Tuyển Tập Truyện Ngắn Nguyên Bản Hoàn Chỉnh Của Guy De Maupassant

Lượt đọc: 2835 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Miss Harriet

❊ ❊ ❊

Hôm ấy trên xe ngựa kéo có tất cả bảy người chúng tôi, gồm bốn phụ nữ và ba đàn ông; một trong số những người đàn ông ngồi ở ghế trước bên cạnh đánh xe. Chúng tôi đang ì ạch bò lên con đường uốn lượn dọc theo vách đá dốc đứng ven bờ biển.

Xuất phát từ Etretat từ lúc rạng đông để đi tham quan phế tích Tancarville, chúng tôi vẫn còn ngái ngủ, tê dại bởi làn gió sớm trong lành. Đặc biệt là những phụ nữ, vốn ít quen với những chuyến đi sớm thế này, chốc chốc lại nhắm hờ rồi mở to mắt, gật gà gật gù hoặc ngáp dài, hoàn toàn dửng dưng trước vẻ đẹp của buổi bình minh.

Đó là mùa thu. Hai bên đường là những cánh đồng trơ trụi, ngả màu vàng úa bởi gốc rạ lúa mì và lúa yến mạch mọc lởm chởm trên mặt đất trông giống như một bộ râu cạo hỏng. Đất ẩm bốc hơi mờ ảo. Những con chim chiền chiện hót vang trên cao, trong khi các loài chim khác ríu rít trong lùm cây.

Cuối cùng mặt trời cũng nhô lên phía trước chúng tôi, đỏ rực trên đường chân trời, và khi nó dần leo lên, sáng rõ hơn sau từng phút, đồng quê như bừng tỉnh, mỉm cười, cựa mình giống như một thiếu nữ vừa thức giấc trong tấm áo choàng trắng bằng màn sương sớm. Bá tước d'Etraille, người ngồi ở ghế trước, liền kêu lên:

“Kìa! Kìa, một con thỏ rừng!” và anh đưa tay sang trái, chỉ về phía một vạt cỏ ba lá. Con vật lao đi, gần như bị che khuất bởi đám cỏ ba lá, chỉ lộ ra đôi tai dài. Rồi nó rẽ ngoặt qua một luống cày, dừng lại, lại cắm cổ chạy thừng thừng, đổi hướng, rồi lại khựng lại, đầy cảnh giác, dò dẫm mọi hiểm nguy, lưỡng lự không biết nên đi đường nào, thì đột nhiên nó tung người nhảy vọt lên và biến mất hút trong một thửa củ cải lớn. Tất cả đàn ông đều đã tỉnh ngủ để dõi theo đường chạy của con vật.

Rene Lamanoir thốt lên:

“Sáng nay chúng ta chẳng ga-lăng chút nào cả,” rồi nhìn sang người hàng xóm là Nữ bá tước de Serennes nhỏ nhắn đang chật vật chống lại cơn buồn ngủ, anh hạ thấp giọng nói với cô: “Em đang nghĩ đến chồng mình đấy phó bá tước. Yên tâm đi; anh ta chưa về trước thứ bảy đâu, nên em vẫn còn bốn ngày.”

Cô đáp lại với một nụ cười ngái ngủ:

“Anh mới ngốc làm sao!” Rồi rũ bỏ vẻ uể oải, cô nói thêm: “Nào, ai đó hãy nói gì đi cho chúng ta cười một trận xem nào. Anh Chenal, người nổi tiếng là có nhiều mối tình hơn cả Công tước de Richelieu, hãy kể cho chúng tôi nghe một câu chuyện tình mà anh từng là nhân vật chính xem nào; chuyện gì cũng được.”

Leon Chenal, một họa sĩ già, người từng rất khôi ngô, cường tráng, rất tự hào về thể hình và vô cùng đào hoa, đưa tay vuốt chòm râu dài trắng muốt và mỉm cười. Rồi sau vài phút trầm ngâm, nét mặt anh bỗng trở nên nghiêm nghị.

“Thưa các bà và các cô, đó sẽ không phải là một câu chuyện vui đâu, vì tôi sắp kể cho quý vị nghe mối tình buồn nhất cuộc đời mình, và tôi thành tâm hy vọng không một người bạn nào của tôi phải trải qua một trải nghiệm tương tự.

“Hồi đó tôi hai mươi lăm tuổi và đang lang thang dọc bờ biển Normandy. Tôi gọi 'lang thang' là việc đi bộ với chiếc ba lô trên lưng, từ quán trọ này sang quán trọ khác, với cái cớ là đi thực tế và phác thảo phong cảnh. Tôi chẳng biết có gì thích thú hơn cuộc sống du mục vô lo vô nghĩ ấy, nơi người ta hoàn toàn tự do, chẳng vướng bận xiềng xích gì, chẳng lo âu, chẳng bận tâm, thậm chí chẳng thèm nghĩ đến ngày mai. Người ta muốn đi hướng nào tùy thích, chẳng cần cẩm nang nào ngoài sở thích của mình, chẳng cần cố vấn nào ngoài đôi mắt. Ta dừng chân chỉ vì một con suối nhỏ thu hút, vì hương thơm của khoai tây chiên kích thích khứu giác khi đi ngang qua một quán trọ. Thỉnh thoảng lại là hương thơm của hoa ông lão quyết định hướng đi cho ta, hay cái liếc mắt tinh nghịch của cô hầu bàn ở một quán trọ. Đừng khinh miệt tình cảm của tôi dành cho những thôn nữ này nhé. Các cô gái ấy có một tâm hồn cũng như có cảm xúc, chưa kể đến đôi má săn chắc và đôi môi tươi tắn; trong khi những nụ hôn nồng nhiệt, tự nguyện của họ mang hương vị của trái cây dại. Tình yêu vẫn luôn là tình yêu, dù nó xuất phát từ đâu. Một trái tim đập rộn khi bạn đến gần, một ánh mắt rưng rưng khi bạn bước đi vốn là những điều vô cùng hiếm hoi, ngọt ngào và quý giá đến mức chẳng bao giờ nên bị khinh miệt.

“Tôi từng có những cuộc hẹn hò trong các mương nước ngập hoa anh thảo, đằng sau chuồng bò và trong những ụ rơm còn ấm hơi nóng ban ngày. Tôi vẫn lưu giữ ký ức về lớp vải thô màu xám ôm lấy làn da mềm mại của thôn nữ, và mang nỗi hoài niệm về những nụ hôn giản dị, chân thành, tinh tế hơn trong sự mộc mạc không vướng bận so với những ân huệ đầy ẩn ý từ các quý cô kiều diễm, đài các.

“Nhưng điều người ta yêu nhất giữa muôn vàn phiêu lưu ấy chính là đồng quê, rừng cây, ánh bình minh, hoàng hôn, ánh trăng. Đối với người họa sĩ, đó là những chuyến trăng mật với Thiên nhiên. Ta ở một mình với thiên nhiên trong mối gắn kết lâu dài và tĩnh lặng ấy. Ta chìm vào giấc ngủ giữa những cánh đồng ngập hoa cúc trắng và hoa anh túc, để rồi khi mở mắt ra dưới ánh nắng chói chang, ta sẽ trông thấy từ đằng xa ngôi làng nhỏ với ngọn tháp chuông nhọn đang ngân lên tiếng chuông điểm đúng ngọ.

“Bạn ngồi bên một con suối nhỏ tuôn trào dưới gốc cây sồi, giữa đám cỏ cao, mảnh mai đang lấp lánh sự sống. Bạn quỳ xuống, rướn người tới và uống ngụm nước lạnh ngắt, trong vắt ấy đến mức làm ướt cả ria mép và mũi; bạn uống với một niềm khoái cảm thể xác, như thể bạn đang hôn con suối, môi kề môi. Thỉnh thoảng, khi tìm thấy một vũng sâu dọc theo dòng chảy của những con suối nhỏ xíu ấy, bạn liền nhảy ùm xuống hoàn toàn trần truồng, và bạn cảm nhận trên da thịt mình từ đầu đến chân một thứ mơn man lạnh buốt tuyệt diệu, sự rung động nhẹ nhàng và êm ái của dòng nước.

“Bạn thấy vui vẻ trên những ngọn đồi, u sầu bên mép những ao hồ, dạt dào cảm xúc khi mặt trời lặn xuống đại dương ngập mây đỏ rực như máu và hắt ánh hồng lên dòng sông. Và về đêm, dưới ánh trăng vắt ngang vòm trời, bạn suy ngẫm về muôn vàn điều kỳ lạ mà chẳng bao giờ xuất hiện trong tâm trí dưới ánh sáng rực rỡ ban ngày.

“Thế rồi, trong chuyến lang thang qua chính vùng đất mà chúng ta đang đặt chân tới năm nay, tôi đã đến ngôi làng nhỏ Benouville, nằm trên vách đá giữa Yport và Etretat. Tôi đi từ Fecamp, dọc theo bờ biển — một bờ biển cao và thẳng đứng như bức tường, với những vách đá phấn nhô ra cắm thẳng xuống biển. Tôi đã đi bộ từ sáng sớm trên thảm cỏ ngắn, mịn màng và êm ái như tấm thảm mọc sát mép vách đá. Và, vừa cất tiếng hát vang lừng, tôi vừa sải những bước dài, thỉnh thoảng ngắm nhìn chuyến bay lượn chậm rãi của một chú hải âu với đôi cánh trắng uốn cong nổi bật trên nền trời xanh, lúc lại ngắm những cánh buồm nâu của chiếc thuyền đánh cá trên mặt biển xanh ngắt. Tóm lại, tôi đã trải qua một ngày hạnh phúc, một ngày đầy tự do và thảnh thơi.

“Một trang trại nhỏ chuyên trọ cho khách du lịch được chỉ cho tôi, một dạng quán trọ do một bà nông dân quản lý, nằm giữa một khoảng sân kiểu Normandy được bao quanh bởi hai hàng cây sội.

“Rời khỏi bờ biển, tôi tiến vào thôn ấp bị bao bọc bởi những tán cây lớn, và đến trình diện tại nhà bà Lecacheur.

“Bà ta là một phụ nữ nông thôn già nua, nhăn nheo và nghiêm nghị, có vẻ lúc nào cũng tiếp khách với thái độ miễn cưỡng và đầy thách thức.

“Đó là tháng Năm. Những tán cây táo xòe rộng phủ kín khoảng sân bằng một trận mưa hoa rụng không ngớt xuống cả người lẫn bãi cỏ.

“Tôi cất lời: 'Này, thưa bà Lecacheur, bà còn phòng cho tôi chứ?'

“Ngạc nhiên vì tôi biết tên mình, bà đáp:

“'Tùy đã; mọi phòng đều cho thuê hết rồi, nhưng dù sao tôi cũng xem thử xem sao.'

“Chỉ trong năm phút chúng tôi đã thỏa thuận xong, và tôi đặt chiếc túi xách của mình xuống nền đất nện của một căn phòng mộc mạc, được trang bị một chiếc giường, hai cái ghế, một cái bàn và một chậu rửa mặt. Căn phòng nhìn thẳng ra nhà bếp rộng lớn, đầy khói, nơi khách trọ dùng bữa chung với người nhà nông trại và bà chủ nhà góa chồng.

“Tôi rửa tay xong rồi bước ra ngoài. Bà cụ đang làm món gà nấu fricasse trong cái lò sưởi lớn, nơi treo chiếc vạc sắt đã đen nhẻm vì khói.

“'Vậy hiện tại bà có khách du lịch chứ?' tôi hỏi bà.

“Bà đáp với giọng điệu có vẻ phật ý:

“'Tôi có một vị khách, một quý bà người Anh đã có tuổi. Bà ấy ở căn phòng bên cạnh.'

“Tôi đổi lấy đặc quyền được ăn tối một mình ngoài sân vào những ngày thời tiết đẹp bằng cách trả thêm năm xu mỗi ngày.

“Chỗ ngồi của tôi được dọn ngay bên ngoài cửa, và tôi bắt đầu gặm những chiếc đùi gầy nhom của con gà xứ Normandy, nhấm nháp ly táo mật trong trẻo và nhai ngấu nghiến mẩu bánh mì trắng đã để bốn ngày nhưng vẫn rất ngon.

“Bỗng cánh cửa gỗ mở ra hướng ra đường cái lớn, và một người phụ nữ kỳ lạ bước thẳng về phía ngôi nhà. Bà rất gầy, rất cao, người quấn chặt trong một chiếc khăn choàng ca-rô kiểu Scotland màu đỏ đến mức nếu không nhìn thấy một bàn tay dài thò ra ngay trên hông đang cầm chiếc ô du lịch màu trắng, người ta có thể tưởng bà chẳng có tay. Gương mặt bà trông giống như một xác ướp, xung quanh buông xõa những lọn tóc xoăn xám cứ lúc lắc theo từng bước chân khiến tôi không hiểu sao lại liên tưởng đến một con cá trích muối được quấn giấy xoăn. Hạ thấp mắt, bà bước nhanh qua tôi rồi đi thẳng vào nhà.

“Hiện tượng kỳ lạ đó khiến tôi phấn chấn hẳn lên. Chắc chắn đó là người hàng xóm của tôi, vị quý bà người Anh lớn tuổi mà chủ nhà vừa nhắc đến.

“Hôm đó tôi không gặp lại bà nữa. Hôm sau, khi tôi đã ổn định chỗ ngồi để bắt đầu vẽ ở cuối thung lũng tuyệt đẹp mà các bạn đều biết và kéo dài tận Etretat, ngước mắt lên bất chợt, tôi nhận ra một vật gì đó kỳ lạ đang đứng trên chỏm vách đá, thoạt nhìn ngỡ như một chiếc cột treo cờ. Đó chính là bà. Vừa nhìn thấy tôi, bà liền biến mất tức khắc. Buổi trưa tôi quay lại nhà để ăn trưa và ngồi vào bàn ăn chung để làm quen với nhân vật kỳ cục này. Nhưng bà chẳng hề đáp lại những lời chào hỏi lịch sự của tôi, thậm chí dửng dưng trước cả những cử chỉ quan tâm nhỏ nhặt của tôi. Tôi kiên trì rót nước cho bà, nhiệt tình chuyền các món ăn qua phía bà. Một cái gật đầu nhẹ, gần như không thể nhận ra cùng một từ tiếng Anh lầm bầm nhỏ đến mức tôi không tài nào nghe hiểu là những sự thừa nhận duy nhất mà tôi nhận được.

“Tôi thôi bận tâm về bà, dẫu rằng bà đã khiến tâm trí tôi xao lãng.

“Ba ngày sau, tôi đã biết về bà tường tận chẳng kém gì chính bà Lecacheur.

“Bà tên là Miss Harriet. Để tìm một ngôi làng hẻo lánh làm nơi nghỉ hè, bà đã bị thu hút đến Benouville từ sáu tháng trước và dường như chẳng có ý định rời đi. Bà không bao giờ nói chuyện khi ăn, ăn rất nhanh trong khi tay vẫn đọc ngấu nghiến một cuốn sách nhỏ tuyên truyền của phái Tin Lành. Bà phát một cuốn cho tất cả mọi người. Thậm chí chính cha sở cũng nhận được không dưới bốn cuốn, do một đứa nhóc được bà thuê hai xu tiền công đem tới. Thỉnh thoảng bà cất lời đột ngột với chủ nhà, chẳng hề có chút dạo đầu nào cho tuyên bố của mình:

“'Tôi yêu Chúa cứu thế hơn tất cả mọi thứ. Tôi ngưỡng mộ Ngài trong vạn vật muôn loài; tôi tôn sùng Ngài trong cả thiên nhiên; tôi luôn mang Ngài trong tim mình.'

“Và ngay lập tức bà sẽ nhét vào tay bà cụ một trong những tập truyền đơn nhằm cứu rỗi nhân loại của mình.

“Trong làng, bà không được lòng mọi người cho lắm. Thậm chí, sau khi thầy giáo phán bà là một kẻ vô thần, một thứ định kiến kỳ thị đã bám rễ lấy bà. Cha sở, người được bà Lecacheur đến tham vấn, đã trả lời rằng:

“'Bà ấy là một kẻ dị giáo, nhưng Chúa không muốn cái chết của kẻ tội nhân, và tôi tin bà ấy là một người có phẩm hạnh thanh tao.'

“Những từ ngữ như 'vô thần', 'dị giáo' — những khái niệm mà chẳng ai có thể định nghĩa chính xác — đã gieo rắc sự hoài nghi vào tâm trí nhiều người. Dù vậy, người ta vẫn rỉ tai nhau rằng quý bà người Anh này rất giàu có và đã dành cả đời để du hành qua mọi quốc gia trên thế giới chỉ vì bị gia đình từ mặt. Tại sao gia đình lại từ mặt bà? Đương nhiên là vì sự bất kính của bà rồi!

“Bà thực ra là một trong số những con người có lập trường cao ngạo; một trong những tín đồ Thanh giáo bảo thủ mà nước Anh sản sinh ra biết bao người; một trong những bà cô già vừa tốt bụng vừa phiền toái hay ám ảnh các bàn ăn chung tại mọi khách sạn khắp châu Âu, những kẻ chuyên làm hỏng nước Ý, làm ô uế Thụy Sĩ, biến những thành phố quyến rũ bên bờ Địa Trung Hải thành nơi không thể sống nổi, mang theo khắp nơi những chứng cuồng tưởng kỳ quặc, dáng vẻ của những bức tượng trinh nữ hóa đá, những bộ trang phục không tài nào tả xiết cùng một thứ mùi cao su thoang thoảng khiến người ta có cảm giác ban đêm họ được nhét vào trong những chiếc vỏ bọc bằng cao su vậy.

“Mỗi lần bắt gặp một trong những cá thể ấy ở khách sạn là tôi lại chuồn thẳng như loài chim thấy bù nhìn ngoài ruộng.

“Tuy nhiên, người phụ nữ này lại tỏ ra vô cùng kỳ quặc đến mức không làm tôi thấy ghét.

“Bà Lecacheur, với bản tính bài xích mọi thứ không mang chất thôn dã, cảm thấy trong tâm hồn chật hẹp của mình một mối căm ghét ngấm ngầm dành cho những tuyên ngôn cuồng nhiệt của bà cô già. Bà ta đã tìm ra một cụm từ để miêu tả vị khách, một từ ngữ miệt thị cứ chực trào lên môi, xuất phát từ một thứ lý luận tâm trí hỗn độn và huyền bí nào đó mà tôi chẳng rõ. Bà ta phán: 'Mụ đàn bà đó là một kẻ bị quỷ ám.' Biệt hiệu này, khi áp dụng vào sinh linh khắc khổ và đa cảm kia, lại khiến tôi thấy buồn cười đến không tài nào cưỡng lại. Kể từ đó, bản thân tôi cũng chẳng gọi bà bằng gì khác ngoài cái tên 'mụ quỷ ám', và cảm thấy một niềm vui thích kỳ lạ khi thốt lên từ này mỗi khi trông thấy bà.

“Một ngày nọ, tôi hỏi bà Lecacheur: 'Nào, hôm nay mụ quỷ ám nhà ta đang làm gì thế?'

“Bà bạn thôn quê của tôi liền đáp với vẻ mặt đầy kinh hãi:

“'Ngài nghĩ sao chứ, thưa ngài? Bà ta nhặt một con cóc bị dập chân mang về phòng, thả nó vào chậu rửa mặt rồi băng bó cho nó như thể nó là con người vậy. Nếu đó không phải là hành động báng bổ thì tôi cũng chịu chẳng biết thế nào là báng bổ nữa!'

“Vào một dịp khác, khi đi dọc bờ biển, bà mua lại một con cá lớn vừa mới đánh bắt được, đơn giản chỉ để thả nó trở lại lòng đại dương. Người thủy công bán cá cho dù được trả món tiền hậu hĩnh vẫn bắt đầu chửi rủa, thậm chí còn tức lộn ruột hơn cả khi bà thọc tay vào túi lấy trộm tiền của hắn. Suốt hơn một tháng trời, hắn không thể nhắc đến sự việc ấy mà không nổi giận lôi đình và lớn tiếng coi đó là một hành động phỉ báng. Ồ, đúng vậy! Bà chính là một mụ quỷ ám, chính hiệu Miss Harriet, và bà Lecacheur quả đã có một tia chớp cảm hứng khi đặt cho bà cái tên đó.

“Cậu thợ chăm sóc ngựa, người được gọi là Sapeur vì từng có thời tuổi trẻ phục vụ ở châu Phi, lại có góc nhìn khác. Cậu ta cười ranh mãnh và bảo: 'Bà ta là một mụ già từng trải qua đủ mùi đời.'

“Giá như tội nghiệp người phụ nữ ấy biết được điều đó!

“Cô bé Celeste tốt bụng chẳng mấy mặn mà khi phải phục vụ bà, dù tôi chẳng bao giờ hiểu nổi lý do tại sao. Có lẽ lý do duy nhất chỉ vì bà là người xa xứ, thuộc chủng tộc khác, nói ngôn ngữ khác và theo tôn giáo khác. Thực sự thì bà đúng là một mụ quỷ ám!

“Bà dành toàn bộ thời gian để lang thang khắp chốn thôn quê, tôn sùng và tìm kiếm Chúa trong lòng thiên nhiên. Một buổi chiều nọ, tôi bắt gặp bà đang quỳ gối giữa một lùm cây bụi. Thoáng thấy sắc đỏ ẩn hiện qua những tán lá, tôi vạch cành bước tới, và Miss Harriet lập tức vùng đứng phắt dậy, bối rối vì bị phát hiện trong tư thế đó, trân trân nhìn tôi bằng đôi mắt hoảng sợ hệt như loài cú bị làm phiền giữa ban ngày.

“Thỉnh thoảng, khi đang làm việc giữa những mỏm đá, tôi lại bất ngờ thoáng thấy bà trên mép vách đá hệt như một ngọn hải đăng. Bà đứng đó ngẩn ngơ ngắm nhìn biển cả bao la lấp lánh dưới ánh mặt trời và bầu trời vô tận dát những tầng mây vàng rực. Đôi khi tôi nhận ra bà ở tận cuối thung lũng, bước đi thoăn thoắt với dáng đi nhún nhảy đậm chất Anh quốc, và tôi sẽ rảo bước về phía bà, bị thu hút bởi một thứ linh tính nào đó, đơn giản chỉ để ngắm nhìn gương mặt bừng sáng, những nét héo hắt mà vô nhiễm của bà, thứ dường như đang tỏa hào quang bởi một niềm hạnh phúc nội tâm sâu thẳm.

“Tôi cũng thường xuyên bắt gặp bà ở một góc ruộng, ngồi trên thảm cỏ dưới bóng cây táo với cuốn kinh thánh nhỏ mở sẵn trên đầu gối trong khi ánh mắt phóng túng ra khoảng không xa tít tắp.

“Tôi chẳng thể nào dứt nổi mình ra khỏi vùng quê thanh bình ấy, nơi đã trói buộc tôi bằng hàng ngàn sợi dây liên kết của tình yêu dành cho khung cảnh khoáng đạt và tĩnh lặng. Tôi cảm thấy hạnh phúc trong trang trại u tịch này, tách biệt khỏi mọi thứ nhưng lại hòa mình vào đất mẹ, mảnh đất xanh tươi tốt lành và tuyệt đẹp. Và — tôi có phải thú nhận không nhỉ? — còn có cả một chút tò mò đã níu chân tôi lại tại cơ ngơi của bà Lecacheur. Tôi muốn làm quen thêm một chút với Miss Harriet kỳ lạ này và muốn khám phá xem điều gì diễn ra trong những tâm hồn cô độc của những phụ nữ lớn tuổi người Anh thích lang thang đó.

“Chúng tôi làm quen nhau theo một cách khá kỳ cục. Tôi vừa hoàn thành một bức tranh nghiên cứu mà bản thân thấy cũng đáng giá đôi chút, và quả thực là vậy, vì mười lăm năm sau nó được bán với giá mười nghìn franc. Tuy nhiên, nó đơn giản hệt như phép toán hai cộng hai và chẳng tuân theo bất kỳ quy chuẩn hàn lâm nào. Toàn bộ phần bên phải bức tranh của tôi khắc họa một tảng đá, một tảng đá khổng lồ, phủ đầy rong biển nâu, vàng và đỏ, xuyên qua đó ánh nắng chiếu rọi tựa như một dòng dầu bóng. Ánh sáng đổ ập lên tảng đá như thể nó đang bốc cháy dù mặt trời, vốn ở sau lưng tôi, chẳng hề lộ diện. Chỉ có thế thôi. Một bức tranh nghiên cứu đầu tay đầy choáng ngợp về thứ ánh sáng rực rỡ, chói lòa.

“Phía bên trái là biển, không phải biển xanh thẳm, cũng chẳng phải biển màu đá phiến, mà là một vùng biển ngọc bích, xanh ngắt, đục ngầu và đặc quánh dưới bầu trời thẫm màu.

“Tôi hài lòng với tác phẩm của mình đến mức nhảy cẫng lên vì sung sướng khi mang nó trở lại quán trọ. Tôi chỉ muốn cả thế giới lập tức được chiêm ngưỡng nó. Tôi nhớ rõ mình đã khoe nó với một con bò đang gặm cỏ bên vệ đường, vừa khoe vừa thốt lên: 'Nhìn kìa, người đẹp cổ kính của tôi ơi; chẳng mấy khi mi được thấy một tác phẩm thế này đâu.'

“Khi về đến nhà, tôi liền hô to gọi bà Lecacheur bằng tất cả sức lực:

“'Này! Bà chủ nhà đâu rồi, ra đây mà ngắm cái này xem.'

“Mụ thôn nữ bước đến và nhìn tác phẩm của tôi bằng đôi mắt đờ đẫn chẳng phân biệt nổi thứ gì, thậm chí không nhận ra bức tranh vẽ con bò hay ngôi nhà.

“Đúng lúc đó Miss Harriet đi về, bà đi ngang qua phía sau tôi đúng lúc tôi đang dang rộng cánh tay để trưng bày bức tranh cho bà chủ nhà xem. Mụ quỷ ám không tài nào không nhìn thấy, bởi tôi đã cố tình trưng bày kiệt tác theo cách để bà không thể phớt lờ. Bà khựng lại đột ngột và đứng trân trân, đầy kinh ngạc. Đó chính là tảng đá của bà, tảng đá mà bà thường trèo lên để chìm đắm trong những giấc mơ yên bình.

“Bà thốt lên một tiếng 'Aoh' đậm chất Anh quốc, vừa tròn vành rõ chữ lại vừa đầy tán dương đến mức tôi phải quay lại nhìn bà, mỉm cười và nói:

“'Đây là tác phẩm nghiên cứu mới nhất của tôi đấy, thưa tiểu thư.'

“Bà thì thầm với vẻ mê đắm, ngộ nghĩnh và dịu dàng:

“'Ôi! Thưa ngài, ngài thấu hiểu thiên nhiên như thể nó là một sinh thể sống vậy.'

“Mặt tôi đỏ bừng lên và cảm động vì lời khen ấy hơn là nếu nó phát ra từ miệng một vị nữ hoàng. Tôi đã bị thu phục, bị chinh phục, bị đánh gục. Thề có danh dự, tôi chỉ muốn ôm chầm lấy bà.

“Tôi ngồi vào bàn ăn cạnh bà như thường lệ. Lần đầu tiên bà chủ động bắt chuyện, miệng lẩm bẩm như đang tự nói một mình:

“'Ôi! Tôi yêu thiên nhiên biết bao.'

“Tôi chuyền cho bà bánh mì, nước và rượu. Lần này bà đón nhận tất cả với nụ cười mím chi của một xác ướp. Sau đó tôi bắt đầu huyên thuyên về phong cảnh.

“Dùng bữa xong, chúng tôi cùng đứng dậy khỏi bàn và thong thả rảo bước qua khoảng sân; rồi, dường như bị thu hút bởi ánh hào quang đỏ rực mà hoàng hôn đang trải lên mặt biển, tôi đẩy cánh cửa dẫn ra vách đá, và chúng tôi sóng vai bước đi, mãn nguyện hệt như hai con người vừa học được cách thấu hiểu và thấu triệt động lực cũng như cảm xúc của nhau.

“Đó là một trong những buổi chiều ấm áp, êm đềm mang lại cảm giác dễ chịu cho cả thể xác lẫn tâm hồn. Mọi thứ đều ngập tràn sự tận hưởng, mọi thứ đều quyến rũ. Làn gió thoảng đượm hương cỏ dại và mùi rong biển xoa dịu khứu giác bằng thứ hương vị hoang dã, xoa dịu vị giác bằng dư vị mặn mòi của biển khơi, xoa dịu tâm trí bằng sự ngọt ngào lan tỏa khắp không gian.

“Lúc này chúng tôi đang bước đi dọc theo mép vách đá, bên trên vùng biển bao la đang cuộn những con sóng nhỏ cách chúng tôi chừng một trăm mét phía dưới. Và chúng tôi há miệng, phồng ngực hít căng lồng ngực làn gió tươi mát đượm vị mặn mòi từ những con sóng vỗ, thứ gió từ đại dương thổi lướt qua gương mặt chúng tôi.

“Quấn trong chiếc khăn choàng ca-rô, với nét mặt đầy cảm hứng khi đối mặt với gió lộng, người phụ nữ Anh đăm đăm nhìn quả cầu mặt trời khổng lồ đang hạ dần về phía đường chân trời. Tít tắp đằng xa, một chiếc thuyền buồm ba cột nổi bật trên bầu trời đỏ như máu, và một chiếc tàu hơi nước, gần hơn một chút, lướt qua để lại vệt khói mờ phía chân trời. Quả cầu mặt trời đỏ rực chìm dần, chìm dần rồi chạm sát mặt nước ngay phía sau con chiếc tàu đang bất động, dưới ánh hào quang chói lọi, trông nó tựa như được bao bọc trong một vành lửa. Chúng tôi tận mắt chứng kiến nó ngập sâu, thu nhỏ lại rồi biến mất, bị nuốt trọn bởi lòng đại dương.

“Miss Harriet ngẩn ngơ ngắm nhìn những tia nắng lụi tàn cuối cùng của ngày sắp tàn. Bà dường như khát khao ôm trọn bầu trời, biển cả và cả khung cảnh thiên nhiên vào lòng.

“Bà thì thầm: 'Aoh! Tôi yêu — tôi yêu...' Tôi thoáng thấy một giọt lệ đọng trong khóe mắt bà. Bà tiếp lời: 'Ước gì tôi là một chú chim nhỏ, để có thể bay vút lên tận vòm trời.'

“Bà vẫn đứng đó y như hình ảnh tôi từng bắt gặp nhiều lần trước kia, chênh vênh trên vách đá, gương mặt đỏ bừng hệt như chiếc khăn choàng. Giá như lúc ấy tôi có thể phác họa lại bà vào cuốn sổ tay. Chắc chắn đó sẽ là một bức biếm họa về sự ngất ngây.

“Tôi quay mặt đi để khỏi phải phì cười.

“Rồi tôi bắt đầu nói chuyện với bà về hội họa hệt như cách tôi trò chuyện với một đồng nghiệp trong nghề, sử dụng những thuật ngữ chuyên môn quen thuộc của giới nghệ sĩ. Bà chăm chú lắng nghe, háo hức tìm cách suy đoán ý nghĩa của các thuật ngữ để thấu hiểu tư tưởng của tôi. Thỉnh thoảng bà lại thốt lên:

“'Ôi! Tôi hiểu rồi, tôi hiểu rồi. Thú vị quá.'

“Chúng tôi quay trở về nhà.

“Hôm sau, vừa nhìn thấy tôi, bà đã tiến lại gần, thân thiện chìa tay ra; và thế là chúng tôi lập tức trở thành đôi bạn tâm giao.

“Bà là một sinh linh hiền lành với tâm hồn nhạy cảm như lò xo, sẵn sàng bùng nổ nhiệt huyết chỉ sau một cú hích. Bà thiếu đi sự cân bằng giống như mọi phụ nữ vẫn còn độc thân ở tuổi năm mươi. Bà trông như được bảo quản trong hũ dấm của sự ngây thơ, nhưng trái tim bà vẫn giữ lại đôi chút gì đó rất trẻ trung và dễ bùng cháy. Bà yêu thiên nhiên và động vật với một niềm đam mê cuồng nhiệt, một tình yêu tựa như loại rượu cũ ủ lâu năm, một tình yêu đầy cảm tính mà bà chưa từng dành cho bất kỳ người đàn ông nào.

“Có một điều chắc chắn là, cảnh tượng một con chó cái đang cho con bú, một con ngựa cái lang thang trên đồng cỏ bên cạnh chú ngựa con, hay một chiếc tổ chim chi chít những chiếc miệng há rộng và những cái đầu to tướng đang rít lên, đều khiến bà xúc động sâu sắc.

“Những sinh linh khốn khổ, cô độc, u sầu và lang thang ơi! Tôi yêu các bạn kể từ khi tôi quen biết Miss Harriet.

“Chẳng mấy chốc tôi nhận ra bà có điều gì đó muốn thổ lộ nhưng lại không dám, và sự rụt rè ấy khiến tôi cảm thấy thú vị. Mỗi khi tôi cất bước ra đi vào buổi sáng với chiếc ba lô trên lưng, bà sẽ lầm lũi đi theo tôi đến tận cuối làng, rõ ràng là đang chật vật tìm kiếm từ ngữ để bắt đầu cuộc trò chuyện. Rồi đột nhiên bà bỏ mặc tôi ở đó và rảo bước thật nhanh với dáng đi đầy sức sống.

“Tuy nhiên, có một hôm bà đã lấy hết can đảm:

“'Tôi rất muốn xem cách ngài vẽ tranh. Ngài có phiền không? Tôi tò mò lắm.'

“Và bà đỏ bừng mặt hệt như vừa thốt ra một điều gì đó vô cùng táo tợn.

“Tôi dẫn bà xuống tận cùng thung lũng Petit-Val, nơi tôi đang phác thảo một bức tranh lớn.

“Bà đứng lặng lẽ phía sau tôi, chăm chú theo dõi mọi cử động của tôi với sự tập trung cao độ. Rồi đột nhiên, có lẽ vì sợ làm phiền tôi, bà thốt lên: 'Cảm ơn ngài,' rồi lủi thủi bước đi.

“Nhưng chẳng mấy chốc bà trở nên cởi mở hơn, và ngày nào cũng đồng hành cùng tôi với biểu cảm rõ mệt hứng khởi hiện trên khuôn mặt. Bà tự kẹp chiếc ghế gấp dưới nách, nhất quyết không để tôi xách hộ. Bà cứ đứng đó hàng giờ liền, im lặng và bất động, dõi theo từng đường cọ chuyển động. Khi tôi bất ngờ đạt được hiệu ứng ưng ý chỉ bằng một nhát màu phết lên bằng bay hội họa, bà vô tình thốt lên một tiếng 'A' nhỏ đầy kinh ngạc, vui sướng và ngưỡng mộ. Bà dành cho những bức tranh của tôi một sự kính trọng vô bờ bến, một sự tôn kính gần như mang tính tôn giáo dành cho bản sao nhân tạo của một phần công trình tuyệt mỹ do tạo hóa tạo nên. Các bức vẽ của tôi đối với bà giống như những bức tranh thánh, và thỉnh thoảng bà lại nói chuyện với tôi về Chúa với ý định cải đạo cho tôi.

“Ôi, vị Chúa của bà quả là một thực thể kỳ quặc và tốt bụng! Ngài giống như một thứ triết gia làng xã chẳng có nguồn lực lớn lao cũng chẳng có quyền năng cao cả, bởi bà luôn hình dung Ngài là một đấng đau buồn khôn nguôi trước những bất công diễn ra ngay trước mắt mà bản thân lại bất lực chẳng thể ngăn chặn.

“Dù vậy, bà vẫn có mối quan hệ vô cùng tốt đẹp với Ngài, thậm chí ra điều mình là người nắm giữ bí mật và những muộn phiền của Ngài. Bà hay nói:

“'Chúa muốn thế' hoặc 'Chúa không muốn thế', hệt như một gã trung sĩ đang hô hào lính mới: 'Đại tá đã ra lệnh.'

“Sâu thẳm trong tim, bà vô cùng tiếc nuối cho sự thiếu hiểu biết của tôi về những ý định của Đấng Tối Cao, và luôn tìm cách truyền đạt lại chúng cho tôi.

“Gần như ngày nào tôi cũng tìm thấy trong túi áo, trong chiếc mũ khi tôi nhặt nó lên từ mặt đất, trong hộp đựng màu, hay trên đôi giày đánh bóng đặt trước cửa nhà mỗi sáng những tập truyền đơn tôn giáo nhỏ mà chắc chắn bà nhận được trực tiếp từ Thiên đàng.

“Tôi đối xử với bà như với một người bạn lâu năm, bằng sự chân thành tự nhiên. Nhưng chẳng mấy chốc tôi nhận ra bà đã thay đổi đôi chút trong cách cư xử, dù thoạt đầu tôi chẳng mấy bận tâm.

“Khi tôi đang vẽ, dù ở trong thung lũng hay trên mấy con đường làng, tôi thường thấy bà bất ngờ xuất hiện với dáng đi nhanh nhẹn, thoăn thoắt. Rồi bà sẽ ngồi phịch xuống, thở hổn hển như vừa trải qua một cuộc chạy đua hay bị chấn động bởi một niềm cảm xúc sâu sắc nào đó. Gương mặt bà sẽ đỏ lựng, cái sắc đỏ đậm chất Anh quốc mà người ở các xứ sở khác không bao giờ có được; rồi chẳng vì lý do gì, bà lại chuyển sang tái xanh như tàu lá và trông như sắp ngất đi. Dù vậy, dần dần sắc hồng tự nhiên cũng quay trở lại và bà bắt đầu cất lời.

“Rồi, chẳng thèm báo trước, bà đang nói giữa chừng bỗng ngưng bặt, vùng đứng phắt dậy và bước đi nhanh đến mức kỳ lạ khiến tôi hoàn toàn bối rối chẳng tài nào đoán được mình đã lỡ làm hay nói gì khiến bà phật lòng hay tổn thương.

“Cuối cùng tôi đinh ninh rằng đó chính là tính cách bình thường của bà, chỉ là có đôi chút kiềm chế hơn để nể nang tôi trong những ngày đầu mới quen.

“Khi trở về trang trại, sau những giờ dài lang thang trên vùng bờ biển lộng gió, những lọn tóc dài của bà thường rũ rượi thẳng đuột như thể lò xo đã bị hỏng. Trước đây điều này hiếm khi làm bà bận tâm, và bà vẫn vô tư bước vào bữa ăn tối với mái tóc bù xù do người chị em là gió tạt vào.

“Nhưng giờ đây bà sẽ lui về phòng để chỉnh đốn lại mái tóc rối bù, và khi tôi dùng giọng điệu trêu chọc quen thuộc — thứ vốn luôn khiến bà phật lòng — để nói rằng:

“'Hôm nay trông cô rạng rỡ như một vì sao đấy, Miss Harriet,'

“Lập tức đôi má bà sẽ ửng đỏ, sắc hồng của một thiếu nữ, của một cô bé tuổi mười lăm.

“Rồi bà bỗng trở nên vô cùng khép nép và thôi không ra xem tôi vẽ nữa. Tôi tự nhủ: 'Chắc chỉ là một cơn dở chứng nhất thời thôi; rồi sẽ qua ấy mà.' Nhưng nó không hề qua đi, và mỗi khi tôi bắt chuyện, bà lại đáp lại hoặc bằng sự thờ ơ giả tạo hoặc bằng vẻ bực dọc hằn học.

“Bà trở nên thô lỗ, thiếu kiên nhẫn và dễ cáu gắt theo từng ngày. Giờ đây tôi chỉ gặp bà vào bữa ăn, và chúng tôi hầu như chẳng nói với nhau câu nào. Cuối cùng tôi kết luận rằng chắc chắn mình đã vô tình xúc phạm bà điều gì đó, và vì thế, vào một buổi tối, tôi cất lời:

“'Miss Harriet, sao dạo này cô lại đối xử với tôi khác hẳn trước thế? Tôi đã làm gì khiến cô không vừa lòng chứ? Cô đang làm tôi đau lòng lắm đấy!'

“Bà đáp lại với một giọng điệu giận dỗi đầy ngộ nghĩnh:

“'Tôi đối với ngài vẫn thế, chẳng có gì thay đổi cả. Không đúng đâu, không đúng đâu,' rồi bà chạy vụt lên lầu và tự nhốt mình trong phòng.

“Thỉnh thoảng bà lại nhìn tôi bằng một ánh mắt vô cùng kỳ lạ. Kể từ dạo ấy, tôi vẫn thường tự nhủ rằng những kẻ bị kết án tử chắc hẳn cũng mang ánh mắt ấy khi họ được thông báo rằng ngày tàn đã đến. Trong ánh mắt bà ẩn chứa một thứ cuồng si, một cơn cuồng si vừa mang màu sắc huyền bí lại vừa bạo liệt; và hơn thế nữa, một thứ cơn sốt, một niềm khát khao khắc khoải, thiếu kiên nhẫn và bất lực hướng tới những điều không thể với tới và không tài nào với tới nổi.

“Không những thế, tôi còn có cảm giác trong lòng bà đang diễn ra một cuộc giằng xé, nơi trái tim bà phải chiến đấu với một thế lực vô hình mà bà đang cố khuất phục, thậm chí, biết đâu còn có cả điều gì khác nữa. Nhưng làm sao tôi biết được chứ? Làm sao tôi có thể thấu tỏ được cơ chứ?

“Quả là một sự bộc lộ kỳ lạ.

“Từ một khoảng thời gian trước, tôi đã bắt đầu thực hiện một bức tranh ngay khi ánh bình minh vừa ló dạng, với chủ đề như sau:

“Một khe núi sâu thẳm, bị kẹp giữa hai lùm cây và dây leo rậm rạp, kéo dài tít tắp về phía chân trời rồi chìm khuất, hòa lẫn vào lớp sương mù đục ngầu, vào đám mây bề bồng tựa bông gòn đôi khi lững lờ trôi trên các thung lũng vào lúc hừng sáng. Và ở tận cùng của lớp sương mù nặng nề, mờ ảo ấy, người ta thấp thoáng nhìn thấy, hoặc đúng hơn là cảm nhận được, một đôi uyên ương đang tiến lại gần, một đôi trai gái, vòng tay ôm lấy nhau, quấn quýt bên nhau, đầu ngả vào nhau, đôi môi chạm vào nhau.

“Tia nắng đầu tiên chiếu xuyên qua những tán cành, đâm thủng lớp sương sớm ấy, thắp lên đó một ánh hồng rực rỡ ngay phía sau đôi tình nhân mộc mạc, làm nổi bật cái bóng mờ ảo của họ trên phông nền lấp lánh ánh bạc. Bức tranh thực sự rất có hồn; vâng, quả thực rất có hồn.

“Tôi đang cặm cụi làm việc trên con dốc dẫn xuống thung lũng Etretat. Sáng hôm ấy, thật tình cờ, tôi lại bắt gặp đúng thứ màn sương bồng bềnh mà mình đang cần. Đột nhiên có thứ gì đó dựng đứng lên trước mặt tôi hệt như một bóng ma; đó chính là Miss Harriet. Vừa trông thấy tôi, bà liền toan quay đầu chạy trốn. Nhưng tôi cất giọng gọi giật lại: 'Đến đây đi, đến đây nào, thưa tiểu thư. Tôi có một bức tranh nhỏ xinh xắn dành cho cô đây.'

“Bà bước tới, dù trông có vẻ ngập ngừng. Tôi đưa cho bà bản phác thảo của mình. Bà không nói gì cả, cứ đứng lặng ngây ra đó suốt một hồi lâu, ngắm nhìn nó, rồi bỗng nhiên bà òa khóc. Bà khóc nấc lên, hệt như những người đàn ông vẫn luôn kìm nén cơn giọt lệ nhưng nay không thể gồng mình thêm được nữa và buông xuôi cho nỗi buồn trào dâng, dẫu trong lòng vẫn còn đang kháng cự. Tôi vùng đứng dậy, xúc động trước nỗi buồn mà mình chẳng tài nào hiểu thấu, và tôi chộp lấy tay bà bằng một bản năng bộc phát đầy thân ái — một bản năng chính hiệu kiểu Pháp cứ hành động trước khi kịp suy nghĩ.

“Bà để mặc đôi tay nằm gọn trong tay tôi suốt vài giây, và tôi cảm nhận được chúng đang run bần bật như thể toàn bộ dây thần kinh trong cơ thể bà đang bị giật đứt. Rồi bà đột ngột rụt tay lại, hay đúng hơn là giật phăng ra.

“Tôi nhận ra cơn run rẩy ấy, bởi tôi đã từng trải qua nó, và tôi không thể nào nhầm lẫn được. A! Cơn run rẩy vì tình của một người phụ nữ, dù cô ta ở tuổi mười lăm hay năm mươi, dù cô ta xuất thân từ chốn bình dân hay giới thượng lưu, đều đâm thẳng vào tim tôi đến mức tôi chưa bao giờ ngần ngại trong việc thấu hiểu nó!

“Toàn bộ cơ thể mỏng manh của bà đã run lên, đã rung động, đã hoàn toàn gục ngã. Tôi hiểu rõ điều đó. Bà bước đi trước khi tôi kịp thốt lên lấy một lời, để lại tôi ngạc nhiên hệt như vừa chứng kiến một phép màu và hoang mang chẳng khác nào vừa phạm phải một tội ác.

“Tôi không vào nhà ăn sáng. Tôi thẩn thơ đi dạo dọc mép vách đá, cảm thấy tâm trạng lơ lửng giữa khóc và cười, vừa thấy câu chuyện này vừa khôi hài vừa bi thảm, vừa thấy vị trí của mình thật nực cười, lại vừa lo lắng rằng bà sẽ đau khổ đến mức phát điên lên mất.

“Tôi tự hỏi mình nên làm gì bây giờ. Có lẽ cách tốt nhất là rời khỏi nơi này, và tôi lập tức quyết định sẽ làm vậy ngay.

“Mang theo chút u sầu và bối rối, tôi lang thang cho đến tận giờ ăn tối rồi bước vào trang trại đúng lúc món súp vừa được dọn lên.

“Tôi ngồi vào bàn ăn như mọi khi. Miss Harriet đã có mặt ở đó, lầm lũi ăn uống một cách trang nghiêm, chẳng thề mở lời với ai, thậm chí chẳng thèm ngẩng đầu lên. Tuy nhiên, thái độ và biểu cảm của bà vẫn y như ngày thường.

“Tôi kiên nhẫn chờ đợi cho đến khi bữa ăn kết thúc, rồi quay sang phía bà chủ nhà, tôi nói: 'Này, thưa bà Lecacheur, chắc chẳng bao lâu nữa tôi sẽ phải nói lời chào tạm biệt với bà thôi.'

“Bà chủ nhà, vừa ngạc nhiên vừa hoảng hốt, cất giọng kéo dài đáp lời: 'Trời ơi, ngài đang nói gì thế ạ? Ngài định rời bỏ chúng tôi sau khi tôi đã quen với sự hiện diện của ngài rồi sao?'

“Tôi liếc nhanh Miss Harriet từ khóe mắt. Nét mặt bà chẳng hề biến sắc lấy một chút. Nhưng Celeste, cô hầu bàn nhỏ, lại ngước nhìn tôi. Đó là một cô bé mập mạp, tầm mười tám tuổi, má hồng phao, tươi tắn, khỏe như lực điền và có một ưu điểm hiếm có là rất sạch sẽ. Tôi thỉnh thoảng vẫn hay ôm hôn vội vàng cô bé ở những góc khuất theo kiểu cách của khách du lịch — chẳng có gì hơn thế.

“Bữa tối cuối cùng cũng kết thúc, tôi ra dưới tán cây táo châm tẩu thuốc, đi qua đi lại từ đầu này đến đầu kia khu vườn. Tất cả những suy ngẫm trong ngày, sự khám phá kỳ lạ vào buổi sáng, thứ tình cảm cuồng nhiệt và quái đản dành cho tôi, những kỷ niệm mà màn bộc lộ ấy vừa khơi gợi lại — vừa cuốn hút lại vừa hóc búa, có lẽ cả ánh nhìn mà cô hầu bàn vừa ném về phía tôi khi nghe tin tôi sắp sửa lên đường — tất cả mọi thứ ấy, trộn lẫn và nhào nặn vào nhau, giờ đây đẩy tôi vào một tâm trạng liều lĩnh, mang lại cho tôi cảm giác râm ran của những nụ hôn trên môi và trong huyết quản thứ gì đó đang thôi thúc tôi phạm phải một điều điên rồ nào đó.

“Đêm đang buông xuống, trùm những bóng râm đen kịt lên các tán cây, thì tôi thoáng thấy Celeste đang đi ra cuối khu vườn để khóa chuồng gia cầm. Tôi lao vụt về phía đó, chạy nhẹ chân đến mức cô chẳng hề hay biết, và ngay khi cô vừa đứng dậy sau khi đóng chiếc cửa sập nhỏ cho gà ra vào, tôi liền ôm chầm lấy cô và trút lên gương mặt thô kệch, mũm mĩm ấy một trận mưa nụ hôn. Cô vừa giãy giụa vừa khúc khích cười, hệt như thói quen trong những hoàn cảnh ấy. Tại sao tôi lại bỗng nhiên buông tay cô ra? Tại sao ngay khoảnh khắc đó tôi lại giật mình thon thót? Thứ âm thanh gì mà tôi vừa nghe thấy đằng sau lưng vậy?

“Đó chính là Miss Harriet. Bà đã bất ngờ bước đến, đã tận mắt chứng kiến tất cả và đang đứng trân trân trước mặt chúng tôi hệt như một bóng ma. Rồi bà biến mất hút vào màn đêm.

“Tôi thấy hổ thẹn, bối rối, tuyệt vọng vì bị bà bắt gặp cảnh đó còn hơn là thể mình vừa phạm phải một trọng tội.

“Đêm đó tôi ngủ không ngon giấc. Tôi hoàn toàn suy sụp và bị ám ảnh bởi những ý nghĩ u ám. Dường như tôi nghe thấy tiếng khóc nức nở vang lên, nhưng chắc là tôi nhầm lẫn. Hơn thế nữa, có vài lần tôi tưởng tượng có ai đó đang đi đi lại lại trong nhà và mở cửa chính.

“Đến gần sáng tôi mới kiệt sức và chìm vào giấc ngủ. Tôi dậy muộn và mãi đến bữa trưa muộn mới mò xuống nhà, tâm trạng vẫn còn bàng hoàng, chẳng biết nên trưng ra bộ mặt thế nào cho phải.

“Chẳng ai nhìn thấy Miss Harriet cả. Chúng tôi chờ bà ở bàn ăn nhưng chẳng thấy bóng dáng đâu. Cuối cùng bà Lecacheur đành lên tận phòng bà. Hóa ra quý bà người Anh đã đi ra ngoài. Chắc bà lại xuất phát từ lúc rạng đông như mọi khi để ngắm mặt trời mọc rồi.

“Chẳng ai tỏ ra ngạc nhiên về điều này, và chúng tôi bắt đầu ăn trong im lặng.

“Thời tiết oi ả, vô cùng oi bức, một trong những ngày nóng nực và nặng nề đến mức chẳng một chiếc lá nào lay động. Bàn ăn được dọn ra ngoài trời, dưới bóng một gốc cây táo, và thỉnh thoảng Sapeur lại phải xuống hầm lấy một vại táo mật vì ai nấy đều khát khô cả cổ. Celeste bồng bế các món ăn từ bếp lên, nào là món thịt cừu hầm khoai tây, thỏ nguội và salad. Sau đó cô dọn ra một đĩa dâu tây, mẻ dâu đầu tiên của mùa.

“Vì muốn rửa sạch và làm tươi mẻ dâu, tôi bèn nhờ cô hầu bàn đi múc cho mình một bình nước lạnh.

“Chỉ độ năm phút sau cô ta quay trở lại, thông báo rằng giếng đã cạn nước. Cô đã thả gàu xuống hết tầm dây và chạm tới đáy, nhưng khi kéo lên thì gàu hoàn toàn trống không. Bà Lecacheur, lo lắng muốn tự mình kiểm tra sự tình, liền bước tới ngó xuống miệng giếng. Bà quay lại, thông báo rằng người ta có thể nhìn rõ mồn một thứ gì đó dưới đáy giếng, một vật gì hoàn toàn bất thường. Nhưng chắc đó chỉ là mấy bó rơm mà tên hàng xóm nào đó vì ghét bỏ nên đã ném xuống.

“Tôi cũng muốn ghé mắt nhìn xuống giếng với hy vọng giải mã được bí ẩn, thế là tôi chồm người sát miệng giếng. Tôi lờ mờ nhận ra một vật thể màu trắng. Đó có thể là gì chứ? Tôi liền nảy ra ý định thả một chiếc đèn lồng buộc vào đầu sợi dây. Khi tôi làm vậy, ngọn lửa vàng rực nhảy múa trên những lớp đá và dần trở nên sáng rõ hơn. Cả bốn chúng tôi đều rướn người quây quần bên miệng giếng, Sapeur và Celeste lúc này cũng đã nhập cuộc. Chiếc đèn lồng dừng lại trên một khối đen trắng mờ ảo, kỳ quái và không tài nào hiểu nổi. Sapeur thốt lên:

“'Đó là một con ngựa. Tôi thấy móng của nó kìa. Chắc nó sổng chuồng từ cánh đồng lúc nửa đêm rồi cắm cổ rơi tùm xuống đây.'

“Nhưng đột nhiên một luồng lạnh buốt thấu xương chạy dọc sống lưng tôi. Tôi nhận ra trước tiên là một bàn chân, tiếp đến là một cẳng chân đang chổng ngược lên; toàn bộ phần thân mình và chiếc chân còn lại đã ngập chìm hoàn toàn dưới nước.

“Tôi lắp bắp cất giọng lớn, run lẩy bẩy đến mức chiếc đèn lồng trên tay cứ lắc lư qua lại trên chiếc giày vải:

“'Đó là một người phụ nữ! Ai... ai... có thể là ai được chứ? Chính là Miss Harriet!'

“Chỉ có mình Sapeur là không biểu lộ vẻ kinh hãi. Cậu ta từng chứng kiến quá nhiều cảnh tượng như vậy ở châu Phi rồi.

“Bà Lecacheur và Celeste bắt đầu thét lên những tiếng thét xé ruột rồi cắm cổ chạy thục mạng.

“Nhưng thế nào thì cũng phải vớt thi thể người xấu số lên. Tôi buộc chặt đoạn dây thừng vào thắt lưng cậu thanh niên rồi từ từ thả cậu xuống, hồi hộp dõi theo bóng cậu khuất dần vào màn đêm. Một tay cậu cầm đèn lồng, tay kia giữ chặt sợi dây. Chẳng mấy chốc tôi nhận ra giọng cậu, vang lên như phát ra từ tâm trái đất, vọng lại:

“'Được rồi!'

“Rồi tôi thấy cậu vớt được thứ gì đó từ dưới nước lên. Đó chính là chiếc chân còn lại. Cậu liền buộc chặt hai bàn chân lại với nhau và lại hô lớn:

“'Kéo lên đi!'

“Tôi bắt đầu quay ròng rọc, nhưng cảm thấy đôi tay mình muốn nứt ra, các thớ cơ giật đùng đùng, và tôi vô cùng sợ hãi lỡ tay làm rơi cậu ta xuống đáy giếng. Khi đầu cậu xuất hiện ngay miệng giếng, tôi liền hỏi:

“'Sao rồi?' cứ như thể tôi đang đợi một thông điệp từ người chết đuối vậy.

“Cả hai chúng tôi bước lên phiến đá sát miệng giếng và từ hai phía bắt đầu kéo thi thể lên.

“Bà Lecacheur và Celeste đứng từ xa dõi theo, nép kín người sau bức tường nhà. Khi vừa nhìn thấy đôi giày vải đen và đôi bít tất trắng của người chết đuối ló dạng từ dưới cái hố, họ liền biến mất tăm.

“Sapeur tóm lấy cổ chân, và chúng tôi cùng kéo thi thể tội nghiệp lên. Gương mặt bà trông thật kinh hoàng, bị bầm dập và trầy xước, còn mái tóc dài màu xám — giờ đã duỗi thẳng vĩnh viễn — buông thõng rối bù, bết bát.

“'Nhân danh Chúa thánh thần! Sao mà mụ ta gầy thế không biết,' Sapeur cất giọng khinh miệt thốt lên.

“Chúng tôi khiêng bà vào phòng, và vì mấy người phụ nữ chẳng thèm bén mảng tới, tôi đành cùng cậu thợ ngựa chuẩn bị khâm liệm cho người quá cố.

“Tôi rửa sạch gương mặt biến dạng của bà. Dưới ngón tay tôi, một con mắt khẽ hé mở và nhìn tôi bằng ánh mắt nhợt nhạt, lạnh lẽo ấy, ánh mắt khủng khiếp của một thây ma mang theo hơi hướng từ thế giới bên kia. Tôi tết lại mái tóc bù xù của bà hết sức có thể và bằng đôi bàn tay vụng về của mình tạo cho bà một kiểu đầu mới lạ và độc đáo. Rồi tôi cởi bỏ những xiêm y sũng nước, bộc lộ — không phải không có chút thẹn thùng, cứ như thể mình vừa phạm phải một hành động báng bổ — đôi vai, lồng ngực và đôi cánh tay dài gầy guộc hệt như những cành cây khô của bà.

“Sau đó tôi đi hái một ít hoa — hoa anh túc, hoa cúc xanh, cúc trắng và cả thứ cỏ thơm tươi mát — để rải lên chiếc giường tang lễ của bà.

“Rồi tôi lại phải chạy đôn chạy đáo lo mấy thủ tục quen thuộc, bởi tôi là kẻ duy nhất gánh vác mọi chuyện. Một bức thư tìm thấy trong túi áo bà, được viết vào phút chót, tha thiết xin được chôn cất tại chính ngôi làng nơi bà đã trải qua những ngày tháng cuối đời. Một nỗi hoài nghi u buồn đè nặng lên trái tim tôi. Phải chăng chính vì tôi mà bà muốn được yên nghỉ vĩnh hằng tại chốn này?

“Đến chiều tối, toàn bộ mấy bà tám trong vùng kéo đến để chiêm ngưỡng thi hài người quá cố, nhưng tôi kiên quyết không cho bất kỳ ai bước vào. Tôi muốn ở một mình, và tôi đã túc trực bên bà suốt cả đêm.

“Tôi ngắm nhìn cái thây ma dưới ánh nếnập bập chờn, người phụ nữ bất hạnh ấy, kẻ xa lạ với tất cả chúng ta, đã ra đi theo một cách thê thảm và ở một nơi cách xa quê nhà đến vậy. Liệu bà có để lại người thân hay bạn bè nào đằng sau không? Thời thơ ấu của bà ra sao? Cuộc đời bà thế nào? Từ đâu bà lại đến đây một mình, lang thang, bơ vơ như một con chó bị đuổi khỏi nhà? Những bí mật nào về sự đớn đau và tuyệt vọng đã bị niêm phong kín mít trong thân hình kém sắc ấy, trong cái thân thể tội nghiệp mà vẻ bề ngoài đã tước đoạt khỏi bà mọi sự ân cần, mọi tình yêu thương?

“Biết bao con người bất hạnh làm sao! Tôi cảm nhận rõ ràng rằng đè nặng lên sinh linh con người ấy chính là sự bất công muôn thuở của tự nhiên vô tình! Mọi thứ đã chấm dứt với bà, có lẽ mà bà chưa từng một lần nếm trải thứ cảm giác vẫn nâng đỡ những kẻ khốn cùng nhất — ấy là hy vọng được một lần yêu thương! Nếu không thì tại sao bà phải che giấu bản thân, phải trốn chạy ánh nhìn của người khác đến vậy? Tại sao bà lại yêu mến mọi thứ một cách nồng nàn và tha thiết đến thế, mọi sinh vật sống không phải là đàn ông?

“Tôi nhận ra rằng bà có niềm tin vào Chúa, và bà hằng hy vọng sẽ nhận lại từ Ngài sự đền bù cho mọi nỗi cơ cực mà bà từng gánh chịu. Giờ đây bà sẽ tan rã và lần lượt biến thành một cây cỏ. Bà sẽ nở hoa dưới ánh mặt trời, đàn gia súc sẽ gặm nhấm những chiếc lá của bà, những chú chim sẽ mang hạt đi muôn phương, và qua những sự biến hóa ấy, bà sẽ lại trở về với da thịt con người. Nhưng thứ được gọi là tâm hồn thì đã lụi tàn dưới đáy chiếc giếng tối tăm. Bà không còn phải chịu đựng thêm đau khổ nào nữa. Bà đã dâng hiến cuộc đời mình cho sự sống của những kẻ khác mai sau.

“Thời gian trôi qua trong buổi giao cảm tĩnh lặng và đầy ám ảnh với người đã khuất. Ánh sáng nhợt nhạt cuối cùng cũng báo hiệu một ngày mới bắt đầu; rồi một tia nắng đỏ rực chiếu rọi vào căn phòng, vắt ngang một vệt sáng lên tấm chăn và đôi bàn tay bà. Đây chính là khoảng thời gian mà bà từng vô cùng yêu thích. Đàn chim thức giấc bắt đầu cất tiếng hót trên vòm cây.

“Tôi mở toang cửa sổ hết cỡ và vén rèm sang hai bên để toàn bộ bầu trời có thể nhìn vào bên trong chúng tôi, và, rướn người cúi xuống cái xác lạnh ngắt, tôi nâng chiếc đầu dập nát trong hai tay mình và chầm chậm, chẳng mảy đầu sợ hãi hay ghê tởm, tôi đặt lên đôi môi chưa từng được ai hôn ấy một nụ hôn, một nụ hôn dài.”

Leon Chenal chìm vào im lặng. Mấy người phụ nữ rưng rưng khóc. Chúng tôi nghe thấy tiếng Bá tước d'Atraille ở ghế trên thỉnh thoảng lại hỉ mũi. Chỉ có người đánh xe là đã chìm vào giấc ngủ. Đám ngựa, không còn cảm nhận thấy sức roi thúc giác nữa, liền chùng nhịp bước và lững thững di chuyển. Chiếc xe ngựa, hầu như chẳng nhích lên được bao nhiêu, bỗng trở nên uể oải hệt như đang mang trên mình một gánh nặng toàn những nỗi buồn.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.