Tuyển Tập Truyện Ngắn Nguyên Bản Hoàn Chỉnh Của Guy De Maupassant

Lượt đọc: 2835 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Mẹ Sauvage

❊ ❊ ❊

Mười lăm năm đã trôi qua kể từ lần cuối tôi đặt chân đến Virelogne. Tôi trở lại nơi đây vào một buổi thu để đi săn cùng người bạn tên Serval, người vừa mới xây dựng lại lâu đài bị bọn Phổ phá hủy.

Tôi yêu mảnh đất ấy. Đó là một trong những chốn tuyệt diệu mang sức hút gợi cảm đối với thị giác, khiến ta yêu bằng một tình yêu thể xác. Những ai say đắm đồng quê đều giữ lại trong ký ức những mùa xuân, những cánh rừng, những đầm nước, hay những ngọn đồi quen thuộc từng lay động ta như những niềm vui lớn. Thỉnh thoảng, tâm trí ta lại hướng về một góc rừng, một khúc bờ sông, hay một vườn cây ngập tràn hoa lá — những cảnh tượng chỉ thoáng thấy một lần trong một ngày nắng rực rỡ, nhưng lại khắc sâu trong tim hệt như hình bóng của những người phụ nữ ta bắt gặp trên đường phố vào một buổi sáng mùa xuân trong bộ váy mỏng manh gợn sóng, để lại trong tâm hồn và thể xác một niềm khao khát khôn nguôi không thể nào quên, một cảm giác rằng ta vừa đi lướt qua hạnh phúc.

Ở Virelogne, tôi yêu toàn bộ vùng quê ấy, nơi được điểm xuyết bởi những khu rừng nhỏ và cắt ngang bởi những con lạch lấp lánh dưới ánh mặt trời, trông giống như những mạch máu nuôi dưỡng mặt đất. Người ta đến đó để bắt tôm đất, cá hồi suối và lươn. Thật là niềm hạnh phúc thiêng liêng! Bạn có thể tắm ở vài khúc sông và thường bắt gặp những con dầm dì nằm ẩn trong đám cỏ cao mọc dọc theo bờ những dòng nước nhỏ ấy.

Tôi bước đi nhẹ nhàng như một chú dê, ngắm nhìn hai con chó đang chạy trước mặt. Serval, cách tôi chừng trăm mét về phía bên phải, đang lùa một cánh đồng cỏ linh lăng. Tôi rẽ qua lùm cây làm ranh giới cho khu rừng Sandres và nhìn thấy một ngôi nhà hoang phế.

Đột nhiên, tôi nhớ lại nó như hình ảnh lần cuối tôi nhìn thấy vào năm 1869: gọn gàng, phủ đầy dây leo, với bầy gà quây quần trước cửa. Còn gì buồn hơn một ngôi nhà đã chết, với bộ khung xương trơ trọi và đầy vẻ u ám?

Tôi cũng sực nhớ rằng bên trong cánh cửa ấy, sau một ngày mệt mỏi rã rời, người phụ nữ hiền hậu đã cho tôi uống một ly rượu, và Serval từng kể cho tôi nghe về gia cảnh của họ. Người cha, một tay săn trộm lão luyện, đã bị hiến binh bắn chết. Người con trai, kẻ mà tôi từng gặp một lần, là một thanh niên cao lớn, gầy gò và cũng khét tiếng là sát thủ săn bắn. Người ta gọi họ là “nhà Sauvage.”

Đó là tên thật hay chỉ là một biệt danh?

Tôi gọi Serval. Anh bước tới với những bước sải dài như một con sếu.

Tôi hỏi anh:

– Chuyện gì đã xảy ra với những người đó vậy?

Và đây là câu chuyện anh kể:

Khi chiến tranh bùng nổ, cậu con trai nhà Sauvage, lúc ấy ba mươi ba tuổi, đã tòng quân, để lại người mẹ sống một mình trong căn nhà. Xóm giang không mấy thương cảm bà cụ vì ai cũng biết bà có tiền.

Bà ở lại hoàn toàn cô độc trong ngôi nhà biệt lập ấy, nằm tít đàng xa bên bìa rừng, gần làng. Thế nhưng bà chẳng hề sợ hãi, bởi bà cùng một cội nguồn với những kẻ trượng phu trong nhà — một mụ già gan góc, cao và gầy, hiếm khi cười và chẳng ai dám đùa cợt với mụ. Đàn bà chốn đồng quê vốn dĩ rất ít khi cười, đó là chuyện của đàn ông. Bản thân họ mang những tâm hồn u sầu và chai sạn, trải qua một cuộc đời ảm đạm, tối tăm. Những người nông dân còn tìm chút niềm vui ồn ào ở quán rượu, nhưng các bà vợ của họ luôn mang nét mặt nghiêm nghị, cứng cỏi. Cơ bắp trên khuôn mặt họ chưa từng học qua những cử động của nụ cười.

Mẹ Sauvage vẫn tiếp tục nhịp sống thường nhật trong căn nhà tranh chẳng mấy chốc bị tuyết phủ kín. Mỗi tuần một lần, bà đến làng để mua bánh mì và ít thịt, rồi lại thui thủi trở về nhà. Khi có tin đồn về bói sói, bà ra khỏi nhà với khẩu súng vác trên vai — khẩu súng của con trai, đã han gỉ và có phần báng mòn vẹt vì lòng bàn tay cọ sát — trông bà thật kỳ lạ: mụ Sauvage cao lớn, hơi khom lưng, bước đi với những bước chậm chạp trên lớp tuyết, nòng súng nhô lên vượt qua chiếc khăn trùm đầu màu đen ôm trọn lấy mái tóc trắng mà chưa từng có ai nhìn thấy.

Một hôm, một toán quân Phổ kéo đến. Chúng được bố trí trọ nhà dân tùy theo tài sản và khả năng của mỗi gia đình. Bốn tên được phân vào nhà cụ già, người vốn nổi tiếng là giàu có.

Đó là bốn gã trai to lớn có làn da trắng trẻo, râu vàng và mắt xanh; dù đã trải qua bao mệt nhọc chiến trận nhưng thân hình chúng vẫn không hề gầy đi, và giữa một xứ sở bị chiếm đóng, chúng vẫn giữ được vẻ hiền hòa, nhã nhặn. Sống một mình với người đàn bà lớn tuổi này, chúng tỏ ra vô cùng chu đáo, cố gắng hết sức để bà đỡ tốn kém và mệt nhọc. Người ta thường thấy cả bốn tên trần lưng rửa mặt bên giếng vào lúc rạng sáng mờ sương, hắt những gáo nước ào ào lên làn da trắng hồng miền bắc của chúng, trong khi Mẹ Sauvage lúc đi lúc lại chuẩn bị súp cho chúng. Lại thấy chúng dọn dẹp nhà bếp, cọ rửa sàn gạch, chẻ củi, gọt khoai tây, làm tất cả mọi việc nhà hệt như bốn đứa con hiếu thảo quây quần bên mẹ.

Thế nhưng, tâm trí bà cụ lúc nào cũng hướng về đứa con trai của chính mình: cao và gầy, với chiếc mũi khoằm, đôi mắt nâu và bộ ria mép rậm tạo thành một cuộn tóc đen trên môi. Ngày nào bà cũng hỏi từng người lính đóng quân bên sưởi nhà mình: “Các anh có biết trung đoàn bộ binh số 23 của Pháp được điều đi đâu không? Con trai tôi ở trong trung đoàn đó.”

Chúng luôn đáp lại bằng một câu: “Không, chúng tôi không biết, chẳng biết gì sảng cả.” Và thấu hiểu nỗi đau cùng sự bất an của bà — bởi ở quê nhà chúng cũng có những người mẹ — chúng lại làm cho bà muôn vàn việc nhỏ nhặt. Hơn thế nữa, bà rất mực yêu quý bốn kẻ thù của mình, bởi tầng lớp nông dân vốn không mang lòng thù hận ái quốc; thứ đó chỉ thuộc về giai cấp thượng lưu mà thôi. Những người thấp cổ bé họng, những kẻ phải gánh chịu nhiều nhất vì họ nghèo khó và vì mọi gánh nặng mới đều đè bẹp họ; những kẻ bị tàn sát hàng loạt, làm mồi ngon đích thực cho đại bác vì số lượng quá đông; tóm lại, những kẻ phải chịu đựng nỗi khốn khổ tàn khốc nhất của chiến tranh vì họ yếu đuối nhất và kháng cự kém nhất — họ hầu như chẳng thể hiểu nổi cái sự cuồng nhiệt hiếu chiến ấy, cái ý thức danh dự dễ sục sôi hay những toan tính chính trị giả tạo chỉ trong sáu tháng đã vắt kiệt hai quốc gia, cả kẻ chiến thắng lẫn kẻ bại trận.

Người trong vùng, khi nhắc đến đám lính Đức của Mẹ Sauvage, thường bảo nhau:

– Có bốn thằng trúng chỗ sướng rồi đấy.

Rồi vào một buổi sáng, khi bà cụ ở nhà một mình, bà trông thấy đằng xa trên cánh đồng có một người đàn ông đang tiến về phía nhà mình. Chẳng mấy chốc bà nhận ra; đó là người đưa thư. Ông đưa cho bà một tờ giấy gấp lại, và bà rút trong bao kính ra cặp kính vẫn dùng để khâu vá. Rồi bà đọc:

THƯ GỬI BÀ SAUVAGE: Bức thư này để báo cho bà một tin buồn. Cậu con trai Victor của bà đã tử trận hôm qua do một quả đạn pháo suýt xé đôi người. Tôi ở ngay gần đó, vì chúng tôi đứng cạnh nhau trong đại đội, và cậu ấy đã nhắc đến bà, nhờ tôi báo ngay cho bà nếu có chuyện gì xảy ra với cậu ấy.

Tôi đã lấy chiếc đồng hồ trong túi áo của cậu ấy để mang về trả cho bà khi chiến tranh kết thúc.

CESAIRE RIVOT,

Binh sĩ cấp hai, Trung đoàn Bộ binh Cơ động số 23.

Bức thư được đề ngày từ ba tuần trước.

Bà không hề khóc. Bà đứng bất động, bàng hoàng và chết lặng đến mức thậm chí còn chưa cảm thấy đau đớn. Bà thầm nghĩ: “Thế là Victor đã chết rồi.” Rồi từng chút một, nước mắt trào ra khóe mi và nỗi buồn ngập tràn lồng ngực. Những suy nghĩ nối tiếp nhau hiện lên, kinh hoàng và dằn vặt. Bà sẽ chẳng bao giờ được hôn nó nữa, đứa con trai cưng, thằng con to lớn của bà, chẳng bao giờ còn nữa! Bọn hiến binh đã giết chồng bà, lũ người Phổ đã giết con trai bà. Nó đã bị đại bác xé làm đôi. Bà dường như nhìn thấy cảnh tượng ấy, cảnh tượng hãi hùng: cái đầu rơi xuống, đôi mắt mở trừng trừng, trong khi miệng vẫn cắn vào góc bộ ria mép rậm hệt như thói quen mỗi khi giận dữ.

Sau đó chúng đã làm gì với thi thể của nó? Phải chi chúng chịu trả lại đứa con trai cho bà y như cách chúng từng trả lại người chồng — với một viên đán găm giữa trán!

Nhưng bà nghe thấy tiếng ngầm tiếng nói. Đó là bọn Phổ từ làng trở về. Bà vội vàng nhét thư vào túi, rồi ra đón chúng với vẻ điềm tĩnh, khuôn mặt thường ngày, bởi bà đã kịp lau khô nước mắt.

Cả bốn đứa đều đang cười lớn, mừng rỡ vì chúng mang về một con thỏ béo tốt — chắc là ăn trộm được — và chúng ra hiệu cho bà cụ rằng sắp có món ngon để thưởng thức.

Bà lập tức bắt tay vào việc chuẩn bị bữa ăn, nhưng đến lúc phải giết con thỏ, tim bà bỗng chùng xuống. Dù vậy, đây đâu phải là con đầu tiên. Một tên lính đã dùng cú đấm giáng mạnh vào sau tai con vật để hạ sát nó.

Khi con vật đã chết, bà lột tấm da đỏ hỏn của nó ra, nhưng chính thứ máu mà bà đang chạm vào, dính đầy đôi bàn tay, thứ máu đang dần nguội lạnh và đông lại ấy đã khiến bà run rẩy từ đầu đến chân, và mắt bà cứ hiện lên hình ảnh đứa con trai to lớn bị xé đôi, đẫm máu hệt như con vật đang còn thoi thóp này.

Bà ngồi vào bàn ăn cùng bọn Phổ, nhưng không thể nuốt nổi một miếng. Chúng ngấu nghiến con thỏ mà chẳng mảy may bận tâm đến bà. Bà liếc nhìn chúng từ khóe mắt, không hé một lời, khuôn mặt thản nhiên đến mức chúng chẳng hề hay biết điều gì.

Bỗng nhiên bà lên tiếng:

– Tôi còn chẳng biết tên các anh, thế mà chúng ta đã ở bên nhau cả tháng trời rồi.

Chúng mất một lúc khá vất vả mới hiểu được điều bà muốn nói, bèn đọc tên mình cho bà nghe.

Thế hãy còn chưa đủ; bà bắt chúng viết tên lên một tờ giấy kèm theo địa chỉ gia đình, rồi đặt cặp kính lên chiếc mũi to, bà ngắm nghía nét chữ kỳ lạ ấy, đoạn gấp tờ giấy lại nhét vào túi, đè lên trên bức thư báo tin con trai tử trận.

Khi bữa ăn kết thúc, bà bảo chúng:

– Tôi sẽ đi làm việc này cho các anh.

Và bà bắt đầu khuân cỏ khô lên gác xép nơi chúng ngủ.

Chúng vô cùng ngạc nhiên khi thấy bà nhọc công như vậy; bà giải thích rằng làm thế chúng sẽ đỡ lạnh hơn, thế là chúng cùng xúm vào giúp một tay. Chúng chất những đống cỏ cao ngút đến tận mái tranh, tạo thành một thứ phòng lớn với bốn vức tường bằng cỏ khô vừa ấm áp vừa thơm ngát, nơi chúng sẽ có những giấc ngủ tuyệt vời.

Đến bữa tối, một tên thấy lạ khi Mẹ Sauvage vẫn chẳng chịu ăn gì liền tỏ vẻ lo lắng. Bà bảo rằng mình bị đau bụng. Rồi bà nhóm một ngọn lửa thật lớn để sưởi ấm, và bốn tên lính Đức leo lên chỗ ngủ qua chiếc thang vẫn dùng hằng đêm.

Ngay khi chúng vừa sập cửa thông gió, bà cụ liền cất chiếc thang đi, rồi mở tung cửa lớn không một tiếng động và quay ra ngoài tìm thêm những bó rơm để chất đầy căn nhà bếp. Bà đi chân trần trên tuyết, nhẹ nhàng đến mức không phát ra một tiếng động nào. Thỉnh thoảng, bà lại đứng lắng nghe tiếng ngáy vang dội và ngắt quãng của bốn tên lính đã chìm sâu vào giấc ngủ.

Khi ước chừng mọi chuẩn bị đã đủ, bà ném một trong những bó rơm vào lò sưởi, và khi lửa bùng lên, bà tung nó ra khắp các bó rơm còn lại. Đoạn bà bước ra ngoài quan sát.

Chỉ trong vài giây, toàn bộ không gian bên trong ngôi nhà bừng sáng rực rỡ và biến thành một lò lửa khổng lồ, một biển lửa ngút trời mà sức nóng tỏa qua khung cửa nhỏ, hắt một luồng sáng chói lòa lên lớp tuyết trắng.

Rồi một tiếng thét lớn vang lên từ đỉnh ngôi nhà; đó là tiếng la hét thất thanh kêu cứu trong nỗi thống khổ và kinh hoàng tột độ. Cuối cùng, khi tấm cửa sập sụp xuống, một cơn lốc lửa phóng vụt lên gác xép, xuyên thủng mái tranh, vút lên bầu trời hệt như ngọn đuốc khổng lồ, và toàn bộ căn nhà chìm trong biển lửa.

Chẳng còn nghe thấy gì ngoài tiếng lửa lép bép, tiếng vách tường nứt toác, tiếng những thanh xà gối rơi xuống. Bỗng nhiên mái nhà sụp đổ, phần khung sườn cháy rụi của ngôi nhà tung một cột tàn lửa lớn bay vút lên không trung giữa đám mây khói mịt mù.

Vùng quê trắng xóa, được soi sáng bởi ngọn lửa, rực lên như một tấm lụa bạc nhuốm sắc đỏ.

Một hồi chuông ở đằng xa bắt đầu đổ nhịp.

Mụ “Sauvage” già đứng trước ngôi nhà hoang phế, lăm lăm khẩu súng trong tay, khẩu súng của con trai, vì sợ có tên nào trốn thoát.

Khi thấy mọi chuyện đã chấm dứt, bà ném vũ khí vào đống lửa. Một tiếng nổ lớn vang lên.

Người ta đang kéo đến: những người nông dân, và cả lính Phổ.

Họ bắt gặp người đàn bà đang ngồi trên thân cây, điềm tĩnh và mãn nguyện.

Một sĩ quan Phổ, nói tiếng Pháp sõi như người bản xứ, hách dịch hỏi:

– Lính của tao đâu?

Bà chìa cánh tay xương xẩu về phía đống tro tàn đỏ rực đang dần tắt và dõng dạc đáp:

– Kia kìa!

Họ xúm lại quanh bà. Tên sĩ quan Phổ gặng hỏi:

– Sao lại bén lửa được thế?

– Chính tao châm lửa đốt đấy.

Họ không tin, tưởng rằng thảm họa bất ngờ đã khiến bà điên loạn. Giữa lúc mọi người đang vây quanh lắng nghe, bà thản đầu kể lại câu chuyện từ đầu đến cuối, từ lúc bức thư tới cho đến tiếng thét cuối cùng của những gã đàn ông bị thiêu cùng ngôi nhà, chẳng bỏ sót một chi tiết nào.

Khi dứt lời, bà rút hai tờ giấy trong túi ra, và để phân biệt chúng dưới ánh tàn lửa cuối cùng, bà lại chỉnh lại cặp kính. Rồi vừa chìa ra một tờ, bà vừa nói:

– Cái này, đây là cái chết của Victor. — Chỉ vào tờ còn lại, bà nghiêng đầu ra hiệu về phía đống đổ nát đỏ rực và nói thêm: — Còn đây là tên của chúng, để các người viết thư về nhà.

Bà bình thản đưa một tờ giấy cho viên sĩ quan đang túm lấy vai mình, rồi nói tiếp:

– Các người phải viết rõ mọi chuyện đã xảy ra thế nào, và phải nói với mẹ chúng rằng chính tao đã làm điều đó, Victoire Simon, mụ Sauvage! Đừng có quên đấy.

Tên sĩ quan thét lên mấy mệnh lệnh bằng tiếng Đức. Họ lao vào tóm lấy bà, ném bà áp vào bức tường nhà vẫn còn nóng hổi. Lập tức, mười hai tên lính xếp hàng ngay ngắn trước mặt bà, cách chừng hai mươi bước chân. Bà không nhúc nhích. Bà đã hiểu; bà đứng đợi.

Một hiệu lệnh vang lên, tiếp theo ngay sau đó là một loạt đạn dài. Một phát súng muộn màng lạc lõng nổ tung sau đám đông.

Bà cụ không ngã xuống. Bà khuỵu xuống như thể chân vừa bị chặt đứt.

Tên sĩ quan Phổ bước lại gần. Bà đã gần như bị xé đôi, và trong bàn bàn tay khô đét, bà vẫn nắm chặt bức thư đẫm máu.

Bạn tôi, Serval, nói thêm:

– Bọn Đức đã phá hủy lâu đài trong vùng vốn thuộc về tôi để trả thù đấy.

Tôi nghĩ về những người mẹ của bốn chàng trai khôi ngô ấy đã bị thiêu cháy trong ngôi nhà kia, và về lòng dũng cảm hãi hùng của người mẹ thứ hai bị bắn gục ngã trước bức tường.

Và tôi nhặt lên một hòn đá nhỏ vẫn còn vương màu khói lửa.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.