Jerusalem Những Thăng Trầm Lịch Sử

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 48 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Dòng Dõi Umayyads Đền Thờ Được Phuc Hồi 660–750

❊ ❊ ❊

MUAWIYA: CAESAR CỦA Ả RẬP

Muawiya cai trị Jerusalem 40 năm, trước tiên với vai trò thống đốc Syria và sau đó là nhà chuyên chế của đế chế Ả Rập rộng lớn bành trướng về phía đông và phía tây với tốc độ đáng kinh ngạc. Nhưng giữa tất cả những thành tựu này, một cuộc nội chiến về việc kế nghiệp gắn như tàn phá Hồi giáo và tạo ra rạn nứt còn gây chia rẽ đến tận ngày nay.

Năm 644, Omar bị ám sát và người kế vị là Othman, một người anh em họ với Muawiya. Sau hơn 10 năm, Othman bị nhân dân căm ghét vì thói gia đình trị. Rồi ông cũng bị ám sát và người em họ của Nhà Tiên Tri, Ali, cũng là người kết hôn với con gái ông Fatima, được chọn làm người Chỉ huy các Tin hữu. Muawiya yêu cầu Ali trừng phạt bọn sát nhân – nhưng vị Chỉ huy mới từ chối. Muawiya sợ sẽ mất lãnh thổ của mình ở Syria. Ông đánh thắng cuộc nội chiến diễn ra sau đó, Ali bị giết chết ở Iraq, và thế là kết thúc thời trị vì của người cuối cùng trong nhóm gọi là các Kha-lip Công chính.

Vào tháng 7 661, các nhà có máu mặt thuộc đế chế Ả Rập họp nhau trên Núi Đền ở Jerusalem để tôn vinh Muawiya làm Chỉ huy các Tín hữu và thề trung thành theo truyền thống Ả Rập –bayah (Một cái bắt tay coi như một khế ước sẽ chịu tuân phục). Sau đó người Chỉ huy mới thăm Mộ Thánh và Lăng mộ Trinh nữ Mary, không với tư cách một khách hành hương mà chỉ để chứng tỏ sự tiếp nối của các tôn giáo và vai trò hoàng đế của ông với tư cách người bảo hộ của những thánh địa. Ông cai trị từ Damascus, nhưng ông yêu quí Jerusalem đến nỗi in trên đồng tiền của ông ‘Iliya Filastin’ –Aelia Palestina. Ông cũng tính lập nó làm kính đô và điều chắc chắn là ông thường cư ngụ ở đây tại một trong những cung điện xa hoa của mình ngay phía nam Đền Thờ mà có thể chính ông đã xây dựng. Muawiya vay mượn các truyền thống Do Thái về Núi Đền dễ tuyên bố Jerusalem là ‘vùng đất tề tựu và phục sinh vào Ngày Phán Xét’, và ông nói thêm, ‘Khu vực giữa hai bức tường của thánh đường này thân thiết với Thượng Đế hơn bất cứ vùng nào khác trên trái đất.’

Các tác giả Cơ đốc ca tụng sự trị vì của ông là công minh, hoà bình và khoan thứ; người Do Thái gọi ông là ‘người yêu quí của Israël’. Quân đội của ông có mặt người Cơ đốc; đúng ra ông kết dính mối đồng minh với các bộ tộc Ả Rập theo đạo Cơ đốc bằng cách cưới Maysun, con gái tộc trưởng của họ, và cô được phép vẫn giữ đạo mình. Hơn nữa, ông cai trị quaMansur ibn Sanjun(tiếng Ả Rập của từ Sergius), một bộ máy hành chính Cơ đốc kế thừa từ Heraclius. Muawiya đã lớn lên bên cạnh những người Do Thái ở Ả Rập, và người ta kể rằng khi có phái đoàn nào của họ đến thăm viếng ông việc đầu tiên ông hỏi là trong đoàn có ai biết nấu mónhariskhoái khẩu mà ông từng thưởng thức ở quê nhà. Muawiya cho định cư nhiều người Do Thái hơn ở Jerusalem, cho phép họ cầu nguyện ở đó tại địa điểm Nơi Chí Thánh, vết tích của một cây đànmenorahcủa người Do Thái trên Núi Đền, có niên đại từ thế kỷ 7, có thể mình chứng cho điều ấy.

Muawiya ắt hẳn là người sáng lập thực sự của Núi Đền Hồi giáo như ngày nay. Chính ông là người thực sự xây dựng thánh đường Hồi giáo đầu tiên tại đó. Ông làm bằng phẳng đá của Pháo đài Antonia cổ, mở rộng diện tích và bổ sung một lục giác lộ thiên, Mái Vòm Dây Xích: không ai biết để dùng vào việc gì nhưng vì nó ở ngay chính giữa Núi Đền, nó có thể đánh dấu điểm trung tâm của thế giới. Muawiya, một người đương đại viết, ‘đẽo Núi Moriah và làm nó bằng phẳng để xây dựng một thánh đường ở đó ngay trên tảng đá thánh’. Khi một giám mục xứ Gaul (Pháp ngày nay) tên Arculf đến thăm Jerusalem, ông thấy rằng ‘tại nơi trước kia là Đền Thờ, giờ đây người Saracen lui tới một ngôi nhà cầu nguyện hình thuôn ráp lại với nhau bằng những tấm vách ngăn thẳng đứng và những thanh xà to lớn bắc qua một số tàn tích đổ nát, được cho là có thể chứa được 3,000 người.’ Nó ít khi được nhận ra là một thánh đường nhưng ắt hẳn toạ lạc tại nơi al-Aqsa đứng ngày nay.

Muawiya là hiện thân củahilm,sự khôn ngoan và nhẫn nại của tộc trưởng Ả Rập: ‘Tôi không sử dụng đến gươm khi phạt roi là đủ, không sử dụng đến roi khi lưỡi tôi là đủ. Và cho dù chỉ có một cọng tóc trói buộc tôi với các anh em, tôi cũng không để nó đứt. Khi họ căng, tôi giãn, nếu họ giãn tôi căng.’ Đây gần như là đúc kết thuật trị nước và Muawiya, người sáng lập vương triều Ả Rập và vị vua đầu tiên của triều đại Umayyad, là một kiểu mẫu toàn bích từ lâu bị phớt lờ về cách thức quyền lực tuyệt đối được thực thi mà không phải lâm vào cảnh thối nát chắc chắn. Ông mở rộng lãnh địa của mình đến tận đông Ba Tư, Trung Á và bắc Phi và ông chiếm Cyprus và Rhodes, biến người Ả Rập thành một cường quốc trên biển với lực lượng hải quân mới. Ông phát động những trận tấn công hàng năm vào Constantinople, và trong một dịp vây hãm trên bộ và biển trong ba năm.

Vậy mà Muawiya không hề đánh mất khả năng tự cười cợt mình, một phẩm chất cực hiếm trong các chính trị gia, nói chi đến nhà chinh phục. Ông càng ngày càng to béo (có lẽ đây là lý do ông trở thành quân vương Ả Rập đầu tiên ngồi dựa trên ngai vàng thay vì ngồi thẳng lưng trên đệm. Ông trêu chọc một nhà quí tộc béo phì khác: ‘Tôi thích có một nữ nô tì có cặp đùi như ngài.’

‘Và một cái mông như của hoàng thượng, vị Chỉ huy các Tín hữu,’ ông già kia đáp lại.

‘Quá công bình,’ Muawiya cười to. ‘Nếu người khởi đầu một một việc gì đó, ngươi phải gánh chịu hậu quả của nó.’ Ông không bao giờ thôi tự hào về khả năng tình dục huyền thoại của mình nhưng thậm chí về chuyện đó ông cũng có thể đùa cợt được: ông đang hành lạc với một hầu thiếp Khurasani trong chốn khuê phòng thì được trình lên một cô gái khác và ông chiếm đoạt ngay mà không lấy gì làm nhọc mệt. Khi cô ta đi khỏi, ông quay lại với hầu thiếp Khurasani, tự hào về sức mạnh như sư tử của mình: ‘Tiếng Ba Tư “sư tử” gọi là gì?’ ông hỏi nàng.

‘Kaftar,’ nàng trả lời.

‘Ta là một kafta,’ vị chỉ huy huênh hoang với các cận thần cho đến khi có người hỏi ông biết kaftar có nghĩa gì không.

‘Sư tử?’

‘Không, một linh cẩu què!’

‘Giỏi lắm,’ Muawiya cười khúc khích, ‘con nhỏ Khurasani đó biết cách trả thù ta.’

Khi ông mất ở tuổi bát tuần, người kế vị ông Yazid, một gã trác táng đi đâu cũng dắt theo con khỉ cưng, được tôn làm Chỉ huy trên Núi Đền nhưng sớm đương đầu với hai cuộc bạo loạn ở Ả Rập và Iraq, khởi đầu nội chiến thứ hai của Hồi giáo. Kẻ thù chế nhạo ông: ‘Yazid rượu chè, Yazid gái gú, Yazid chim chó, Yazid khỉ khẹt, Yazid hũ chìm.’

Cháu ngoại của Nhà Tiên Tri là Hussein nổi dậy để trả thù cho cái chết của cha mình Ali, nhưng bị chặt đầu tại Karbala ở Iraq, cái chết của ông tạo ra sự rạn nứt giữa đa số là Sunni và người Shia, ‘đảng của Ali’. [1]

Nhưng vào năm 683 Yazid chết yểu, và quân đội Syria triệu hồi thân nhân Marwan lớn tuổi mưu trí của ông lên làm Chỉ huy. Khi Marwan chết vào tháng 4 năm 685, con trai ông Abd al-Malik được tôn làm Chỉ huy ở Damascus và Jerusalem. Nhưng đế chế của ông mong manh: Mecca, Iraq và Ba Tư bị các phe nổi loạn kiểm soát. Vậy mà chính Abd al-Malik là người đã gắn cho Jerusalem theo Hồi giáo viên ngọc quí trên vương miện của cô nàng.

 

ABD AL-MALIK: VÒM ĐÁ

Abd al-Malik không chịu được những kẻ xuẩn ngốc. Khi một nịnh thần ca tụng ông, ông tạt ngang, ‘Đừng nịnh bợ ta. Ta biết mình rõ hơn nhà ngươi.’ Dựa theo hình khắc trên đồng tiền rất hiếm có của ông, ông trông nghiêm khắc, mảnh dẻ và mũi quặp. Tóc quăn xoả ngang vai, và ông mặc áo choàng dài có thêu với một thanh gươm vắt vào dây nịt (hình dưới). Và đây là một người tình hoàng gia khác cũng thích suy gẫm về tình dục: ‘Ai muốn lấy một nữ nô lệ mua vui thì hãy chọn một cô xứ Berber; muốn sinh con, lấy một cô Ba Tư; muốn một người giúp việc nhà, lấy một cô Byzantine.’ Abd al-Malik lớn lên trong một môi trường gai góc. Lúc 16, ông đã chỉ huy một đạo quân đánh lại người Byzantine; ông đã chứng kiến anh họ mình, Othman người Chỉ huy các Tín hữu, bị sát hại; và chín chắn thành một quân vương thần thánh không hề sợ bẩn tay. Ông bắt đầu bằng việc tái chính phục Iraq và Iran. Khi bắt được một thủ lĩnh phiến quân, ông tra tấn y công khai trước mặt dân chúng Damascus, cột cổ y bằng sợi dây bạc và lôi đi chung quanh như lôi một con chó trước khi ‘ngồi xổm lên ngực y, phanh thây, ném thủ cấp cho thủ hạ.’

 

2

Kha-lip Abd al-Malik (hình trên trong một đồng tiền Hồi cuối cùng có khắc hình người) là người định hình thực sự cho Hồi giáo và một chính khách có tầm nhìn – nhưng người ta kháo rằng hơi thở ông độc hại đến nỗi có thể giết được ruồi.

 

Mecca hiện giờ vẫn còn quá tầm tay ông, nhưng ông sở hữu Jerusalem, nơi ông tôn kính không kém Muawiya. Abd al-Malik hình dung một đế chế Hồi giáo thống nhất khi ra khỏi cuộc nội chiến thứ hai, với Bilad al-Shams- Syria- Palestine – là trung tâm: ông dự kiến một xa lộ nối Jerusalem với Damascus. Muawiya đã lên kế hoạch xây dựng bên trên Tảng Đá: giờ Abd al-Malik bỏ ra số tiền bằng số thu nhập bảy năm của Ai Cập để xây dựng Vòm Đá.

Thiết kế đơn giản một cách tinh tế: một mái vòm, đường kính 65 bộ được nâng đỡ bởi một bệ hình ống, tất cả đặt trên những bức tường bát giác. Vẻ đẹp, sức mạnh và nét giản dị của Vòm cũng sánh ngang với tính bí ẩn của nó: chúng ta không biết chính xác tại sao Abd al-Malik xây dựng nó – ông không hề tiết lộ. Nó thực sự không giống một thánh đường mà là một điện thờ. Hình dạng bát giác của nó trông giống điện thờ các thánh tử đạo Cơ đốc, đúng ra mái vòm của nó khiến liên tưởng đến mái vòm của Mộ Thánh và Hagia Sofia ở Constantinople nhưng những lối đi vòng cung thiết kế để đi vòng quanh khiến nhớ đến Đá Kaaba ở Mecca.

Tảng Đá là địa điểm thiên đường của Adam, bệ thờ của Abraham, nơi David và Solomon vẽ thiết kế Đền Thờ sau đó được Muhammad đến thăm trong cuộc Dạ Hành của ông. Abd al-Malik đang tái dựng Đền Thờ Do Thái cho một khải thị thực sự của Thượng Đế, đạo Hồi.

Tòa nhà không có trục trung tâm nhưng được bao quanh ba lần – đầu tiên là bức tường ngoài cùng, tiếp theo là đường có mái vòm bát giác và rồi ngay bên dưới mái vòm, tắm trong ánh mặt trời, đường có mái vòm đi quanh chính Tảng Đá: như muốn tuyên bố rằng nơi này chính là trung tâm của thế giới. Mái vòm chính là bầu trời, kết nối với Thượng Đế bằng kiến trúc của con người.

Mái vòm bằng vàng và những trang trí xum xuê và chất đá trắng lấp lánh tuyên bố đây là Vườn Địa Đàng mới, và là địa điểm cho Sự Phán Xét Cuối Cùng khi Abd al-Malik và triều đại Umayyad của ông, sẽ giao nộp vương quốc của họ cho Thượng Đế vào Giờ Khắc của Ngày Cuối Cùng. Sự phong phú của hình ảnh – trang sức, cây cối, hoa quả và vương miện – khiến nó thành một tòa nhà vui vẻ cho dù không phải là khách Hồi giáo – óc tưởng tượng và cộng với tính dục lạc của Eden thêm vào vẻ lộng lẫy của David và Solomon.

 

Image
4

Vòm Đá của Abd al-Malik khẳng định tình ưu việt của đạo Hồi và đế chế Umayyad của ông, thách thức đạo Cơ đốc, vượt xa Nhà Thờ Mộ Thánh và đề cao người Hồi chính là người kế vị người Do Thái bằng cách xây dựng Vòm Đá trên Tảng Đá nền móng của Đền Thờ Do Thái.

 

Thông điệp của Vòm do đó cũng mang tính đế chế: vì ông không chiếm lại được Mecca từ tay bọn phản loạn, nên ông dùng Vòm Đá để tuyên bố sự vĩ đại và trường tồn của triều đại mình cho toàn thế giới Hồi giáo biết – và có thể, nếu ông không lấy lại được Kaaba, ông có thể chọn nơi đây làm Mecca mới của mình. Mái vòm bằng vàng phóng chiếu sự hiển hách của ông như một hoàng đế Hồi giáo. Nhưng nó có một cử tọa rộng lớn hơn: như Hagia Sofia của Justinian ở Constantinople đã vượt qua Solomon, Abd al-Malik đang vượt qua Justinian, và Constantine Đại Đế nữa. Mỉa may thay, những tranh khảm ắt hẳn là tác phẩm của các nghệ nhân Byzantine, được Justinian II cho vị Chỉ huy mượn trong khoảng thời gian hoà binh hiếm hoi giữa các đế chế.

Sau khi nó được hoàn thành vào năm 691/2, Jerusalem không bao giờ giống như thế lần nữa: Tầm nhìn đáng kinh ngạc của Abd al-Malik nắm bắt đường chân trời của Jerusalem cho người Hồi bằng cách xây dựng trên ngọn núi khống chế thành phố mà người Byzantine khinh thị. Về vật lý, Vòm Đá thống trị Jerusalem và làm lu mờ Nhà Thờ Mộ Thánh – và đó là mục đích của Abd al-Malik. Đến tận thế kỷ 21, người Hồi còn chế giễu gọi Nhà Thờ Mộ Thánh, thay vì bằng tên Ả Rập là Kayamah, lại gọi trại là Kumamah – Đống Phân. Vòng quanh tòa nhà, ông đặt bảng khắc chữ dài 800 bộ bài bác ý tưởng về tính thánh của Jesus, nhắc nhở trực tiếp về mối liên hệ mật thiết giữa hai niềm tin của những người độc thần: họ chia sẻ nhiều thứ trừ thuyết Tam Ngôi. Những chữ khắc thật tuyệt vời vì chúng là những gì ta biết đầu tiên về văn bản Koran mà Abd al-Malik đang kết tập thành hình thái cuối cùng.

‘Hỡi Dân tộc của Kinh thánh đừng vượt qua giới hạn của tôn giáo mình và đừng nói điều gì về Thượng Đế trừ ra sự thật,’ bảng chữ khắc quanh Vòm Đá viết. ‘Thật ra Đấng Cứu Thế Jesus con trai của Mary chỉ là một sứ giả của Thượng Đế vì thế hãy tin tưởng Thượng Đế và sứ giả của người và đừng nói “ba”… Thượng Đế không phải nhìn nhận một người con.’ Lời này hình như là công kích vào giáo điều Ba Ngôi hơn là vào toàn bộ đạo Cơ đốc... Về phần người Do Thái, việc tế lễ hai tuần một lần ở đó tưởng nhớ đến Đền Thờ Do Thái một cách mạnh mẽ: ‘Vào mỗi thứ ba và thứ năm, họ sử dụng nghệ tây và chuẩn bị xạ hương, diên hương và gỗ đàn hương được ướp hương hoa hồng. Sau đó những người tế lễ (Do Thái và Cơ đốc) ăn và bước vào nhà tắm để thanh tẩy. Họ đi đến kho quần áo và bước ra trong y phục mới xanh và đỏ với băng quấn đầu và dây lưng. Rồi họ đi đến Tảng Đá và xúc dầu thánh.’ Như học giả Andreas Kaplony viết, đây là ‘một nghi thức tế lễ Hồi giáo, tế lễ cho Đền Thờ theo kiểu mà người Hồi nghĩ là phải như vậy. Nơi tóm lại, đây là Đền Thờ trước đây được xây dựng lại, Kinh Koran là Kinh Torah mới và người Hồi là dân tộc đích thực của Israël.’

 

Người Do Thái ít quan trọng về mặt đế chế nhưng quan trọng hơn về mặt thần học. Vòm Đá được bảo quản bởi 300 nô lệ da đen và 20 nhân viên Do Thái và 10 Cơ đốc. Người Do Thái không thể nhìn Vòm Đá mà không cầm lòng hi vọng: đây có phải là Đền Thờ mới của mình? Họ còn được phép cầu nguyện ở đó và nhà Umayyad còn sáng tạo ra một phiên bản Hồi giáo của những nghi thức Đền Thờ như thanh tẩy, xức dầu thánh và đi vòng quanh tảng đá.

Vòm Đá có một mãnh lực vượt quá tất cả điều này: nó xếp ở vị trí như một trong những tuyệt tác nghệ thuật kiến trúc vượt thời gian; sự rực rỡ của nó là tiêu điểm của mọi cặp mắt bất cứ người nhìn đứng ở đâu trong Jerusalem. Nó lấp lánh như một lâu đài thần bí vươn ra khỏi không gian quang đãng và thanh thoát và ngay lập tức trở thành một thánh đường lộ thiên bề thế, thánh hóa tất cả khoảng không gian chung quanh nó. Núi Đền thình lình trở thành – và vẫn còn là – một nơi để giải trí và thư giãn. Đúng là Vòm Đá tạo ra một thiên đường trên mặt đất kết hợp sự tĩnh lặng và tham dục của thế giới này với sự thiêng liêng của kiếp sau, và đó chính là tài nghệ của người kiến tạo ra nó. Thậm chí trong những năm đầu tiên sau khi hoàn thành, theo lời Ibn Asakir, không có gì lạc thú hơn là ăn một trái chuối dưới bóng râm của Vòm Đá’. Nó xếp hạng cùng với các Đền Thờ của Solomon và Herod là một trong những công trình tôn giáo thành công nhất từng được xây 6 và, trong thế kỷ 21, nó đã trở thành biểu tượng du lịch thế tục tối hậu, điện thờ của Hồi giáo trỗi dậy và vật tổ của chủ nghĩa dân tộc Palestine: ngày nay nó vẫn còn là biểu tượng của Jerusalem.

Ngay sau khi Vòm Đá xây dựng xong, quân Abd al-Malik chiếm lại được Mecca và tiếp tục cuộc thánh chiến để mở rộng vương quốc của Thượng Đế chống lại người Byzantine. Ông bành trướng đế chế khổng lồ này về phía tây băng qua bắc Phi và về phía đông vào tận Sind (Pakistan ngày nay). Nhưng trong lãnh địa của mình, ông cần thống nhất Ngôi Nhà Hồi giáo như một tôn giáo độc nhất dựa trên Muhammad, được thể hiện trong cặp tín điều giờ đây xuất hiện trong nhiều bảng chữ khắc: ‘Không có Thượng Đế ngoài Thượng Đế, và Muhammad là tông đồ của Thượng Đế.’ Các lời dạy của Nhà Tiên Tri –hadith– được tập họp và bản in đầy đủ Kinh Koran của Abd al-Malik trở thành nguồn lực vô địch của tính hợp pháp và thiêng liêng. Các nghi thức càng ngày càng được xác định nghiêm ngặt; các ảnh khắc bị cấm tuyệt – ông ngưng đúc tiền đồng có in chân dung mình.

Abd al-Malik giờ tự xưng là Khalifat Allah, Phó Thượng Đế, và từ giờ trở đi các nhà cai trị Hồi giáo được gọi là kha-lip. Các phiên bản chính thức về tiểu sử sớm nhất của Muhammad và Công cuộc Chinh phục Hồi giáo loại trừ người Cơ đốc và Do Thái ra khỏi đạo Hồi. Việc quản trị hành chính đều được Ả Rập hóa. Như Contantine,

Abd al-Malik tin tưởng vào một đế chế phổ quát của một nền chuyên chính, một Thượng Đế, và hơn ai khác chính ông là người giám sát sự tiến hóa của cộng đồng Muhammad thành đạo Hồi ngày nay.

 

WALID: KHẢI HUYỀN VÀ XA HOA

Jerusalem có một điện thờ trong Vòm Đá nhưng chưa phải là một thánh đường hoàng gia, vì thế Abd al-Malik và con trai Walid, người kế vị ông, sau đó xây dựng Thánh đường al-Aqsa, thánh đường của Jerusalem dành cho tín đồ bình dân đến cầu nguyện vào thứ sáu, tại biên giới phía nam của Núi Đền. Các Kha-lip, như Herod, xem Núi Đền như là tâm điểm của Jerusalem. Lần đầu tiên kể từ 70 SCN, họ xây dựng một Cầu Lớn mới băng qua thung lũng cho khách hành hương đi vào Núi Đền từ phía tây, qua Cung Vòm Wilson, ngày nay là Cổng Dây Xích. Để đi vào từ hướng nam, họ tạo ra các Cổng Kép có mái vòm, khớp với Cổng Vàng về phong cách và vẻ đẹp.

Lúc nào cũng vậy ở Jerusalem, vật liệu xây dựng được mượn từ nơi khác, vì thế các thanh xà gỗ của Aqsa được lấy từ một địa điểm Cơ đốc, vẫn còn được đánh dấu bằng chữ Hy Lạp với tên của Giáo trưởng thế kỷ thứ 6 (hiện giờ nằm trong Bảo tàngRockefeller và Haram). Cổng Đôi và Ba ở hướng nam, khớp với Cổng Vàng ở hướng đông, tất cả giờ đây đã khép kín, là cổng đẹp nhất ở Jerusalem, xây dựng nhờ đá từ các công trình cũ của Herod và La Mã.

 

Đây là thời khắc sôi nổi ở Jerusalem. Trong khoảng thời gian một ít năm, các kha-lip đã biến Núi Đền thành một điện thờ Hồi giáo thiêng liêng và biến Jerusalem thành một thành phố hoàng gia Umayyad và điều này một lần nữa tháo xiềng cho cuộc cạnh tranh lây nhiễm giữa các điện thờ và những câu chuyện đặc trưng của Jerusalem thậm chí đến tận ngày nay. Người Cơ đốc lấy cắp nhiều huyền thoại Do Thái và dần dần cho vào ngôi điện thờ trung tâm là Mộ Thánh. Nhưng giờ đây sự vươn lên của Vòm Đá và al-Aqsa lại xáo trộn những huyền thoại cũ thêm một lần nữa: một dấu chân trên Tảng Đá trước đây từng được chỉ cho khách hành hương Cơ đốc nói là dấu chân của Jesus thì giờ đây trở thành dấu chân của Muhammad. Người Umayyad bao phủ Núi Đền với những mái vòm mới tất cả đều liên kết với truyền thống Kinh thánh từ Adam và Abraham qua David và Solomon đến Jesus. Kịch bản về Ngày Phán Xét Cuối Cùng của họ xảy ra trên Núi Đền, khu Tảng Đá Kaaba sẽ đến Jerusalem.

‘Mỗi linh hồn đều nếm trải cái chết và bạn sẽ chỉ được trả đầy đủ vào Ngày Phục Sinh,’ Kinh Koran dạy. Người Hồi tạo ra một khu vực địa lý của Khải Huyền chung quanh Jerusalem. Lực lượng xấu ác sẽ bị tiêu diệt trước Cổng Vàng. Mahdi – Người Được Chọn – chết khi Hòm Giao ước được đặt trước ông ta. Thấy Hòm Giao ước, người Do Thái liền cải sang đạo Hồi. Kaaba của Mecca sẽ đến Jerusalem với tất cả những ai đã từng hành hương đến Mecca. Thiên đường hạ xuống Núi Đền và Địa ngục xuất hiện ở Thung lũng Hinnom. Những người tụ tập bên ngoài Cổng Vàng trên Bình Nguyên – al-Sahira. Israfil Tổng Thiên sứ của Tử Thần (một trong các cổng của Vòm Đá có tên đó) thổi một hồi kèn: những người chết (đặc biệt những người được chôn cất sát Cổng Vàng) sẽ được phục sinh và bước qua Cổng Vàng, cửa chính đến Ngày Cuối Cùng (với hai Cổng Thương Xót và Ăn Năn có mái vòm), để được phán xét dưới Vòm Dây Xích.

 

Và không chỉ có Núi Đền: người Hồi đâm ra tôn kính bất cứ thứ gì liên quan đến David, mà giờ đây họ coi Thành lũy, người Cơ đốc gọi là Tháp David, là David’s Mihrab (hốc cầu nguyện của David): họ không phải là người cuối cùng lầm lẫn cái vĩ đại của Herod cho là của David. Nhà Umayyad không nghĩ chỉ xây dựng cho Thượng Đế mà còn cho chính mình.

Những kha-lip này là những người yêu lạc thú và có văn hóa: đây là đỉnh cao của đế chế Ả Rập – thậm chí Tây Ban Nha giờ cũng thuộc họ – và mặc dù Damascus là kinh đô của họ, họ trải nhiều thời gian ở Jerusalem. Ngay phía nam Núi Đền, Walid I và con trai ông xây dựng một phức hợp cung điện, không được biết cho đến khi được khai quật vào cuối thập niên 1960: chúng cao ba bốn tầng chung quanh những sân vườn mát mẻ và các kha-lip thậm chí có cả một lối đi hoàng gia đặc biệt vào tận al-Aqsa qua một cây cầu trên mái cung điện. Những tàn tích phát giác không cho biết gì nhiều hơn là kích cỡ của cung điện, nhưng các cung điện sa mạc còn sót lại của họ cho thấy họ ắt hẳn đã sống ở đấy xa hoa như thế nào

Cung điện sa mạc xa hoa nhất tiếng Ả Rập làqasrcòn sót lại ở Amra, thuộc Jordan ngày nay, nơi các kha-lip thư giãn trong những khu vực và nhà tắm riêng tư với nền khảm hình và hoạ tiết mô tả những cảnh săn bắn, những phụ nữ khỏa thân hay ăn mặc hở hang, những vận động viên, thần ái tình, thần dê và một con gấu thổi sáo. Walid I xuất hiện trong những bích họa Sáu Vua đầy màu sắc cho thấy những ông vua bị nhà Umayyad đánh bại như các hoàng đế Constantinople và Trung Quốc. Những bức tranh phong cách Hy Lạp suy đồi này dường như rõ ràng không có tính Hồi giáo, nhưng, như dòng họ Herod, có thể họ sống với bộ mặt khác ở nơi công cộng. Walid I kết thúc tình trạng chia sẻ với người Cơ đốc ở Damascus, xây dựng Thánh đường Umayyad ở đó, và ngôn ngữ hành chính giờ chuyển từ Hy Lạp sang tiếng Ả Rập. Vậy mà Jerusalem vẫn thuộc Cơ đốc một cách áp đảo. Người Hồi và Cơ đốc qua lại tự do: cả hai đều mừng lễ Dâng Hiến của Nhà Thờ Mộ Thánh vào tháng chín, thu hút một lượng lớn đến Jerusalem, đường phố đầy lạc đà và ngựa, lừa và bò. Các khách hành hương Cơ đốc, giờ thuộc Armenia và Georgia nhiều hơn Hy Lạp, hiếm khi chú ý những địa điểm Hồi giáo, trong khi người Do Thái ít khi đề cập đến người Cơ đốc. Dần dần những du khách càng ngày càng có khuynh hướng phiến diện và bớt muốn tìm hiểu những gì không phải thuộc tôn giáo mình.

Năm 715, em của Walid, Suleiman, được tôn vinh trên Núi Đền: ‘Chưa từng ai nhìn thấy cảnh tấn phong vị tân Kha-lip trọng thể đến như thế. An toạ dưới một trong những mái vòm trang trí bục nền, ông tiếp một cử tọa trên một biển thảm và gối với của cải chất đống chung quanh mình để phân phát cho binh sĩ.

Suleiman, người tiến hành cuộc tấn công Ả Rập đại qui mô cuối cùng vào Constantinople (và suýt chiếm được nó), ôm ấp kế hoạch sống ở Jerusalem và phong nó làm kinh đô và mang về đó của cải khổng lồ và một dân số đáng kể’. Ông thành lập thành phố Ramala như một trung tâm hành chính, nhưng chết trước khi có thể dời về đó.

Người Do Thái, nhiều người từ Iran và Iraq, định cư trong Thành phố Thánh, sống với nhau ở phía nam Núi Đền, giữ được đặc quyền cầu nguyện trên Núi Đền. Nhưng vào khoảng năm 720, sau gần như một thế kỷ tự do cầu nguyện ở đó, vị Kha-lip mới Omar II, một người, thật bất thường vào thời kỳ triều đại suy tàn này, khổ hạnh bám chặt vào chính thống Hồi giáo, ngăn cấm người Do Thái thờ cúng – và sự ngăn cấm này sẽ tiếp tục cho đến suốt thời trị vì còn lại của đạo Hồi. Người Do Thái bắt đầu cầu nguyện quanh bốn bức tường của Núi Đền và trong một nhà thờ Do Thái ngầm gọi làha-Meara– Hang động – tại Cổng Warren, gần như bên dưới Núi Đền gần Nơi Chí Thánh.

Trong khi các kha-lip Umayyad hưởng thụ cung điện kiểu Hy Lạp và nữ vũ công, đế chế lần đầu tiên tiến đến giới hạn. Các lực lượng Hồi giáo ở Tây Ban Nha đã thăm dò nước Pháp, nhưng vào năm 732, một quí tộc Pháp, Charles, Thị trưởng Palace của các nhà vua Merovingian, đánh bại một cuộc đột kích của quân Hồi tại thành Tours. Được nghênh đón như một Maccabee, ông trở thành Charles Martel – Búa Tạ.

Sử gia Ả Rập Ibn Khaldun viết, ‘Các triều đại có khoảng đời tự nhiên giống như con người’ và giờ đây những người Umayyad trần tục, suy đồi đã đến thời điểm kết thúc của họ. Trong một ngôi làng ở phía đông Jordan những hậu duệ của Abbas, chú của Nhà Tiên Tri, sinh sống. Họ từ lâu bí mật chống đối cách cai trị theo chủ nghĩa khoái lạc của nhà Umayyad, hoàn toàn không dính líu gì đến Muhammad. ‘Khổ cho Nhà Umayyad,’ lãnh tụ Abu al-Abbas của họ tuyên bố, ‘chúng thích phù du hơn vĩnh cửu; tội ác ám ảnh chúng; chúng chiếm đoạt những phụ nữ cấm kỵ.’ Nổi bất mãn lan tràn nhanh chóng. Thậm chí các bộ tộc của vùng đất trung tâm Syria trung kiên cũng nổi dậy – ngay cả Jerusalem. Vị kha-lip cuối cùng phải tràn vào thành phố và san bằng các tường thành của nó. Một trận động đất chấn động Jerusalem gây thiệt hại cho al-Aqsa và các cung điện như thể Thượng Đế đã nổi giận với nhà Umayyad. Người Cơ đốc và Do Thái ước mơ đây là Ngày Khải Huyền. Người Hồi cũng vậy, và mối đe doạ thực sự cho triều đại Umayyad xuất phát từ một nơi rất xa ở phương đông.

Năm 748, ở Khorasan, ngày nay thuộc đông Iran và Aghanistan, một người thần bí đầy thu hút có tên Abu Muslim chủ trương một đạo Hồi khắt khe hơn và được cai trị bởi một người thuộc dòng dõi Muhammad. Những người Hồi giáo mới ở vùng biên giới gia nhập đạo quân thuần khiết của ông, ăn mặc toàn màu đen và hành quân dưới những ngọn cờ đen và nghênh đón vịimammới đến, người đi trước vịMahdi, để cứu chuộc đạo Hồi.

Imam là lãnh tụ một giáo đường hay một cộng đồng nhưng theo phái Shia, imam có thể là những lãnh đạo tinh thần, được Thượng Đế chọn lựa và được ban quyền năng bất khả ô nhiễm. Những người Shiite theo giáo phái Thập Nhị ở Iran tin vào 12 imam đầu tiên thuộc dòng dõi con rể của Muhammad là Ali và Fatima và rằng Imam thứ 12 được ‘bí ẩn hóa’ – được Thượng Đế che giấu – và sẽ trở lại với vai trò là vị Madhi, bậc cứu thế tiên tri Được Chọn trong Ngày Phán Xét. Cộng hòa Hồi giáo Iran được thành lập bởi Giáo chủ Ayatollah Khomeini dựa trên kỳ vọng ngàn năm này: chỉ có nền cai trị bằng tăng lữ cho đến khi vị Imam trở lại.

 

Abu Muslim dẫn đạo quân chiến thắng của mình về hướng tây nhưng chần chừ không biết phải ủng hộ dòng Ali hay dòng Abbas – và cũng vẫn còn nhiều ông hoàng quanh quẩn. Nhưng chính Abu al-Abbas là người đánh bại vị cai trị cuối cùng nhà Umayyad và giải quyết luôn vấn đề này theo cách ông xứng đáng được gán biệt danh của mình.

❀ ❀ ❀

[1] Iran vẫn còn theo thần quyền người Shiite (người Hồi theo phái Shia). Người Shiite chiếm đa số ở Iraq và thiểu số lớn ở Lebanon.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Simon Sebag

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.