong cốp xe.”

“Một kế hoạch đã được lên rất kĩ lưỡng,” cô nói.

“Phải. Và còn kẻ đánh lạc hướng nữa. Hai thằng nhãi đi xe đạp đốt pháo trong bãi đỗ xe của nghĩa trang. Chúng thu hút sự chú ý khỏi Dawtrey đúng lúc cần thiết, để gã có thể mở khóa còng.”

“Và ông chưa nhận diện được chúng?”

Ông ta lưỡng lự, mắt nhìn xuống cốc cà phê. “Cô phải hiểu hoàn cảnh lúc đó. Các cảnh sát của tôi đều rất vất vả. Rhiner ghét phải bắn Dawtrey. Sau khi nổ súng, cậu ta đã trèo qua hàng rào để hồi sức tim phổi cho gã. Tillman thì phải xoay sở với đám đông những người đưa tang. Anh này đã gọi yểm trợ qua radio. Không ai có thời gian đuổi theo hai thằng nhãi đi xe đạp cả.”

“Không ai trong đoàn người đưa tang nhận diện được hai cậu bé đó?”

Delacorte ngẩng lên khỏi cốc cà phê và thở dài.

“Tôi không biết nói sao cho cô khỏi phật ý, thám tử Waishkey ạ.”

“Thì ông cứ nói đi.”

“Ở đây có một cái vịnh tên là Waishkey. Nó được đặt theo tên một tù trưởng tộc Chippewa. Cô có gốc gác Chippewa không, thám tử?”

“Waishkey là tên chồng cũ của tôi[2].”

“Tôi không hỏi cái đó,” Delacorte nói, “nhưng tôi không phiền đâu. Charlie Dawtrey mang dòng máu Chippewa. Con ông ta là Terry cũng thế. Tôi dám cá tất cả những người tới đưa tang ít nhiều đều mang dòng máu Chippewa. Tôi phải làm việc với người Chippewa suốt và thường thì họ cũng hợp tác như mọi người. Nhưng lần này, một cảnh sát da trắng đã bắn chết một người Chippewa - cho dù gã là tù nhân đang cố gắng đào tẩu. Việc này khiến dân cư giận dữ. Và khi cảnh sát trưởng tới yêu cầu họ giúp truy tìm hai đứa trẻ Chippewa thì sao? Chẳng ai ở nghĩa trang đó sẵn lòng tiết lộ điều gì cả.”

“Vậy không ai nói với ông rằng họ thấy một người mang súng trường phục trên đồi?”

“Không.”

“Và không ai nói rằng họ nghe thấy một tiếng súng thứ hai, ngoài phát súng của Rhiner bắn Dawtrey?”

Viên cảnh sát nhăn mặt khổ sở. “Nếu hỏi quanh, cô sẽ nghe được khối chuyện về những phát súng. Người thì lầm tưởng tiếng pháo là tiếng súng, kẻ thì cố tình gây rắc rối cho việc điều tra. Có tin đồn cho rằng Rhiner đã nã cả băng đạn vào Dawtrey, nhưng tôi có thể cam đoan với cô: Hôm đó, chỉ có một phát súng được bắn ra mà thôi.”

“Vậy không ai trong hai cảnh sát của ông nghe thấy một tiếng súng nữa?” Elizabeth nói. “Có thể họ lầm tưởng nó là tiếng vọng.” Cô ra hiệu về phía tập bản thảo. “Theo những gì được viết trong này, kẻ mang súng trường bóp cò đúng lúc hắn nghe thấy tiếng súng của Rhiner.”

“Ba phía nghĩa trang được đồi núi bao quanh. Ai nghĩ rằng mình nghe thấy tiếng vang có thể đã đúng.” Delacorte xoè bàn tay đập đập lên mặt bàn - dấu hiệu cho thấy ông ta muốn kết thúc buổi nói chuyện ở đây. “Chúng ta có thể bàn tới bàn lui chuyện này, nhưng tôi còn nhiều việc phải làm và chắc các vị cũng có những cách giết thời gian thú vị hơn.”

Ông ta với lấy ví và bắt đầu đếm tiền. Tôi cũng làm theo. Cô bồi bàn để hoá đơn giữa chúng tôi.

“Trong lúc còn ở đây,” Delacorte nói, “các vị phải tới thăm cửa bến Soo Locks. Đó là cửa bến bận rộn nhất thế giới: Tàu bè qua lại đó mỗi năm lên tới hàng vạn chiếc. Và nếu có cơ hội vượt biên giới sang Canada, tôi khuyên các vị nên đi tàu hỏa thăm thung lũng Agawa. Cảnh vật ở đó đẹp tuyệt trần.”

Ông ta lách mình ra khỏi bàn và đứng lên.

“Tất cả những sự việc này y như tôi đã nói rồi. Không có uẩn khúc gì về chuyện đã xảy ra với Terry Dawtrey. Gã cố tẩu thoát rồi bị bắn. Câu chuyện của các vị về kẻ nằm trên đồi và khẩu súng của hắn - tôi không quan tâm. Tôi có thể lý giải được những gì đã xảy ra mà không cần tới thông tin đó. Đôi khi cách lý giải đơn giản nhất lại chính xác. Chẳng có ai trên quả đồi đó cả.”

❀ ❀ ❀

[1] Một website đấu giá trực tuyến, nơi mọi người khắp nơi trên thế giới có thể mua bán hàng hóa và dịch vụ.

[2] Theo văn hoá các nước phương Tây, người phụ nữ khi lập gia đình sẽ đổi họ của mình theo họ của chồng.

n trên. Tôi mở một trang ở giữa và đọc lướt trang giấy được đánh máy, xem ngẫu nhiên vài từ: đẩy, đổ vỡ, đèn bàn, đau đầu. Chỉ là một mớ hỗn độn, nhưng điều đó không quan trọng. Riêng câu mở đầu đã nói lên tất cả, phần còn lại chỉ là tiểu t
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.