Tuyển Tập Truyện Ngắn Nguyên Bản Hoàn Chỉnh Của Guy De Maupassant

Lượt đọc: 2835 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Bé Louise Roque

❊ ❊ ❊

Cựu binh Mederic Rompel, người vẫn thường được dân làng gọi thân mật là Mederic, rời bưu cục Roily-le-Tors vào giờ giấc quen thuộc. Sau khi sải những bước dài băng qua ngôi làng, ông rẽ vào các đồng cỏ của Villaume rồi tới bờ sông Brindille, đi theo lối mòn ven nước hướng về làng Carvelin để bắt đầu phát thư. Ông rảo bước nhanh, dõi theo dòng sông nhỏ đang sủi bọt, rầm rì và cuộn mình trong lòng cỏ dưới vòm liễu rủ.

Mederic cứ thế tiến bước không nghỉ, trong đầu chỉ vẩn vơ một ý nghĩ: “Lức thư đầu tiên là dành cho gia đình Poivron, tiếp theo là thư cho ngài Renardet; vậy nên ta phải băng qua khu rừng.”

Chiếc áo blouse xanh, thắt gọn quanh eo bằng một dải da đen, chuyển động nhanh và đều đặn phía trên hàng rào liễu xanh ngắt, trong khi cây gậy gỗ thích vững chắc của ông nhịp nhàng theo từng bước chân kiên định.

Ông vượt qua sông Brindille bằng một chiếc cầu làm từ thân cây, có tay vịn bằng dây thừng, được cố định hai đầu vào những chiếc cọc cắm sâu xuống đất.

Khu rừng thuộc quyền sở hữu của ngài Renardet, thị trưởng làng Carvelin đồng thời là điền chủ lớn nhất vùng, bao gồm những cổ thụ khổng lồ thẳng tắp như những cột trụ, kéo dài chừng nửa dặm dọc theo bờ trái dòng suối — con suối đóng vai trò như ranh giới cho vòm lá rợp bóng mênh mông ấy. Sát mép nước, những bụi cây lớn vươn mình đón ánh dương, nhưng dưới tán rừng chỉ toàn rêu phong dày dặn, mềm mại và xốp êm, tỏa ra thứ mùi ẩm mốc của đất ẩm và mục gỗ trong bầu không khí tĩnh lặng.

Mederic chùng chân bước chậm lại, tháo chiếc mũ đen viền ren đỏ xuống để lau trán, bởi đến lúc này cái nóng đã tràn ngập các đồng cỏ, dẫu khi ấy chưa đến tám giờ sáng.

Ông vừa vơi bớt cái oi bức và lấy lại sải bước nhanh nhọn thì chợt trông thấy một con dao nhỏ của trẻ em nằm dưới gốc cây. Khi cúi xuống nhặt, ông lại phát hiện thêm một chiếc ống đựng kim khâu và một chiếc đê ngay gần đó.

Nhặt những vật này lên, ông thầm nghĩ: “Ta sẽ giao nộp chúng cho ngài thị trưởng,” rồi tiếp tục hành trình, nhưng từ lúc đó mắt ông đảo liên hồi, thầm mong tìm thấy thứ gì khác.

Đột nhiên ông khựng lại chết sững, hệt như vừa đâm sầm vào một hàng rào gỗ. Cách đó mười bước chân, ngửa mặt trên thảm rêu là một bé gái hoàn toàn khỏa thân, khuôn mặt bị che khuất bởi một chiếc khăn tay. Con bé độ chừng mười hai tuổi.

Mederic nhón gót tiến lại gần như thể đang dè chừng mối hiểm nguy nào đó, ánh mắt lo lắng liếc về phía tấm thân ấy.

Gì thế này? Chắc hẳn nó đang ngủ. Nhưng rồi ông sực nghĩ chẳng ai lại đi ngủ ngỏa ngòng trong bộ dạng trần trụi vào lúc bảy rưỡi sáng dưới bóng râm mát lạnh của hàng cây cả. Vậy thì, nó đã chết, và ông đang phải đối mặt với một vụ án mạng. Ý nghĩ ấy khiến một luồng khí lạnh buốt chạy dọc sống lưng, dẫu ông vốn là một cựu binh. Hơn nữa, án mạng là một điều vô cùng hiếm hoi ở chốn thôn quê này, nhất lại là án mạng của một đứa trẻ, khiến ông không thể tin nổi vào mắt mình. Song trên người con bé không hề có vết thương — chẳng có gì ngoài một vệt máu nhỏ trên đùi. Vậy rốt cuộc nó đã bị sát hại bằng cách nào?

Ông dừng lại sát bên, tay tỳ lên gậy và chăm chú ngắm nhìn. Chắc chắn ông phải biết mặt nó, bởi ông tường tận mọi cư dân trong vùng; nhưng vì không tài nào nhìn được mặt, ông không sao đoán ra tên họ. Ông chúi người định giật chiếc khăn tay đang phủ trên mặt con bé, rồi bỗng khựng lại với bàn tay giơ giữa chừng, bị ngăn bởi một ý chợt lóe lên trong đầu.

Liệu ông có quyền xê dịch bất cứ thứ gì hiện trạng của thi thể trước khi cơ quan chức năng tiến hành điều tra? Trong tưởng tượng của mình, công lý hiện lên như một vị tướng khắt khe chẳng bỏ sót điều gì và đánh giá tầm quan trọng của một chiếc cúc áo bị mất cũng ngang ngửa nhát dao đâm vào bụng. Biết đâu dưới chiếc khăn tay này lại ẩn chứa những bằng chứng buộc tội kẻ sát nhân; thực ra, nếu những tang chứng ấy tồn tại, chúng có thể mất đi giá trị nếu bị bàn tay vụng về của ông chạm vào.

Rồi ông đứng thẳng dậy với ý định vội vã chạy đến dinh thự của thị trưởng, nhưng một ý nghĩ khác lại kìm chân ông lại. Lỡ như cô bé vẫn còn sống, dẫu chỉ là một hy vọng mong manh, ông không thể bỏ mặc nó nằm thế này được. Ông nhẹ nhàng quỳ rạp xuống, cách xa thi thể một quãng để đề phòng, rồi chìa tay về phía bàn chân con bé. Chân nó lạnh ngắt — cái lạnh khủng khiếp của tử thần chẳng còn chừa lại chút nghi ngờ nào. Người đưa thư bàng hoàng nhận ra, khi chạm vào con bé, tim ông như nghẹn lại ở cổ họng, như lời ông kể lại sau này, và miệng thì khô khốc. Đột ngột đứng phắt dậy, ông lao cắm cổ dưới tán cây hướng về nhà ngài Renardet.

Ông bước đi nhanh hơn bao giờ hết, kẹp chặt gậy dưới nách, hai tay nắm chặt và đầu chúi về phía trước, trong khi chiếc túi da đựng thư từ và báo chí cứ đập phần phật bên sườn.

Dinh thự của ngài thị trưởng nằm ở phía cuối khu rừng đóng vai trò như một khu vườn lớn, với một mặt giáp dòng Brindille.

Đó là một ngôi nhà vuông vức bằng đá xám, rất cổ kính, từng trải qua không ít cuộc vây hấn thuở trước, và phía cuối nhà là một tòa tháp khổng lồ cao tới hai mươi mét mọc lên từ lòng nước.

Từ đỉnh pháo đài này, thuở xưa người ta có thể quan sát toàn bộ vùng đất xung quanh. Nó được gọi là tháp Cáo, chẳng ai biết chính xác vì lý do gì; và chắc hẳn từ tên gọi ấy đã sinh ra họ Renardet của những chủ nhân trang ấp này — nơi đã được truyền qua đời dòng họ suốt hơn hai trăm năm, theo lời đồn đại. Bởi dòng họ Renardet vốn thuộc tầng lớp trung lưu thượng lưu, suýt chạm tới hàng quý tộc, thường hay bắt gặp ở các tỉnh lẻ trước thời Cách mạng.

Người đưa thư lao sầm vào nhà bếp, nơi đám gia nhân đang dùng bữa sáng, và lớn tiếng: “Thị trưởng dậy chưa? Tôi cần gặp ngài ấy ngay lập tức.”

Mederic vốn là người có vai vế và uy tín, nên họ hiểu rằng đã có chuyện nghiêm trọng xảy ra.

Ngay khi có lời bẩm báo tới ngài Renardet, ông liền ra lệnh cho phép người đưa thư lên gặp. Đầu bù tóc rối, thở hồng hộc và tay cầm chiếc mũ, Mederic nhìn thấy vị thị trưởng đang ngồi bên chiếc dài phủ đầy giấy tờ ngổn ngang.

Đó là một người đàn ông to lớn, cao kều, nặng nề, mặt đỏ phừng phừng và khỏe như trâu, rất được lòng dân trong vùng dẫu có bản tính hung hăng quá đỗi. Gần bốn mươi tuổi và chịu cảnh góa vợ sáu tháng nay, ông sống trong điền trang của mình như một bậc điền chủ nông thôn. Tính nết nóng nảy từng nhiều lần đẩy ông vào rắc rối mà các thẩm phán ở Roily-le-Tors, bằng sự bao dung và thận trọng của những người bạn, đã phải đứng ra giải vây. Chẳng phải có lần ông từng ném người xà ích của chiếc xe khách khỏi ghế ngồi chỉ vì gã suýt chẹt phải con chó săn lông vàng Micmac của ông sao? Chẳng phải ông từng đánh gãy xương sườn một tay canh rừng dám mắng mỏ ông vì tội mang súng đi xuyên qua đất của nhà hàng xóm sao? Chẳng phải ông thậm chí từng tóm cổ áo vị phó tỉnh trưởng — kẻ ghé ngang qua làng trong một chuyến công du hành chính mà ngài Renardet gọi là chuyến vận động tranh cử, bởi ông vốn đứng ở phe đối lập với chính phủ theo truyền thống gia đình — đó sao?

Vị thị trưởng cất giọng hỏi:

“Có chuyện gì thế, Mederic?”

“Tôi vừa tìm thấy một bé gái đã chết trong khu rừng của ngài.”

Renardet đứng phắt dậy, mặt đỏ lựng như gạch nung.

“Cậu nói gì cơ — một bé gái ư?”

“Vâng, thưa ngài, một bé gái, hoàn toàn khỏa thân, nằm ngửa, có dính máu, đã chết — chết hẳn rồi ạ!”

Vị thị trưởng văng một câu chửi thề:

“Chết tiệt thật, ta dám cá đó chính là con bé Louise Roque! Ta vừa hay tin nó không về nhà với mẹ từ tối hôm qua. Cậu tìm thấy nó ở đâu?”

Người đưa thư miêu tả lại địa điểm, cung cấp mọi chi tiết tỉ mỉ và ngỏ ý muốn dẫn ngài thị trưởng ra tận nơi.

Nhưng Renardet bỗng trở nên cộc cằn:

“Không, ta không cần cậu. Hãy sai gã canh gác, thư ký của thị trưởng và bác sĩ đến gặp ta ngay lập tức, rồi tiếp tục đi phát thư đi. Nhanh lên, đi bảo họ hội quân với ta trong rừng ngay.”

Người đưa thư, vốn là kẻ quen bề kỷ luật, đành vâng lời lui ra trong nỗi bực bội và tiếc nuối vì không được mục kích vụ điều tra.

Về phần vị thị trưởng, ông cũng chuẩn bị ra ngoài, đội chiếc mũ phớt rộng vành và khựng lại vài giây trên bậc thềm cửa. Trước mặt ông trải dài một khoảng thảm cỏ rộng lớn, nơi có ba bồn hoa lớn đang nở rộ rực rỡ, một cái đối diện ngôi nhà và hai cái ở hai bên. Xxa hơn chút nữa là những tán cây rìa rừng vươn mình chạm tới bầu trời, trong khi ở phía bên trái, vượt qua dòng Brindille — nơi khúc sông ấy phình rộng ra như một cái ao — có thể nhìn thấy những đồng cỏ trải dài, một khoảng đất xanh mướt phẳng lì bị cắt ngang bởi những con mương và hàng rào liễu cộc.

Bên phải, phía sau chuồng ngựa, các nhà kho và toàn bộ các dãy nhà phụ trợ của điền trang, thấp thoáng bóng ngôi làng trù phú, nơi cư dân chủ yếu là những người chăn nuôi gia súc.

Renardet chậm rãi bước xuống bậc thềm trước nhà, rẽ trái, tiến đến sát mép nước và thủ thả bước theo dòng chảy, hai tay chắp sau lưng. Ông đi với cái đầu cúi gằm, thỉnh thoảng lại ngoái nhìn xung quanh để ngóng những người mà ông vừa sai người đi gọi.

Khi bước vào dưới tán cây, ông dừng lại, cởi mũ và lau trán hệt như Mederic đã làm, bởi ánh mặt trời thiêu đốt đang trút những tia nắng dữ dội xuống mặt đất. Rồi vị thị trưởng lại tiếp tục hành trình, dừng chân thêm lần nữa rồi quay đầu bước ngược lại. Bỗng nhiên, cúi gập người xuống, ông nhúng chiếc khăn tay vào dòng suối đang lững lờ trôi dưới chân rồi phủ lên đầu, giắt bên dưới vành mũ. Những giọt nước chảy ròng ròng qua thái dương, qua đôi tai lúc nào cũng đỏ gay, qua chiếc cổ đỏ và khỏe mạnh của ông, rồi luồn lọt từng giọt một xuống dưới cổ áo sơ mi trắng.

Chẳng thấy bóng dáng ai xuất hiện, ông bắt đầu dậm chân thình thịch rồi cất giọng gọi lớn:

“Này! Này!”

Một tiếng đáp lại vang lên từ phía bên phải:

“Này! Này!”

Và viên bác sĩ xuất hiện dưới tán lá. Đó là một gã đàn ông gầy gò, thấp bé, từng là bác sĩ phẫu thuật quân y, được vùng này nể trọng như một y bác sĩ vô cùng tay nghề. Ông ta đi khập khiễng do vết thương từ thời phục vụ trong quân ngũ và phải dùng gậy chống để hỗ trợ mỗi khi di chuyển.

Tiếp theo là gã canh gác và viên thư ký của thị trưởng — hai kẻ vì được gọi cùng lúc nên đã kéo nhau đến chung một lượt. Trông họ có vẻ hốt hoảng, thở hổn hển lao tới, lúc đi lúc chạy để đẩy nhanh tốc độ, đồng thời vung vẩy hai tay mạnh đến mức trông họ có vẻ dùng tay làm việc nhiều hơn là dùng chân.

Renardet cất giọng hỏi viên bác sĩ:

“Anh biết rắc rối lần này là gì rồi chứ?”

“Vâng, một đứa trẻ được Mederic phát hiện đã chết trong rừng.”

“Chuẩn xác rồi đấy. Đi nào!”

Họ sóng bước bên nhau, theo sau là hai kẻ kia.

Bước chân của họ không phát ra một tiếng động nào trên thảm rêu. Ánh mắt họ đăm đăm nhìn thẳng về phía trước.

Đột nhiên viên bác sĩ giơ cánh tay lên, cất giọng:

“Kìa, nó ở đằng kia kìa!”

Tít đằng xa dưới tán cây, họ thoáng thấy một vật trắng xóa đang hắt lên thứ ánh sáng mặt trời lọt qua kẽ lá. Khi tiến lại gần hơn, họ dần phân biệt được một hình hài con người đang nằm sõng soài, đầu hướng về phía dòng sông, mặt bị che kín và hai tay dang rộng hệt như thể đang chịu hình phạt đóng đinh trên cây thánh giá.

“Tôi nóng quá thể đáng,” vị thị trưởng cất lời, rồi cúi gập người, ông lại nhúng chiếc khăn tay xuống nước và quấn lên trán.

Vi viên bác sĩ rảo bước nhanh hơn, đầy vẻ tò mò trước phát hiện này. Ngay khi đứng sát thi thể, ông cúi xuống kiểm tra mà không hề chạm vào nó. Ông đã đeo chiếc kính kẹp mũi lên, hệt như cách người ta săm soi một cổ vật kỳ lạ nào đó, rồi ngẩng lên rất bình thản.

Không thèm đứng thẳng dậy, ông cất tiếng:

“Bị cưỡng bức và sát hại, lát nữa chúng ta sẽ chứng minh điều đó. Hơn nữa, con bé này đã phổng phao như một người phụ nữ rồi — hãy nhìn cổ nó kìa.”

Viên bác sĩ nhẹ nhàng kéo tấm khăn tay che mặt con bé ra. Khuôn mặt ấy đã thâm sì, kinh hoàng, lưỡi thè ra ngoài, đôi mắt đỏ ngầu máu. Ông nói tiếp:

“Lạy Chúa! Nó đã bị bóp cổ ngay thời điểm hành sự.”

Ông sờ vào cổ con bé.

“Bóp cổ bằng tay mà không để lại dấu vết đặc biệt nào, chẳng có vết móng tay cũng chẳng có dấu ngấn ngón tay. Chuẩn xác luôn. Đúng là con bé Louise Roque rồi còn gì!”

Ông cẩn thận đắp lại tấm khăn tay.

“Tôi chẳng còn việc gì để làm nữa cả. Nó đã chết ít nhất là từ một tiếng trước. Chúng ta phải báo cáo vụ việc cho nhà chức trách thôi.”

Renardet đứng thẳng người, hai tay chắp sau lưng, trân trân nhìn thi thể bé nhỏ đang phơi mình trên thảm cỏ với ánh mắt lạnh lẽo như đá. Ông lầm bầm:

“Đúng là một tên khốn nạn! Chúng ta phải tìm cho ra quần áo của nó.”

Vi viên bác sĩ nắn bóp bàn tay, cánh tay, đôi chân của nạn nhân. Ông nói:

“Chắc chắn nó vừa đi tắm về. Đồ đạc hẳn phải ở mép nước.”

Vị thị trưởng liền đưa ra chỉ thị:

“Principe (đây là viên thư ký của ông), anh hãy đi tìm đống quần áo đó dọc theo con suối cho tôi. Còn anh, Maxime (gã canh gác), hãy mau chóng đến Rouy-le-Tors và dẫn quan tòa cùng với đám hiến binh tới đây. Họ phải có mặt ở đây trong vòng một tiếng nữa. Anh hiểu chưa?”

Hai gã lập tức lên đường, còn Renardet quay sang nói với viên bác sĩ:

“Tên quái nhân nào lại dám làm một việc tày trời như thế ở cái vùng này cơ chứ?”

Viên bác sĩ lẩm bẩm:

“Ai mà biết được? Bất cứ kẻ nào cũng có khả năng làm chuyện đó. Mọi người nói chung và chẳng ai nói riêng cả. Mặc kệ đi, chắc chắn phải là một tên lang thang, một gã thợ thuyền thất nghiệp nào đó rồi. Kể từ khi chúng ta lên làm nước Cộng hòa, dọc theo mấy con đường toàn gặp những thành phần thế này.”

Cả hai bọn họ đều là tín đồ phái Bonapart.

Vị thị trưởng tiếp lời:

“Phải, chỉ có thể là một kẻ lạ mặt, một kẻ qua đường, một tên lang thang không nhà không cửa.”

Viên bác sĩ cười nhạt, trên khóe môi thoáng hiện một nụ cười mỉa mai:

“Và không vợ không con. Chẳng có nổi một bữa tối ngon lành hay một chiếc giường ấm áp, hắn ta đâm ra liều lĩnh. Cậu chẳng thể nào biết được trên đời này có bao nhiêu gã đàn ông đủ khả năng gây án vào một thời điểm nhất định đâu. Cậu có biết là con bé này đã mất tích từ trước không?”

Vừa nói, ông vừa dùng đầu gậy chọc chọc vào những ngón tay đã cứng đờ của thi thể, tỳ lên chúng hệt như đang bấm phím đàn piano.

“Vâng, người mẹ đã đến tìm tôi vào khoảng chín giờ tối hôm qua, vì đứa trẻ mãi vẫn chưa về lúc bảy giờ tối để ăn tối. Chúng tôi đã đi tìm nó dọc theo các con đường cho đến tận nửa đêm, nhưng lại chẳng nghĩ đến khu rừng này. Dù sao thì, chúng ta cũng cần ánh sáng ban ngày mới có thể lùng sục kỹ càng được.”

“Anh có muốn hút xì gà không?” viên bác sĩ cất lời.

“Cảm ơn, tôi không thích hút thuốc. Chuyện này cứ ám ảnh tôi mãi.”

Họ vẫn đứng lặng lẽ bên thi thể thiếu nữ, trông thật nhợt nhạt trên nền rêu sẫm màu. Một con ruồi xanh lớn đang bò lổm ngổm trên xác nạn nhân với những chuyển động thoăn thoắt, giật cục. Hai gã đàn ông cứ đăm đăm theo dõi đốm nhỏ đang di chuyển ấy.

Viên bác sĩ cất lời:

“Trông mới đẹp làm sao, một con ruồi trên da thịt! Các quý cô thế kỷ trước quả thực có lý khi dán chúng lên mặt mình. Sao mốt này lại thất truyền nhỉ?”

Vị thị trưởng có vẻ chẳng nghe thấy gì, chìm đắm trong dòng suy tư sâu kín.

Nhưng đột nhiên, ông quay ngoắt lại, giật mình trước một tiếng thét lanh lảnh. Một người phụ nữ đội mũ trùm đầu và mặc tạp dề xanh đang hớt hải chạy về phía họ dưới tán cây. Đó chính là người mẹ, mụ La Roque. Vừa trông thấy Renardet, mụ ta liền gào thét:

“Đứa con gái của tôi! Con bé đâu rồi?” với vẻ hoảng loạn đến mức chẳng thèm cúi xuống nhìn mặt đất. Bỗng nhiên trông thấy thi thể, mụ khựng lại chết sững, chắp tay và giơ cao hai cánh tay trong khi thốt lên một tiếng thét xé lòng, sắc lẹm — tiếng kêu của một con thú bị thương. Rồi mụ lao bổ về phía cái xác, quụp xuống đất và giật phăng tấm khăn tay đang che mặt nạn nhân. Khi nhìn thấy bộ mặt kinh hoàng, thâm sì và biến dạng ấy, mụ run lẩy bẩy đứng phắt dậy, rồi ngã sụp xuống mặt đất, úp mặt vào thảm rêu dày và liên tục gào thét những tiếng kêu thảm thiết không dứt.

Thân hình cao gầy, khoác chiếc váy ôm sát của mụ đang run lẩy bẩy, giật giật trong những cơn co thắt. Người ta có thể thấy rõ cặp ống chân xương xẩu cùng phần bắp chân teo tóp bọc trong đôi vớ xanh thô kệch đang run rẩy kinh hoàng. Mụ cào cấu đất đai bằng những ngón tay quắp ngoèo, hệt như đang cố đào một cái hố để chôn vùi chính mình.

Viên bác sĩ, tỏ ra vô cùng xúc động, cất giọng trầm buồn:

“Tội nghiệp mụ già!”

Renardet cảm thấy một cảm giác kỳ lạ dâng lên. Rồi ông hắt xì một tiếng thật to, móc khăn tay trong túi ra và bắt đầu sụt sùi khóc nấc bên trong, vừa ho, vừa nức nở vừa hỉ mũi thật kêu.

Ông lắp bắp:

“Mẹ kiếp — mẹ kiếp — tên khốn kiếp nào đã làm ra chuyện này! Ta rất muốn thấy hắn bị đem đi chém đầu.”

Principe xuất hiện trở lại với đôi bàn tay trắng trớn. Hắn lẩm bẩm:

“Tôi chẳng tìm thấy gì cả, thưa ngài thị trưởng, chẳng tìm thấy gì ở bất cứ đâu cả.”

Vị thị trưởng với vẻ mặt hoảng hốt, cất giọng đặc sệt vì ngập chìm trong nước mắt:

“Cái gì mà cậu không tìm thấy cơ chứ?”

“Quần áo của con bé.”

“Thế thì — thế thì — đi tìm lại lần nữa cho ta, và phải tìm cho ra — bằng không cậu sẽ phải ăn đòn với ta đấy.”

Gã đàn ông, biết rõ tính khí không dung thứ sự cãi lại của thị trưởng, đành quay lưng bước đi với những bước chân ngập ngừng, ném cái liếc mắt đầy e dè về phía thi thể.

Những tiếng động từ đằng xa vẳng lại dưới tán cây, một thứ âm thanh hỗn độn, tiếng ồn ào của một đám đông đang kéo đến, bởi trên đường phát thư, Mederic đã mang tin tức đi truyền từ nhà này sang nhà khác. Dân làng ban đầu ngớ người ra, rồi bắt đầu chụm đầu bàn tán ngoài phố, từ bậc thềm này sang bậc thềm khác. Rồi họ tụ tập lại với nhau. Họ bàn luận, tranh cãi và bình phẩm về sự việc trong vài phút rồi kéo nhau đến tận nơi để tận mắt chứng kiến.

Họ từng nhóm một kéo đến, có phần ngập ngừng và ái ngại vì sợ hãi ấn tượng ban đầu của một cảnh tượng như thế đối với tâm trí họ. Khi trông thấy cái xác, họ khựng lại, không dám tiến bước và thì thầm to nhỏ. Rồi họ bạo dạn hơn, tiến lên vài bước, lại dừng lại, rồi lại tiến lên, và chẳng mấy chốc đã vây quanh đứa trẻ đã chết, người mẹ, viên bác sĩ và Renardet thành một vòng tròn đông đúc, ồn ào, chen lấn đẩy nhau tiến về phía trước mỗi khi có những kẻ đến sau xô đẩy. Và đến lúc này họ bắt đầu chạm vào cái xác. Thậm chí có kẻ còn cúi xuống dùng ngón tay sờ soắn nó. Viên bác sĩ tìm cách ngăn họ lại. Nhưng vị thị trưởng, bỗng chốc bừng tỉnh khỏi cơn mê sảng, nổi trận lôi đình, giật lấy cây gậy của bác sĩ Labarbe và lao vào đám dân làng, miệng lắp bắp:

“Cút đi — cút đi — lũ súc vật tụi mày — cút hết ra!”

Và chỉ trong chớp mắt, đám đông hiếu kỳ đã lùi phắt lại hai trăm bước chân.

Mụ La Roque đã ngồi chồm hổm dậy và lúc này đang ngồi khóc lóc, hai tay chắp lại che kín mặt.

Đám đông đang bàn tán rôm rả, và ánh mắt háo hức của những thanh niên tò mò săm soi thân hình thiếu nữ khỏa thân ấy. Renardet nhận ra điều đó, liền phắt cởi áo khoác, ném trùm lên người con bé để che giấu hoàn toàn thi thể dưới chiếc áo rộng thùng thình.

Viên thư ký lặng lẽ tiến lại gần. Khu rừng đã ken đặc người, và một thứ âm thanh rì rầm liên tục dâng lên dưới vòm lá xum xuê của những cây cao.

Vị thị trưởng trong chiếc áo sơ mi cộc tay vẫn đứng trụ vững, tay lăm lăm cây gậy trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Ông có vẻ tức điên lên trước sự tò mò của đám đông và cứ lặp đi lặp lại:

“Thằng nào mà dám bước lại gần thêm bước nữa, ta sẽ đập nát đầu nó hệt như đập đầu một con chó.”

Bọn nông dân vô cùng sợ hãi ông. Họ lùi lại phía sau. Viên bác sĩ Labarbe đang ngậm điếu thuốc, ngồi xuống bên cạnh mụ La Roque và bắt đầu trò chuyện để đánh lạc hướng mụ. Mụ già lập tức buông tay khỏi mặt và tuôn ra một tràng những lời nghẹn ngào đẫm nước mắt, trút hết nỗi đau khổ trong một bài ca lê thê. Mụ kể lể toàn bộ câu chuyện cuộc đời mình, cuộc hôn nhân, cái chết của người chồng — một kẻ chăn gia đình từng bị bò húc chết, tuổi thơ của đứa con gái, sự tồn tại khốn cùng của một góa phụ không một xu dính túi mà phải nuôi con một mình. Mụ chỉ có mỗi mụn con này, con bé Louise nhỏ bé của mụ, thế mà nó đã bị sát hại — bị giết chết ngay trong khu rừng này. Rồi mụ lại dâng trào nỗi khao khát muốn được nhìn thấy nó lần nữa, và lết người bò về phía thi thể bằng đầu gối, mụ nhấc một góc tấm vải che mặt con bé lên; nhưng rồi lại thả tuột xuống và bắt đầu gào khóc thảm thiết trở lại. Đám đông vẫn im phăng phắc, háo hức dõi theo từng cử chỉ của người mẹ.

Nhưng đột nhiên có một sự náo động lớn vang lên trước tiếng hô: “Hiến binh kìa! Đám hiến binh kìa!”

Hai tên hiến binh xuất hiện đằng xa, đang phi nước đại tiến lại, hộ tống viên đội trưởng và một gã quý tộc thấp bé để râu quai nón đỏ, cứ nhún nhảy lên xuống hệt như một con khỉ trên lưng một con ngựa bạch lớn.

Gã canh gác vừa tìm thấy ngài Putoin, vị quan tòa, đúng vào lúc lão đang trèo lên lưng ngựa để thực hiện chuyến cưỡi ngựa dạo hằng ngày nhằm ra vẻ một tay nài ngựa cừ khôi, khiến đám sĩ quan được một phen cười khoái chí.

Lão ta xuống ngựa cùng viên đội trưởng, bắt tay vị thị trưởng và viên bác sĩ, đồng thời liếc mắt láo liên như chồn sương nhìn tấm áo vải lanh đang phủ lên thi thể.

Khi đã được thông báo tường tận mọi sự tình, lão ta liền ra lệnh giải tán đám đông. Bọn hiến binh lùa họ ra khỏi khu rừng, nhưng chẳng mấy chốc họ lại xuất hiện trở lại ở bãi cỏ và dựng thành một hàng rào — một hàng rào lớn gồm những cái đầu đang nhốn nháo và kích động ở phía bên kia dòng suối.

Đến lượt viên bác sĩ đưa ra những lời giải thích, và Renardet ghi chép lại tất cả vào cuốn sổ tay của mình. Mọi lời khai đều được đưa ra, ghi chép lại và mổ xẻ mà chẳng dẫn tới manh mối nào. Maxime cũng quay về mà chẳng tìm thấy chút dấu vết quần áo nào.

Sự biến mất này khiến tất cả đều ngạc nhiên; chẳng ai tài nào giải thích nổi ngoại trừ giả thuyết về một vụ trộm, nhưng ngặt nỗi những món đồ rách rưới của con bé còn chẳng đáng giá nổi hai mươi xu, nên ngay cả giả thuyết này cũng bị bác bỏ.

Quan tòa, thị trưởng, đội trưởng và bác sĩ bắt đầu tản ra đi tìm theo từng cặp, vén từng nhành cây kẽ lá nhỏ dọc mép nước.

Renardet cất lời hỏi viên quan tòa:

“Làm sao mà tên khốn này lại có thể che giấu hoặc đem đi quần áo, rồi cứ thế bỏ mặc cái xác phơi bày ra cho thiên hạ thấy cơ chứ?”

Lão ta, với vẻ tinh ranh và cáo già, đáp:

“Hà hà! Biết đâu lại là một ngón nghề thì sao? Tội ác này hoặc là do một tên dã thú, hoặc là do một gã ác ôn xảo quyệt gây ra. Dù sao đi nữa, chúng ta cũng sẽ sớm tóm cổ được hắn thôi.”

Tiếng bánh xe kẽo kẹt quay khiến họ phải ngoái đầu nhìn lại. Hóa ra là ngài phó quan tòa, viên bác sĩ và chánh án tòa án cũng vừa kéo đến nơi. Họ lại tiếp tục cuộc tìm kiếm, vừa đi vừa trò chuyện sôi nổi.

Renardet đột ngột cất giọng:

“Các anh có biết là các anh sẽ phải ở lại dùng bữa trưa với tôi đấy chứ?”

Mọi người đều vui vẻ nhận lời mời, và viên quan tòa, cho rằng vụ án của con bé Louise Roque đã tốn quá nhiều sự chú ý trong một ngày rồi, bèn quay sang phía vị thị trưởng.

“Tôi có thể mang cái xác về nhà anh được chứ? Anh có căn phòng nào giữ nó hộ tôi đến tối nay không?”

Vị thị trưởng bỗng trở nên bối rối và lắp bắp:

“Vâng — không — không. Thú thật là tôi thích để nó đừng mang vào nhà mình thì hơn, bởi vì — bởi vì đám gia nhân của tôi, tụi nó đã bắt đầu bàn tán về mấy hồn ma trong — trong tòa tháp của tôi, tòa tháp Cáo rồi. Anh biết đấy — tôi sẽ chẳng giữ nổi một đứa nào ở lại nữa đâu. Không — tôi không muốn để nó trong nhà mình thì hơn.”

Vị quan tòa bật cười.

“Được rồi! Tôi sẽ cho mang thẳng nó về Roily để tiến hành khám nghiệm tử thi.” Rồi quay sang phía viên phó tòa, lão bảo: “Tôi mượn chiếc xe ngựa của anh được chứ?”

“Vâng, dĩ nhiên rồi.”

Tất cả bọn họ quay trở lại nơi thi thể đang nằm. Mụ La Roque lúc này đang ngồi bên cạnh con gái, nắm chặt tay nó và trân trân nhìn thẳng về phía trước với đôi mắt thẫn thờ, vô hồn.

Hai vị bác sĩ tìm cách kéo mụ ra chỗ khác để mụ không phải chứng kiến cảnh người ta mang đứa trẻ đi, nhưng mụ lập tức hiểu ra ý định của họ, bèn lao nhào lên xác con, vòng tay ôm trọn lấy nó. Nằm đè lên thi thể, mụ gào lên:

“Các người không được mang nó đi đâu — nó là của tôi — bây giờ nó là của tôi rồi. Chúng đã giết nó thay cho tôi, và tôi muốn giữ nó lại — các người không được mang nó đi ——”

Tất cả đám đàn ông, dù vô cùng xúc động và chẳng biết phải làm sao, vẫn đứngây ngây quây quần xung quanh mụ. Renardet quỳ rạp xuống và bảo mụ:

“Nghe này, La Roque, việc này là bắt buộc, để còn tìm ra kẻ nào đã giết nó chứ. Không có cách này thì chúng ta chẳng thể tìm ra đâu. Chúng ta phải lùng bắt cho bằng được kẻ thủ ác để trừng trị hắn. Khi tìm thấy hắn rồi, chúng tôi sẽ trả con bé lại cho bà. Tôi hứa với bà đấy.”

Lời giải thích này khiến mụ đàn bà ngẩn người, và một thứ cảm giác căm hận bùng lên trong ánh mắt hoảng loạn của mụ.

“Thế ra chúng sẽ bắt giam hắn chứ?”

“Vâng, tôi hứa với bà điều đó.”

Mụ đứng phắt dậy, đành chấp nhận để họ làm theo ý muốn, nhưng khi viên đội trưởng cất lời nhận xét:

“Thật lạ là quần áo của nó lại không được tìm thấy nhỉ,” thì một ý nghĩ mới mẻ, thứ mà trước đó mụ chưa từng nghĩ tới, bỗng đột ngột xẹt qua đầu mụ, và mụ liền gặng hỏi:

“Quần áo của nó đâu? Chúng là của tôi cơ mà. Tôi muốn lấy lại chúng. Chúng đã bị vứt đi đâu rồi?”

Họ giải thích cho mụ hiểu rằng người ta không tìm thấy chúng. Thế là mụ ta bắt đầu đòi gắt gao, vừa khóc vừa rên rỉ.

“Chúng là của tôi — tôi muốn lấy lại chúng. Chúng đâu rồi? Tôi muốn chúng cơ!”

Họ càng tìm cách dỗ dành, mụ càng nức nở và khăng khăng đòi cho bằng được. Mụ chẳng thèm màng tới cái xác nữa, mụ cứ nằng nặc đòi quần áo, có lẽ một phần vì lòng tham vô thức của một kẻ khốn cùng coi một đồng bạc cắc cũng lớn như cả gia tài, phần cũng vì tình mẫu tử.

Và khi thi thể bé nhỏ, được cuộn tròn trong những chiếc chăn lấy ra từ nhà Renardet, đã biến mất hút trên chiếc xe, mụ già vẫn đứng dưới tán cây, được vị thị trưởng và viên đội trưởng đỡ lấy, miệng lẩm bẩm:

“Tôi chẳng còn gì cả, không có gì, chẳng có gì trên đời này, thậm chí cả chiếc mũ nhỏ của nó — chiếc mũ nhỏ của nó cũng không.”

Cha xứ, một linh mục trẻ, vừa mới tới nơi. Ông đứng ra nhận trách nhiệm dìu người mẹ đi, và họ cùng nhau bước về phía ngôi làng. Nỗi đau đớn của người mẹ được vơi bớt phần nào nhờ những lời lẽ ngọt ngào tựa đường mật của vị tu sĩ, khi ông hứa hẹn với mụ hàng ngàn sự đền bù. Nhưng mụ vẫn cứ lải nhải: “Ước gì tôi có được chiếc mũ nhỏ của nó.” Ý nghĩ ấy giờ đây đã lấn át mọi thứ khác.

Renardet từ đằng xa gọi với theo:

“Ngài tổng mục sư sẽ dùng bữa trưa với chúng tôi chứ — chỉ một tiếng nữa thôi đấy.”

Vị linh mục quay đầu lại đáp:

“Vâng, rất sẵn lòng, thưa ngài thị trưởng. Tôi sẽ sang chỗ ngài lúc mười hai giờ.”

Và tất cả bọn họ cùng hướng bước về phía ngôi nhà — nơi có mặt tiền màu xám cùng tòa tháp lớn mọc lên ngay sát mép nước Brindille thấp thoáng qua những kẽ lá.

Bữa ăn kéo dài đằng đẵng. Họ bàn tán không ngớt về vụ án mạng. Ai nấy đều có chung một quan điểm. Nó đã bị thực hiện bởi một tên lang thang nào đó tình cờ đi ngang qua trong lúc đứa trẻ đang tắm.

Rồi các vị quan tòa quay trở lại Rouy, tuyên bố họ sẽ quay lại vào sáng sớm ngày hôm sau. Viên bác sĩ và cha xứ trở về nhà riêng, trong khi Renardet, sau một hồi dạo bước dài qua các đồng cỏ, lại quay về khu rừng và tiếp tục lang thang ở đó cho đến tận khi màn đêm buông xuống với những bước chân chậm chạp, hai tay chắp sau lưng.

Ông đi ngủ sớm và vẫn đang say giấc nồng vào sáng hôm sau khi viên quan tòa bước vào phòng ông. Lão ta đang xoa xoa hai tay với vẻ mặt vô cùng mãn nguyện.

“Hà hà! Cậu vẫn còn đang ngủ cơ à! Nào, anh bạn thân mến, sáng nay chúng ta có tin tức rồi đây.”

Vị thị trưởng ngồi chồm hổm dậy trên giường.

“Tin gì thế, thưa ngài?”

“Ồ! Một chuyện kỳ lạ lắm. Cậu còn nhớ rõ hôm qua người mẹ đã gào thét đòi kỷ vật của con gái, đặc biệt là chiếc mũ nhỏ của nó chứ? Chà, sáng nay khi mở cửa ra, mụ ta liền phát hiện ngay trước thềm nhà hai chiếc ủng gỗ nhỏ xíu của đứa trẻ. Điều này chứng minh rằng vụ án mạng được thực hiện bởi một kẻ nào đó trong vùng, một kẻ nào đó cảm thấy động lòng trắc ẩn với mụ. Hơn nữa, người đưa thư Mederic vừa mang đến cho tôi chiếc đê, con dao và ống đựng kim khâu của nạn nhân. Thế nên, khi mang quần áo đi phi tang, chắc hẳn tên ác nhân đã làm rơi rớt những vật dụng nằm trong túi áo. Về phần tôi, tôi đặc biệt đánh giá cao đôi ủng gỗ, bởi chúng cho thấy một phông văn hóa đạo đức nhất định và khả năng trắc ẩn từ phía tên sát nhân. Do đó, nếu cậu không phiền, chúng ta sẽ cùng nhau điểm qua những cư dân chủ chốt trong vùng của cậu nhé.”

Vị thị trưởng chồm dậy. Ông bấm chuông gọi nước cạo râu và cất giọng:

“Rất sẵn lòng, nhưng việc này sẽ mất chút thời gian đấy, và chúng ta có thể bắt đầu ngay bây giờ.”

Ngài Putoin dạng chân ngồi ngự trên một chiếc ghế.

Renardet thoa đầy bọt cạo râu trắng phau lên cằm trong khi soi mình trong gương. Rồi ông mài lưỡi dao cạo trên dây da và tiếp tục:

“Cư dân quan trọng nhất ở Carvelin mang tên Joseph Renardet, thị trưởng, một điền chủ giàu có, một gã thô lỗ chuyên thượng cẳng chân hạ cẳng tay với lính canh và người đánh xe—”

Viên quan tòa điều tra phá lên cười lớn.

“Thế là đủ rồi. Chúng ta hãy chuyển sang người tiếp theo đi.”

“Nhân vật quyền lực thứ hai là Pelledent, phó thị trưởng của hắn, một nhà chăn nuôi gia súc, cũng là một điền chủ giàu có không kém, một gã nông dân xảo quyệt, rất ranh mãnh, keo kiệt trong mọi vấn đề tiền nong, nhưng theo tôi thì hoàn toàn không có khả năng thực hiện một tội ác tày trời như thế.”

“Nói tiếp đi,” ngài Putoin giục.

Renardet, trong lúc đang hoàn tất việc chải chuốt bề ngoài, lần lượt điểm lại tính cách của toàn bộ cư dân Carvelin. Sau hai giờ đồng hồ thảo luận, nghi vấn của họ đã đổ dồn vào ba cá nhân vốn mang tiếng xấu từ trước — một tên thợ săn trộm tên là Cavalle, một gã đánh cá chuyên bắt cá hồi suối và cua tên là Paquet, và một gã chăn gia súc tên là Clovis. II

Cuộc săn lùng kẻ thủ ác kéo dài suốt cả mùa hè, nhưng hắn vẫn bặt vô âm tín. Những kẻ từng bị nghi ngờ và bắt giữ đều dễ dàng chứng minh được sự trong sạch của mình, và nhà chức trách đành phải bỏ dở nỗ lực tóm gọn tên tội phạm.

Thế nhưng vụ án mạng này dường như đã làm rung chuyển toàn bộ vùng quê theo một cách kỳ lạ. Trong tâm trí mỗi người vẫn còn đọng lại một nỗi bất an, một nỗi sợ hãi mơ hồ, một cảm giác kinh hoàng huyền bí — không chỉ xuất phát từ việc không thể tìm ra bất kỳ manh mối nào về tên sát nhân, mà hơn hết là từ phát hiện kỳ lạ về đôi ủng gỗ trước thềm nhà mụ La Roque ngay ngày hôm sau khi vụ án xảy ra. Sự thật rành rành rằng tên sát nhân đã từng tham dự buổi điều tra, rằng hắn chắc chắn vẫn đang nhởn nhơ sống đâu đó trong làng, cứ bủa vây lấy tâm trí mọi người và lơ lửng che phủ lấy vùng quê hệt như một mối đe dọa thường trực.

Khu rừng cũng đã trở thành một chốn đáng sợ, một nơi cần phải tránh xa và bị đồn đại là bị ma ám.

Thuở trước, dân làng thường kéo nhau đến đó vào mỗi chiều Chủ nhật để thư giãn. Họ thường ngồi trên thảm rêu dưới chân những gốc cây cổ thụ to lớn hoặc đi dạo dọc theo mép nước ngắm nhìn đàn cá hồi lững lờ bơi lội giữa đám cỏ dại. Lũ con trai chơi đánh bi, trốn tìm và đủ thứ trò chơi ở những khoảng đất trống đã được dọn sạch và san phẳng, còn lũ con gái, xếp thành từng hàng bốn năm đứa, vừa tung tăng đi dạo vừa nắm tay nhau í ới hát vang bằng những giọng ca lanh lảnh. Giờ đây, chẳng một bóng người dám bén mảng tới đó vì sợ nhỡ đâu lại đụng phải cái xác nào đang nằm sõng soài trên mặt đất.

Mùa thu tới, những chiếc lá bắt đầu rụng xuống từ các tán cây cao, xoay tít mù rồi rơi đôm đốp xuống đất, và bầu trời dần hiện ra qua những kẽ cành trụi lá. Thỉnh thoảng, khi một cơn gió thốc qua ngọn cây, trận mưa dầm dề, chậm rãi bỗng trở nên nặng hạt hơn và biến thành một trận cuồng phong dữ dội phủ lên thảm rêu một lớp thảm vàng dày đặc phát ra tiếng kêu cóót két dưới mỗi bước chân.

Và tiếng những chiếc lá rụng nghe tựa như tiếng khóc than, còn bản thân những chiếc lá thì hệt như những giọt nước mắt tuôn rơi của những cổ thụ vĩ đại, sầu thảm ấy — chúng đang khóc ròng trong sự tĩnh mịch của khu rừng trống hoác và tiêu điều, khu rừng đáng sợ và bị bỏ hoang, nơi linh hồn cô độc, linh hồn bé nhỏ của bé Louise Roque đang lang thang phiêu dạt.

Con sông Brindille, bị dâng cao bởi những trận giông bão, cuồn cuộn chảy xiết hơn, ngầu đục và hung hãn giữa hai bờ sông khô khốc, được viền quanh bởi hai hàng rào liễu cộc thưa thớt, trụi lá.

Và rồi Renardet đột ngột quay trở lại với những chuyến dạo bước dưới tán cây. Mỗi ngày, vào lúc hoàng hôn, ông lại bước ra từ ngôi nhà, chậm rãi đi xuống mấy bậc thềm và thẩn thơ tiến vào khu rừng với đôi bàn tay nhét trong túi quần, thả bước trên thảm rêu ẩm ướt, mềm mại, trong khi cả một vùng quạ đen từ khắp các vùng lân cận kéo đến đậu kín trên mấy ngọn cây cao rồi lại vỗ cánh bay vút lên bầu trời đen kịt, phát ra những tiếng kêu đinh tai và chói tai.

Màn đêm buông xuống, và Renardet vẫn cứ thong thả đi đi lại lại dưới tán cây; rồi khi bóng tối ngăn cản không cho ông bước đi thêm được nữa, ông mới chịu quay về nhà, ngả người chìm nghỉm vào chiếc ghế bành đặt trước lò sưởi đang rực hồng, chìa đôi bàn chân ẩm ướt về phía ngọn lửa.

Một buổi sáng, một tin tức quan trọng lan truyền khắp vùng: ngài thị trưởng đang cho người đốn hạ khu rừng của mình.

Hai mươi thợ mộc đã bắt tay vào việc. Họ bắt đầu từ góc gần nhà nhất và tiến hành công việc vô cùng nhanh chóng dưới sự giám sát trực tiếp của chủ nhân.

Và mỗi ngày trôi qua, khu rừng lại càng thêm thưa thớt, mất dần đi những thân cây cứ đổ rạp xuống từng cái một, hệt như một đội quân đang lần lượt tử trận.

Renardet không còn đi đi lại lại nữa. Ông đứng ì ra đó từ sáng đến tối, bất động ngắm nhìn sự tàn lụi chậm chạp của khu rừng, hai tay chắp sau lưng. Khi một cái cây ngã xuống, ông liền đặt chân lên thân nó hệt như thể đó là một cái xác. Rồi ông ngẩng phắt đầu nhìn sang cái cây tiếp theo với một thứ tâm trạng sốt ruột thầm kín, tĩnh lặng, hệt như đang chờ đợi, đang mòn mỏi mong ngóng điều gì đó ở hồi kết của cuộc tàn sát này.

Trong khi đó, họ đã tiến dần đến khu vực nơi người ta tìm thấy bé Louise Roque. Họ đặt chân đến đó vào một buổi chiều tối khi hoàng hôn đang buông xuống.

Vì trời đã nhá nhem tối, bầu trời thì mây đen kéo kín, đám thợ đốn gỗ muốn dừng tay, để sang ngày mai mới chặt hạ một gốc sồi khổng lồ, nhưng ngài thị trưởng phản đối và khăng khăng bắt họ phải đốn và cưa đứt ngay lập tức vị cứu tinh vĩ đại từng che chở cho tội ác này.

Khi thợ cưa đã tỉa cành trụi lá và khoét rỗng phần gốc, năm gã thợ cùng nhau kéo sợi dây thừng được buộc chặt trên đỉnh ngọn cây.

Cái cây chống cự; thân hình vạm vỡ của nó, dẫu đã bị khoét sâu đến tận lõi, vẫn cứng như sắt thép. Đám thợ mộc, đồng lòng với một chuyển động nhịp nhàng đồng bộ, căng sức kéo sợi dây, ngả người ra sau và phát ra những tiếng hô đồng điệu để điều hòa sức lực của họ.

Hai gã thợ đứng sát bên gốc cây sồi khổng lồ vẫn lăm lăm rìu trong tay, hệt như hai đao phủ sẵn sàng giáng đòn kết liễu lần nữa, còn Renardet, bất động, một tay đặt lên thân cây, nín thở chờ đợi cú ngã với một nỗi bất an, bồn chồn.

Một trong số những gã thợ bảo ông:

“Ngài đứng gần quá đấy, thưa ngài thị trưởng. Khi nó đổ xuống, nó có thể đè trúng ngài đấy.”

Ông không đáp lời và cũng chẳng mảy may lùi bước. Trông ông cứ như sẵn sàng ôm chầm lấy cây sồi bằng đôi tay rộng mở và quật ngã nó xuống đất hệt như một đô vật.

Ngay lúc ấy, ở phần gốc của cột gỗ cao vút xuất hiện một vết rách xé toạc chạy thẳng lên đến tận đỉnh, tựa như một cú sốc đau đớn; nó cong trĩu xuống, chực chờ ngã quỵ nhưng vẫn ngoan cố chống cự. Đám thợ, trong cơn phấn khích, gân cổ gồng tay, dốc cạn sinh lực với sức mạnh lớn hơn, và ngay khi cái cây đổ sập xuống rầm một tiếng, Renardet đột ngột bước tới trước một bước, rồi khựng lại, đôi vai nhô cao để hứng lấy cú va đập không thể cưỡng lại — cú va đập chí mạng sẽ nghiền nát ông xuống mặt đất.

Nhưng cây sồi, vì chệch hướng đi một chút, chỉ sượt qua mông ông và hất ngã chúi mặt ông xuống đất, cách đó năm mét.

Đám thợ hộc tốc lao đến đỡ ông dậy. Ông đã tự gượng đứng lên bằng đầu gối, ngẩn ngơ với ánh mắt bàng hoàng, tay quẹt ngang trán hệt như vừa bừng tỉnh sau một cơn cuồng loạn.

Khi đã đứng vững trở lại trên đôi chân, đám thợ ngạc nhiên hỏi han, chẳng thể hiểu nổi rốt cuộc ông vừa làm trò gì. Ông lắp bắp đáp rằng mình vừa bị choáng váng trong giây lát, hay đúng hơn là đang bồi hồi nhớ về tuổi thơ; rằng ông tưởng mình vẫn còn đủ thời gian để chạy băng qua dưới tán cây, hệt như lũ nhóc tì ngoài phố hay lao vút qua trước đầu những chiếc xe ngựa đang chạy như bay; rằng ông đang chơi đùa với tử thần; rằng suốt tám ngày qua, ông cứ cảm thấy khao khát ấy lớn dần lên trong lồng ngực, tự hỏi bản thân mỗi khi một cái cây sắp đổ rằng liệu mình có kịp chạy thoát qua bên dưới nó mà không bị quẹt trúng hay không. Đúng là một trò ngớ ngẩn, ông thú nhận, nhưng ai mà chẳng có những khoảnh khắc điên rồ và những sự cám dỗ bồng bột như tuổi trẻ cơ chứ.

Ông thốt ra những lời giải thích ấy bằng một giọng chậm chạp, phải chật vật tìm kiếm từ ngữ và cất giọng vô hồn.

Rồi ông bỏ đi, miệng nói:

“Hẹn gặp lại ngày mai, các bạn của tôi — hẹn gặp lại ngày mai.”

Ngay khi vừa về đến phòng, ông tiến đến chiếc bàn được thắp sáng rực rỡ bởi ngọn đèn dầu, vùi mặt vào hay bàn tay và bật khóc.

Ông cứ giữ nguyên tư thế ấy suốt một hồi lâu, rồi lau khô nước mắt, ngẩng đầu lên nhìn đồng hồ. Vẫn chưa đến sáu giờ.

Ông thầm nghĩ:

“Mình vẫn còn thời gian trước bữa tối.”

Và ông đi về phía cửa, khóa trái lại. Rồi ông quay lại, ngồi xuống bàn và kéo ngăn kéo ở giữa ra. Lấy từ trong đó ra một khẩu súng lục, ông đặt phắt nó lên đống giấy tờ ngay trước tầm mắt. Nòng súng lấp lánh, hắt lên những thứ ánh sáng sắc lạnh.

Renardet ngắm nghía nó một lúc lâu với ánh mắt bồn chồn của một gã say rượu. Rồi ông đứng dậy, bắt đầu đi đi lại lại trong phòng.

Ông bước từ đầu này sang đầu kia căn phòng, thỉnh thoảng lại dừng chân giây lát rồi lại tiếp tục đi bộ ngay sau đó. Đột ngột, ông giật cửa phòng thay đồ, nhúng chiếc khăn tay vào vại nước để làm ướt trán, hệt như cách ông từng làm vào buổi sáng hôm xảy ra vụ án.

Rồi ông lại tiếp tục đi đi lại lại. Mỗi lần bước qua chiếc bàn, khẩu súng lục lấp lánh lại thu hút ánh nhìn, cám dỗ đôi bàn tay ông, nhưng ông cứ đăm đăm nhìn đồng hồ và tự nhủ:

“Mình vẫn còn thời gian.”

Đồng hồ điểm sáu giờ rưỡi. Lúc đó ông mới cầm khẩu súng lục lên, há hốc miệng rộng ngoác với một vẻ mặt nhăn nhó kinh hoàng và nhét thẵng nòng súng vào miệng hệt như muốn nuốt chửng nó. Ông giữ nguyên tư thế ấy trong vài giây mà không hề nhúc nhích, ngón tay đặt hững hờ trên cò súng. Rồi đột ngột, bị một cơn run rẩy kinh hoàng quật ngã, ông đánh rơi phắt khẩu súng xuống thảm nhà.

Ông ngả người khuỵu xuống ghế bành, nức nở:

“Mình không làm nổi. Mình không dám! Lạy Chúa! Lạy Chúa tôi! Làm sao mà mình có đủ can đảm để tự kết liễu đời mình cơ chứ?”

Có tiếng gõ cửa. Ông giật mình chồm dậy đầy bàng hoàng. Giọng một người gia nhân vang lên:

“Bữa tối của ngài đã dọn xong rồi ạ.”

Ông đáp:

“Được rồi. Ta xuống ngay đây.”

Rồi ông nhặt khẩu súng lục lên, khóa trái nó lại trong ngăn kéo và soi mình vào tấm gương trên lò sưởi để xem mặt mũi mình có vẻ quá hốt hoảng hay không. Vẫn đỏ phừng phừng như mọi ngày, có lẽ còn đỏ hơn một chút ấy chứ. Chỉ vậy thôi. Ông đi xuống và ngồi vào bàn ăn.

Ông ăn rất chậm, hệt như một kẻ muốn kéo dài bữa ăn, một kẻ không muốn phải chịu cảnh cô độc.

Rồi ông hút liền mấy tẩu thuốc ở sảnh trong lúc người ta dọn dẹp bàn ăn. Xong xuôi, ông mới quay trở lại phòng mình.

Ngay khi vừa khóa trái cửa phòng, ông liền cúi xuống gầm giường, mở toang tất cả các tủ áo, thám thính từng ngóc ngách, lục lọi khắp mọi món đồ đạc. Tiếp đó, ông thắp sáng mấy cây nến trên lò sưởi, quay người vòng lại vài vòng và đưa mắt đảo khắp căn phòng với một nỗi thống khổ đầy kinh hoàng khiến khuôn mặt méo mó cả đi, bởi ông thừa biết rõ rằng thể nào mình cũng sẽ lại nhìn thấy nó — hệt như mọi đêm khác — con bé Louise Roque, đứa bé gái mà ông từng tấn công rồi bóp cổ đến chết.

Đêm nào cũng vậy, ảo ảnh ghê tởm ấy lại hiện về. Đầu tiên, ông có cảm giác như nghe thấy một thứ âm thanh gầm rú nào đó, hệt như tiếng máy đập lúa hay tiếng tàu hỏa chạy qua cầu ở đằng xa. Rồi ông bắt đầu thở hổn hển, ngộp thở, và phải tự tay cởi phăng cúc áo cổ cùng thắt lưng. Ông di chuyển đi lại để máu huyết lưu thông, ông cố đọc sách, tìm cách cất giọng hát. Tất cả đều vô ích. Bất chấp ý chí, tâm trí ông cứ tha thiết quay ngược về ngày xảy ra án mạng và bắt ông phải diễn lại từ đầu toàn bộ vụ việc trong từng chi tiết thầm kín nhất, với tất cả những cảm xúc bạo liệt từng trải qua từ phút đầu tiên cho đến phút cuối cùng.

Sáng hôm ấy, khi thức dậy — buổi sáng của ngày khủng khiếp đó — ông đã cảm thấy hơi chóng mặt và đau đầu nhẹ, thứ mà ông đổ lỗi cho thời tiết oi bức, nên đã giam mình trong phòng cho đến tận giờ ăn sáng.

Sau bữa ăn, ông chợp mắt một lát, rồi đến tận chiều muộn, ông mới bước ra ngoài để hít thở làn gió mát lành, dịu êm dưới tán cây trong rừng.

Thế nhưng, vừa bước ra ngoài, bầu không khí nặng nề, hầm hập của vùng đồng bằng lại càng bóp nghẹt ông hơn nữa. Mặt trời vẫn treo lơ lửng trên bầu trời, trút xuống lớp đất nứt nẻ những đợt sóng ánh sáng nóng bỏng như thiêu như đốt. Chẳng một làn gió nào lay động nổi kẽ lá. Mọi loài muông thú và chim chóc, thậm chí cả lũ châu chấu, đều im bặt. Renardet đi đến chỗ mấy cây cổ thụ và bắt đầu lê bước trên thảm rêu — nơi con sông Brindille tỏa ra một chút không khí mát mẻ bên dưới mái vòm lá cây mênh mông. Nhưng ông cảm thấy vô cùng bất an. Ông có cảm giác như một bàn tay vô hình, không rõ mặt mũi nào đang bóp cổ mình, và ông chẳng thể suy nghĩ được gì mấy, bởi vốn dĩ trong đầu ông chẳng có mấy ý tưởng. Suốt ba tháng qua, chỉ có độc nhất một ý nghĩ ám ảnh tâm trí ông: ý định kết hôn lần nữa. Ông chịu đựng sự cô độc, dằn vặt cả về thể xác lẫn tinh thần. Đã quen với việc có một người phụ nữ quẩn quanh bên cạnh suốt mười năm trời, quen thuộc với sự hiện diện của nàng trong từng khoảnh khắc, ông thèm khát, một sự thèm khát bức thiết và rối bời đối với sự gắn kết ấy. Kể từ sau cái chết của phu nhân Renardet, ông liên tục chịu đựng những nỗi đau đớn chẳng rõ nguyên do, ông ray rứt vì không còn cảm nhận được tà váy của nàng sượt qua người mình nữa, và trên hết, vì chẳng còn có thể vùi mình tìm lại sự bình yên và thư thái trong vòng tay nàng. Ông mới chỉ góa vợ được sáu tháng có lẻ và đã bắt đầu lùng sục khắp vùng để tìm kiếm một thiếu nữ hay một bà góa nào đó để có thể cưới làm vợ ngay khi thời gian tang chế vừa dứt.

Ông mang một tâm hồn trinh bạch, nhưng lại ngự trị trong một thân xác vạm vỡ, lực điền, và những tưởng tượng xác thịt bắt đầu quấy rối giấc ngủ cũng như những đêm thức trắng của ông. Ông xua đuổi chúng; chúng lại kéo về; và thỉnh thoảng ông lại tự mỉm cười lẩm bẩm với chính mình:

“Trông ta bây giờ chẳng khác nào thánh Anthony.”

Sáng hôm đó, sau khi trải qua hàng loạt những ảo ảnh như thế, khát vọng tắm mình dưới dòng Brindille bỗng trỗi dậy mạnh mẽ trong lồng ngực để giải nhiệt và làm nguội đi dòng máu đang sục sôi.

Ông biết có một vũng nước sâu và rộng, nằm xuôi xuống dưới một chút, nơi người dân trong vùng thỉnh thoảng vẫn hay tụ tập tới ngâm mình vào mùa hè. Ông liền tiến ra đó.

Những hàng liễu rậm rạp che khuất vùng nước trong vắt ấy — nơi dòng chảy dừng chân tĩnh lặng và chìm vào giấc ngủ chốc lát trước khi tiếp tục hành trình. Khi Renardet xuất hiện, ông tưởng như nghe thấy một âm thanh khẽ khàng, tiếng nước khỏa nhè nhẹ chẳng phải phát ra từ dòng suối ven bờ. Ông rón rén vạch đám lá sang một bên và nhìn vào trong. Một bé gái hoàn toàn khỏa thân giữa làn nước trong suốt đang dùng cả hai tay đập nước tung tóe, nhảy nhót và ngụp lặn với những động tác xinh xắn. Nó chưa hẳn là một đứa trẻ nhưng cũng chẳng còn là một thiếu nữ. Nó đẫy đà và phổng phao, đồng thời vẫn giữ nguyên nét ngây thơ, sớm phát triển hệt như những đứa trẻ lớn nhanh như thổi. Ông bất động tại chỗ, choáng váng vì kinh ngạc, dâng trào khát khao, nín thở với một cảm xúc kỳ lạ, nhói buốt. Ông cứ đứng chôn chân ở đó, trái tim đập thình thịch như thể một trong những giấc mơ dâm mỹ của mình vừa biến thành sự thật, như thể một nàng tiên ô uế nào đó vừa triệu hồi trước mắt ông tạo vật trẻ trung này — một nàng Vệ Nữ nhà quê nhỏ bé đang nhô lên từ những dòng xoáy của con suối hệt như nữ thần Vệ Nữ thực thụ bước ra từ những con sóng đại dương.

Đột nhiên con bé bước lên khỏi mặt nước, và chẳng mảy hay biết gì về sự hiện diện của ông, nó bước thẳng đến chỗ ông đang đứng để tìm quần áo mặc vào. Khi nó rón rén tiến lại gần vì sợ dẫm phải những hòn đá sắc nhọn, ông cảm thấy mình bị xô đẩy về phía nó bởi một sức mạnh không thể cưỡng lại, bởi một cơn bốc đồng thú tính của dục vọng đang khuấy đảo thể xác, làm lu mờ tâm trí và khiến ông run rẩy từ đầu đến chân.

Nó đứng ngây ra vài giây phía sau gốc liễu đang che khuất tầm nhìn của ông. Rồi, hoàn toàn mất sạch lý trí, ông vạch đám cành cây sang hai bên, lao sầm vào nó và chộp lấy trong vòng tay. Nó ngã nhào xuống, quá hoảng sợ để có thể chống cự, quá khiếp đảm để cất tiếng kêu la. Trông ông lúc bấy giờ hệt như bị quỷ ám, chẳng còn hiểu nổi bản thân đang làm gì.

Ông bừng tỉnh khỏi tội ác hệt như người ta giật mình tỉnh giấc sau một cơn ác mộng. Con bé òa khóc nức nở.

“Câm miệng lại! Im ngay cho tao!” ông gầm lên. “Tao sẽ cho mày tiền.”

Nhưng nó chẳng thèm nghe ông nói và vẫn tiếp tục nức nở.

“Thôi nào, im đi! Im ngay lập tức! Giữ mồm giữ miệng vào!” ông tiếp tục quát.

Nó vẫn cứ gào thét trong lúc cố vùng vẫy tìm đường thoát thân. Ông đột ngột nhận ra rằng đời mình tiêu tan rồi, và bèn bóp chặt lấy cổ nó để bịt cái miệng đang gào thét những tiếng kêu xé lòng, kinh hoàng ấy lại. Vì nó vẫn tiếp tục vùng vẫy với sức mạnh tuyệt vọng của một sinh vật đang tìm cách trốn chạy khỏi cái chết, ông càng siết chặt đôi bàn tay khổng lồ của mình lên chiếc cổ nhỏ bé đang sưng phồng vì tiếng thét, và chỉ trong vài giây, ông đã bóp cổ nó chết ngắc vì cơn thịnh nộ tột cùng. Ban đầu ông vốn không hề có ý định định tước đoạt mạng sống của nó, mà chỉ muốn nó im lặng mà thôi.

Rồi ông đứng phắt dậy, bị ngập chìm trong nỗi kinh hoàng tột độ.

Nó nằm sõng soài trước mặt ông, khuôn mặt bê bết máu và thâm sì. Ông định chân chạy trốn thì đột ngột, trong tâm hồn đang bấn loạn của ông trỗi dậy bản năng thần bí, mơ hồ dẫn lối cho mọi sinh sinh trong giờ phút hiểm nguy.

Ông toan ném cái xác xuống nước, nhưng một thôi thúc khác lại đẩy ông lao về phía đống quần áo, và ông túm gọn chúng lại thành một gói nhỏ. Rồi, sẵn có một đoạn dây thừng trong túi, ông cột chặt lại và giấu nhẹm nó xuống một khúc sông sâu, ngay bên dưới gốc cây mọc thõng lòng thòng sát mặt nước Brindille.

Xong xuôi, ông rảo bước thật nhanh, băng qua các đồng cỏ, vòng một đoạn thật xa để cốt sao cho lọt vào mắt một vài bác nông dân sống tít đằng xa ở phía bên kia khu vực, rồi mới lững thững quay về ăn tối đúng giờ giấc quen thuộc, thản nhiên kể lể với đám gia nhân mọi chuyện cứ như thể chúng vừa xảy ra trong lúc ông đi dạo.

Thế mà đêm đó ông vẫn ngủ được; ông chìm vào giấc ngủ nặng nề, đờ đẫn hệt như giấc ngủ của những tử tù bị kết án tử hình. Ông không hề mở mắt cho đến tận rạng đông, và cố chờ đợi cho đến giờ cưỡi ngựa quen thuộc để không khơi gợi bất kỳ sự hoài nghi nào.

Rồi ông đành phải có mặt tại buổi điều tra nguyên nhân cái chết. Ông tham gia với tư cách của một kẻ mộng du, chìm trong một ảo ảnh kỳ lạ bày biện trước mắt ông những con người và sự vật hệt như trong mơ, bồng bềnh giữa làn mây men say, cùng với cảm giác phi thực tế từng khiến tâm trí người ta phải bấn loạn mỗi khi đối mặt với những thảm họa lớn lao nhất.

Thế nhưng tiếng khóc thét xé lòng của mụ La Roque đã cứa nát tim gan ông. Vào khoảnh khắc ấy, ông đã suýt chồm lên quỳ rạp dưới chân mụ già và gào lên:

“Chính tôi là kẻ tội đồ!”

Nhưng ông đã kịp kìm chế bản thân. Dẫu vậy, trong đêm tối, ông vẫn quay trở lại để vớt đôi ủng gỗ của nạn nhân lên, cốt để đem đặt chúng ngay trước thềm nhà người mẹ.

Chừng nào cuộc điều tra còn tiếp diễn, chừng nào người ta vẫn còn cần phải đánh lạc hướng công lý, ông vẫn giữ được vẻ bình tĩnh, làm chủ bản thân, xảo quyệt và tươi cười. Ông điềm tĩnh bàn luận với các quan tòa về mọi giả thuyết thoáng qua trong đầu họ, bác bỏ quan điểm của họ và đập tan những lập luận mà họ đưa ra. Thậm chí ông còn tìm thấy một niềm vui cay đắng và tang tóc trong việc quấy rối các cuộc điều tra của họ, trong việc làm rối tung ý tưởng của họ, và chứng minh sự vô tội của những kẻ bị họ nghi ngờ.

Nhưng ngay khi cuộc điều tra bị đình chỉ, ông dần trở nên căng thẳng, dễ cáu bẳn hơn trước, dẫu cho vẫn ráng gồng mình kìm nén cơn thịnh nộ. Những tiếng động bất chợt khiến ông giật nảy mình vì sợ hãi; ông run lẩy bẩy trước cả những chuyện cỏn con và đôi khi run rẩy từ đầu đến chân chỉ vì một con ruồi vô tình đậu lên trán. Rồi ông bị ám ảnh bởi một khao khát bức thiết phải vận động, thứ đã thúc đẩy ông thực hiện những chuyến đi dạo dài đằng đẵng và thức trắng cả đêm để đi đi lại lại trong phòng.

Không phải vì ông đang bị cắn rứt bởi sự hối hận. Bản tính tàn bạo của ông chẳng hề có chỗ cho bất kỳ sắc thái tình cảm hay nỗi kinh hoàng đạo đức nào. Là một gã đàn ông mạnh mẽ, thậm chí bạo lực, sinh ra để chiến tranh, để tàn phá những vùng đất bị chinh phục và tàn sát kẻ bại trận, mang trong mình đầy rẫy những bản năng hoang dã của thợ săn và chiến binh, ông hầu như chẳng mảy quan tâm đến sinh mạng con người. Mặc dù bề ngoài ông vẫn tỏ ra tôn kính Giáo hội vì mục đích chính trị, ông chẳng tin vào Chúa lẫn ma quỷ, chẳng trông mong sự trừng phạt hay đền bù nào cho các hành vi của mình ở một kiếp sống khác. Niềm tin duy nhất của ông là thứ triết học mơ hồ rút ra từ tất cả các tư tưởng của giới bách khoa toàn thư thế kỷ trước, và ông coi tôn giáo như một sự trừng phạt đạo đức của luật pháp — cả hai thứ đó đều do con người phát minh ra để điều tiết các mối quan hệ xã hội. Việc tước đoạt mạng tính mạng ai đó trong một cuộc quyết đấu, hay trên chiến trường, hay trong một cuộc cãi vã, hay do tai nạn, hay vì mục đích trả thù, hoặc thậm chí chỉ vì thói nghênh ngang đi chăng nữa, đối với ông cũng chỉ là một trò đùa vui nhộn, khôn ngoan và chẳng hề để lại trong tâm trí ông nhiều ấn tượng hơn một phát súng bắn hạ con thỏ rừng; thế nhưng, ông lại trải qua một cảm xúc sâu sắc đến tận cùng tâm can trước vụ án mạng của đứa trẻ này. Ban đầu, ông đã thực hiện nó trong sức nóng của một cơn bùng nổ dục vọng không thể cưỡng lại, giữa một thứ cuồng phong của các giác quan đã áp đảo hoàn toàn lý trí của ông. Và ông đã ấp ủ trong tim, trong da thịt, trên đôi môi, thậm chí cho đến tận đầu những ngón tay vấy máu của mình một thứ tình yêu thú tính, song song với nỗi kinh hoàng khiếp đảm đối với đứa trẻ bị ông đột kích rồi hạ sát đê tiện ấy. Từng khoảnh khắc trôi qua, tâm trí ông cứ liên tục quay quắt trở lại cái cảnh tượng ghê tởm đó, và dẫu cho ông có tìm cách xua đuổi bức tranh ấy khỏi đầu, dẫu cho ông có gạt phăng nó đi bằng sự ghê tởm và kinh tởm tột cùng, ông vẫn cảm nhận rõ nó đang trào dâng trong tâm hồn, đang nhúc nhích bên trong mình, không ngừng chực chờ khoảnh khắc để tái hiện trở lại.

Rồi, khi bóng chiều ngả xuống, ông đâm ra sợ hãi thứ bóng tối đang bao trùm xung quanh. Ông vẫn chưa hiểu vì sao màn đêm lại có vẻ đáng sợ đến thế với bản thân, nhưng theo bản năng, ông linh cảm nó ẩn chứa đầy rẫy những nỗi kinh hoàng. Ánh sáng ban ngày rực rỡ không gợi lên những nỗi sợ hãi ấy. Mọi vật và mọi người đều hiển hiện rõ ràng dưới ánh sáng, và chỉ có những sự vật lẫn con người tự nhiên mới có thể phô bày hình hài dưới ánh dương. Thế nhưng ban đêm, màn đêm bất khả xâm phạm, dày đặc hơn cả những bức tường và trống hoang hoác; màn đêm vô tận, đen kịt và bao la, nơi người ta có thể chạm trán với những thứ gớm ghiếc; màn đêm — khi con người cảm thấy một nỗi kinh hoàng huyền bí đang lang thang, rình rập — dường như đang che giấu một hiểm họa vô hình, đe dọa ngay sát bên cạnh ông.

Đó là gì?

Chẳng mấy chốc ông đã rõ. Khi ngồi trên chiếc ghế bành vào một đêm khá muộn khi không sao tài nào chợp mắt được, ông tưởng như thấy tấm rèm cửa sổ của mình chuyển động. Ông nín thở chờ đợi với trái tim đập thình thịch trong lồng ngực. Tấm màn không nhúc nhích; rồi đột nhiên, nó lại động đậy lần nữa. Ông chẳng dám đứng dậy; ông chẳng dám thở nổi dẫu bản thân vốn dĩ là một kẻ gan lợn. Ông từng trải qua bao trận mạc và rất khoái tóm cổ trộm đột nhập vào nhà.

Liệu có thật là tấm rèm đó đang chuyển động không? Ông tự hỏi, sợ rằng đôi mắt mình đã đánh lừa chủ nhân. Hơn nữa, đó chỉ là một chuyện cỏn con, một cái phất nhẹ của lớp vải rèm, một tiếng rung nhè nhẹ ở những nếp gấp, còn nhỏ hơn cả gợn sóng do gió thổi.

Renardet ngồi bất động, trân trân mở trừng trừng đôi mắt và rướn cổ dài. Ông bỗng chốc vùng dậy, cảm thấy xấu hổ vì nỗi sợ hãi của chính mình, bước liền bốn bước, tóm lấy lớp vải rèm bằng cả hai tay và giật phăng nó ra hai bên. Ban đầu ông chẳng nhìn thấy gì ngoài tấm kính tối thui, trông hệt như những phiến mực lấp lánh. Màn đêm, màn đêm vô tận, bất khả xâm phạm, trải dài tít tắp ra xa tới tận chân trời vô hình. Ông đứng trân trân trước bóng tối vô biên ấy, và đột nhiên ông nhận ra một luồng sáng — một luồng sáng đang di chuyển, trông có vẻ ở cách đó không xa.

Lúc bấy giờ ông áp sát mặt vào ô cửa sổ, nghĩ rằng có kẻ nào đang đi bắt cua trộm dọc theo dòng Brindille, bởi đã quá nửa đêm, và ánh sáng này bốc lên ngay ở mép dòng suối, dưới bóng râm của hàng cây. Vẫn chưa thể nhìn rõ mọi thứ, Renardet đưa tay lên che mắt, và đột nhiên luồng sáng ấy biến thành một vùng chiếu rọi, để rồi ông bỗng sững sờ trông thấy bé Louise Roque đang trần truồng, bê bết máu nằm sõng soài trên thảm rêu. Ông lùi phắt lại, lạnh toát người vì kinh hoàng, hất văng chiếc ghế bành ngã ngửa ra phía sau rồi ngã quỵ xuống đất. Ông cứ nằm im ở đó suốt vài phút trong nỗi thống khổ tột cùng của tâm trí; rồi ông ngồi chồm hổm dậy và bắt đầu suy ngẫm. Mình vừa bị ảo giác — chỉ vậy thôi, một thứ ảo giác sinh ra từ việc có một kẻ lai vãng ban đêm đang cầm đèn lồng đi dạo sát mép nước. Hơn nữa, có gì đáng ngạc nhiên trong hoàn cảnh mà ký ức về tội ác của mình thỉnh thoảng lại hiện lên trước mắt dưới hình hài bóng ma của đứa trẻ đã chết kia chứ?

Ông đứng dậy khỏi mặt đất, nốc cạn một ly rượu rồi lại ngồi xuống. Ông tự nhủ:

“Mình phải làm gì nếu chuyện này còn tiếp diễn đây?”

Và nó chắc chắn sẽ tiếp diễn; ông cảm nhận rõ điều đó; ông đinh ninh là thế. Tầm mắt ông lúc này đã bị hút về phía khung cửa sổ; nó vẫy gọi ông; nó lôi kéo ông. Để tránh việc phải nhìn vào nó, ông xoay ngược chiếc ghế lại. Rồi ông vớ lấy một cuốn sách và cố đọc, nhưng có cảm giác như ngay lúc ấy đằng sau lưng mình đang có thứ gì đó động đậy, và ông liền quay phắt chiếc ghế bành lại một vòng.

Tấm rèm lại đang chuyển động; quả thực, lần này nó thực sự chuyển động. Ông không còn phải hoài nghi gì về điều đó nữa.

Ông lao bổ tới và tóm lấy nó mạnh đến mức giật sập cả tấm rèm lẫn thanh treo xuống đất. Rồi ông háo hức áp sát mặt vào tấm kính. Chẳng nhìn thấy gì cả. Bên ngoài tối then thấu, và ông thở phào nhẹ nhõm hệt như một kẻ vừa được cứu mạng.

Rồi ông quay trở lại ghế bành và ngồi xuống, nhưng gần như ngay lập tức, một khát khao hướng ra ngoài cửa sổ lại trỗi dậy trong lòng. Kể từ khi tấm rèm sập xuống, khung cửa sổ bỗng biến thành một khoảng trống kỳ lạ, vừa ma mị vừa kinh hoàng giữa khung cảnh tối tăm ngoài kia. Để không phải chịu thua trước sự cám dỗ đầy nguy hiểm ấy, ông cởi quần áo, thổi tắt ngọn đèn và nhắm nghiền hai mắt lại.

Nằm ngửa bất động, cơ thể ấm áp và ướ đẫm mồ hôi, ông chờ đợi giấc ngủ kéo đến. Đột nhiên một thứ ánh sáng rực rỡ lóe lên qua mi mắt. Ông mở phắt mắt ra, đinh ninh rằng ngôi nhà của mình đang bốc cháy. Mọi thứ vẫn đen kịt như cũ, và ông chống cùi chỏ vùng dậy để cố phân biệt khung cửa sổ — nơi vẫn luôn có một sức hút bất trị đối với ông. Cố gắng hết sức căng tròn đôi mắt, ông lờ mờ nhận ra vài vì sao đang lấp lánh, rồi đứng dậy, dò dẫm bước đi khắp căn phòng, chạm tay vào những ô kính cửa sổ và áp trán sát vào đó. Tít đằng kia, dưới tán cây, thi thể của đứa trẻ đang nằm phát sáng hệt như lân tinh, chiếu rọi cả vùng bóng tối xung quanh.

Renardet thét lên một tiếng kinh hoàng và lao bổ về phía giường, vùi đầu trốn kỹ dưới gối cho đến tận sáng hôm sau.

Kể từ khoảnh khắc đó, cuộc đời ông trở thành một cơn địa ngục không thể chịu đựng nổi. Ông trải qua những ban ngày trong nỗi phập phồng lo sợ cho từng màn đêm sắp sửa kéo tới, và đêm nào cũng vậy, bóng ma ấy lại quay về. Ngay khi khóa trái mình trong phòng, ông tìm mọi cách chống cự, nhưng hoàn toàn vô ích. Một sức mạnh vô hình nhấc bổng ông lên và đẩy thốc vào khung cửa sổ, hệt như để gọi mời bóng ma xuất hiện, và ông ngay lập tức nhìn thấy nó, lúc đầu nằm bất động ở đúng nơi tội ác được thực hiện, ở chính tư thế mà người ta từng tìm thấy nó.

Rồi hồn ma của đứa trẻ đứng chồm dậy và tiến về phía ông với những bước đi lững thững hệt như cách con bé từng bước ra khỏi dòng sông. Nó lặng lẽ tiến đến, băng thẳng qua bãi cỏ và vượt qua bồn hoa héo úa. Rồi nó bay vút lên không trung hướng về phía cửa sổ phòng Renardet. Nó tiến về phía ông hệt như hôm xảy ra vụ án mạng. Và gã đàn ông lùi phắt lại trước hiện thân ấy — hắn lùi tuốt ra giường rồi khuỵu sụp xuống, thừa biết rằng con bé đã bước vào trong phòng và lúc này đang đứng ngay sau tấm rèm cửa — thứ đang khẽ rung lên bần bật. Và cho đến tận rạng đông, hắn cứ trân trân dán chặt ánh mắt vào tấm rèm ấy, thấp thỏm chờ đợi được nhìn thấy nạn nhân của mình bỏ đi.

Thế nhưng nó chẳng thèm hiện hình thêm lần nào nữa; nó cứ đứng lì ở đó sau lớp rèm cửa, thỉnh thoảng lại khẽ lay động bần bật.

Và Renardet, những ngón tay bấu víu lấy chăn gối, siết chặt chúng hệt như cách hắn từng siết cổ bé Louise Roque.

Hắn nghe tiếng đồng hồ điểm từng giờ, và trong sự tĩnh lặng, quả lắc cứ đều đặn nhịp theo tiếng đập thình thịch của lồng ngực. Và kẻ khốn khổ ấy phải chịu đựng những đớn đau vượt qua bất kỳ ai từng phải gánh chịu trên đời.

Rồi, ngay khi một vệt sáng trắng trên trần nhà báo hiệu ngày mới đang đến gần, hắn bỗng cảm thấy bản thân được giải thoát, cuối cùng cũng được ở một mình, đơn độc trong phòng; và hắn chìm vào giấc ngủ. Hắn ngủ thiếp đi suốt mấy tiếng đồng hồ — một giấc ngủ chập chờn, sốt sắng, nơi hắn lại tái hiện trong mơ ảo ảnh kinh hoàng của đêm hôm trước.

Khi bước xuống dùng bữa trưa muộn, hắn phờ phạc hệt như vừa trải qua một đợt vận động quá sức, và chẳng tài nào nuốt nổi thứ gì, vẫn tiếp tục bị ám ảnh bởi nỗi sợ hãi trước những gì mình vừa trông thấy đêm qua.

Thế nhưng hắn thừa thừa hiểu rõ đó chẳng phải là một hiện thân ma quỷ nào cả, rằng người chết không thể sống lại, và chính tâm hồn bệnh hoạn của hắn — một tâm hồn bị thao túng bởi độc nhất một ý nghĩ, bởi một ký ức không thể xóa nhòa — mới là nguyên nhân duy nhất gây ra sự tra tấn này, là thứ đã lôi kéo đứa trẻ chết đi sống lại và dựng đứng hình hài nó lên trước đôi mắt bị khắc sâu không thể tẩy xóa ấy. Nhưng hắn cũng thừa biết rằng chẳng có cách nào chữa khỏi, rằng hắn sẽ chẳng bao giờ trốn thoát khỏi sự truy cùng diệt tận của ký ức dã man này, và hắn hạ quyết tâm thà chết quách đi còn hơn phải tiếp tục chịu đựng những cực hình này thêm nữa.

Rồi hắn nghĩ đến cách mình sẽ tự kết liễu đời mình. Đó phải là một cái chết đơn giản, tự nhiên, nhằm triệt tiêu hoàn toàn ý niệm về một vụ tự sát. Bởi hắn vốn rất trân trọng danh tiếng của mình, cái tên được thừa kế từ tổ tiên; và nếu cái chết của hắn khơi gợi bất kỳ sự hoài nghi nào, suy nghĩ của mọi người rất có thể sẽ chĩa mũi nhọn vào vụ án mạng bí ẩn kia, vào tên sát nhân chưa bao giờ bị bắt, và họ sẽ chẳng ngần ngại gì mà quy chụp tội ác đó lên đầu hắn.

Một ý nghĩ kỳ lạ chợt lóe lên trong đầu hắn: để cho thân cây ngay dưới chân nơi hắn từng ám sát bé Louise Roque nghiền nát mình. Thế là hắn quyết định cho đốn hạ khu rừng và ngụy trang thành một vụ tai nạn. Thế nhưng cây sồi khổng lồ lại từ chối việc đè bẹp xương sườn hắn.

Trở về nhà trong sự tuyệt vọng cùng cực, hắn vồ lấy khẩu súng lục, rồi lại không dám nóp cò.

Tiếng chuông báo bữa tối giục giã hắn. Hắn chẳng ăn nổi miếng nào và lại lủi thủi quay ngược lên lầu. Và hắn chẳng biết phải làm sao. Giờ đây, khi đã bỏ lỡ cơ hội lần đầu tiên, hắn thấy mình thật hèn nhát. Lát nữa thôi, hắn sẽ lại sẵn sàng, can đảm, quả quyết, làm chủ được lòng dũng cảm cũng như quyết tâm của mình; còn hiện tại, hắn quá yếu đuối và sợ cái chết hệt như sợ con bé đã khuất.

Hắn lắp bắp:

“Mình không dám mạo hiểm lần nữa đâu — mình không dám mạo hiểm đâu.”

Rồi hắn liếc nhìn đầy kinh hoàng, thoạt đầu là khẩu súng lục trên bàn rồi sau đó là tấm rèm che khuất khung cửa sổ. Hơn nữa, hắn có cảm giác như một điều gì đó khủng khiếp sắp sửa xảy ra ngay khi cuộc đời hắn chấm dứt. Một điều gì đó ư? Là gì chứ? Có lẽ là một cuộc hội ngộ với nó chăng. Nó đang canh chừng hắn; nó đang đợi chờ hắn; nó đang cất tiếng gọi hắn; và chính để tóm lấy hắn trong lượt của nó, để lôi kéo hắn về phía bản án sẽ báo thù cho nó, và dẫn dắt hắn đến cái chết, mà nó cứ hiện hình vào mỗi đêm như thế.

Hắn bật khóc nức nở hệt như một đứa trẻ, miệng lặp đi lặp lại:

“Mình không dám mạo hiểm lần nữa đâu — mình không dám mạo hiểm nữa đâu.”

Rồi hắn khuỵu sụp xuống và lẩm bẩm:

“Lạy Chúa! Lạy Chúa tôi!” dẫu chẳng hề tin vào Chúa. Và quả thực, hắn chẳng còn dám nhìn ra khung cửa sổ — nơi hắn thừa biết bóng ma đang ẩn nấp, cũng chẳng dám nhìn chiếc bàn nơi khẩu súng lục đang lấp lánh ánh kim. Khi đã đứng phẫu dậy, hắn tự nhủ:

“Chuyện này không thể kéo dài mãi được; phải có một hồi kết cho nó chứ.”

Âm thanh phát ra từ chính giọng nói của hắn trong căn phòng tĩnh mịch khiến một luồng khí lạnh thấu xương chạy dọc khắp tứ chi, nhưng vì không tài nào tự mình dứt khoát đưa ra quyết định, vì hắn đinh ninh rằng ngón tay mình sẽ mãi mãi từ chối việc bóp cò súng, hắn bèn quay người vùi đầu trốn kỹ dưới đống chăn mền và bắt đầu suy ngẫm.

Hắn phải tìm ra một cách thức nào đó để ép bản thân phải đi đến cái chết, để tự giăng một cái bẫy chính mình mà ở đó không cho phép bản thân được phép chần chừ, trì hoãn hay nuối tiếc bất cứ điều gì. Hắn đâm ra ganh tị với những tử tù bị dẫn ra đoạn đầu đài được bao quanh bởi một đám lính túc trực. Ồ! Giá như hắn có thể nài nỉ ai đó bắn chết mình; giá như sau khi thú nhận tội ác của mình với một người bạn tri kỷ — kẻ sẽ chẳng bao giờ hé răng nửa lời — hắn có thể ban ơn cho cái chết từ tay người ấy. Nhưng hắn có thể cậy nhờ ai để thực hiện cái dịch vụ khủng khiếp này cơ chứ? Cậy nhờ ai đây? Hắn điểm mặt gọi tên tất cả những kẻ hắn quen biết. Viên bác sĩ ư? Không, gã đó thể nào cũng sẽ đem chuyện này ra ba hoa chích choè sau đó cho mà xem. Và đột nhiên, một ý tưởng hoang đường xẹt qua tâm trí hắn. Hắn sẽ viết thư cho viên quan tòa — người có mối thâm giao thân thiết với hắn — và tự thú nhận mình chính là thủ phạm gây ra vụ án mạng. Trong bức thư này, hắn sẽ bộc bạch tất cả, phơi bày tâm can từng bị đày đọa ra sao, hắn đã hạ quyết tâm tự sát thế nào, hắn đã chần chừ trước quyết định đó ra sao và đã dùng những biện pháp gì để củng cố lòng dũng cảm đang mai một của mình. Và nhân danh tình bạn lâu năm, hắn sẽ khẩn khoản nài nỉ người bạn ấy tiêu hủy bức thư ngay sau khi xác định được kẻ thủ ác đã tự tay trừng trị bản thân. Renardet hoàn toàn có thể tin tưởng vị quan tòa này; hắn biết lão ta là một kẻ chân chính, kín kẽ, thậm chí đến một lời nói vô thưởng vô phạt cũng chẳng thèm buông. Lão ta là một trong số những con người mang một thứ lương tâm bất khuất, được cai quản, chỉ đạo và điều tiết bởi duy nhất lý trí của họ.

Vừa nhen nhóm dự định ấy trong đầu, một cảm giác hạnh phúc kỳ lạ đã chiếm trọn tâm can hắn. Hắn đã bình tĩnh lại rồi. Hắn sẽ ung dung viết bức thư của mình, rồi khi rạng đông ló dạng, hắn sẽ thả nó vào chiếc hòm thư được đóng chặt trên bức tường bên ngoài văn phòng của mình; sau đó hắn sẽ leo lên tòa tháp để ngóng chờ sự xuất hiện của người đưa thư; và khi gã mặc áo blouse xanh đã khuất dạng, hắn sẽ cắm đầu lao xuống những mỏm đá bên dưới — nơi phần móng của tòa tháp tọa lạc. Hắn sẽ cẩn thận để bị phát hiện bởi đám thợ mộc từng đốn hạ khu rừng của mình trước đã. Hắn có thể leo lên mỏm đá nhô ra — nơi cắm cột cờ thường được trưng bày trong những dịp lễ hội. Hắn sẽ giật gãy cột cờ ấy bằng một cú lắc mạnh và ôm kè kè nó trong lúc rơi xuống.

Ai mà nghi ngờ đây không phải là một vụ tai nạn cơ chứ? Và hắn sẽ chết ngay tức khắc, nhờ vào trọng lượng cơ thể cùng chiều cao của tòa tháp.

Ngay lập tức, hắn vùng dậy khỏi giường, tiến đến chiếc bàn và bắt đầu viết. Hắn chẳng bỏ sót một chi tiết nào, không một tình tiết đơn lẻ nào của tội ác, không một góc khuất nào của những nỗi thống khổ trong tâm hồn, và kết thúc bằng tuyên bố rằng hắn đã tự tuyên án tử hình cho chính mình, rằng hắn chuẩn bị hành quyết tên tội phạm, và khẩn nại người bạn cũ — người bạn tri kỷ của hắn — hãy đảm bảo rằng sẽ chẳng bao giờ có bất kỳ vết nhơ nào bêu rếu danh tiếng của hắn.

Khi hoàn thành bức thư ấy, hắn nhận ra trời đã rạng sáng.

Hắn gấp lại, dán kín và đề địa chỉ. Rồi hắn nhẹ nhàng bước xuống, hớt hải chạy về phía chiếc hộp trắng nhỏ gắn trên bức tường bên ngoài ở góc trang trại, và khi đã ném bức thư — thứ khiến tay hắn run bần bật — vào trong đó, hắn quay ngoắt lại thật nhanh, cài then chốt cánh cửa lớn và trèo vút lên tháp cao để chờ đợi sự đi qua của người đưa thư — kẻ sẽ mang bản án tử hình của hắn đi mất.

Hắn cảm thấy bản thân lúc này đã hoàn toàn làm chủ. Được giải thoát! Được cứu rỗi!

Một cơn gió lạnh khô, một cơn gió buốt giá thốc qua mặt hắn. Hắn há hốc miệng hít hà thật sâu, ngấu nghiến nuốt lấy cái hôn lạnh ngắt của nó. Bầu trời mang một màu đỏ quạch — màu đỏ của mùa đông, và toàn bộ vùng đồng bằng phủ đầy sương giá đang lấp lánh dưới những tia nắng đầu tiên của mặt trời, hệt như được rắc một lớp bột thủy tinh.

Renardet đứng thẳng người, đầu trần, đăm đăm phóng tầm mắt ngắm nhìn dải đất mênh mông trước mặt, những đồng cỏ bên trái và ngôi làng bên phải với những ống khói bắt đầu bốc khói nghi ngút chuẩn bị cho bữa ăn sáng. Dưới chân, hắn nhìn thấy dòng Brindille đang lững lờ uốn lượn giữa những mỏm đá — nơi chẳng mấy chốc hắn sẽ bị nghiền nát đến chết. Hắn cảm nhận được một nguồn sinh khí mới trong buổi sáng mùa đông đẹp đẽ và buốt giá ấy. Ánh sáng tắm táp lấy thân thể hắn, len lỏi vào sâu thẳm tâm can hệt như một niềm hy vọng vừa chớm nở. Hàng loạt những ký ức ùa về quây lấy hắn, những ký ức về những buổi sáng tương tự, về những bước đi dồn dập trên nền đất cứng vang lên lốp cốp dưới đôi giày, về những ngày săn bắn ngập tràn hạnh phúc ở ven những vũng nước nơi vịt trời ngủ say. Tất cả những điều tốt đẹp mà hắn yêu quý, những điều tốt đẹp của sự tồn tại, ồ ạt đổ về ký ức, đánh thức trong hắn những khát khao tươi mới, đánh thức toàn bộ những bản năng sung mãn của một thân xác vạm vỡ, đầy quyền năng.

Và hắn sắp sửa chết đi ư? Tại sao chứ? Hắn sắp tự sát một cách ngớ ngẩn chỉ vì sợ hãi một chiếc bóng — sợ hãi hư vô! Hắn vẫn giàu có và đang ở độ tuổi sung mãn nhất của cuộc đời. Thật là một sự ngu ngốc! Tất cả những gì hắn cần là sự tiêu khiển, là rời xa chốn này, là những chuyến du ngoạn để quên đi tất cả.

Ngay cả đêm nay, hắn cũng chẳng hề nhìn thấy con bé vì tâm trí đã bị chi phối và hướng sang một chủ đề khác mất rồi. Biết đâu hắn sẽ chẳng bao giờ phải nhìn thấy nó nữa thì sao? Và dẫu cho nó vẫn tiếp tục ám ảnh hắn trong ngôi nhà này, chắc chắn nó cũng chẳng thể bám đuôi theo hắn đi đến những nơi khác được! Trái đất này rộng lớn biết bao, tương lai thì còn dài đằng đẵng.

Tại sao hắn phải chết?

Ánh mắt hắn đảo qua các đồng cỏ, và hắn thoáng thấy một đốm màu xanh lam trên lối mòn uốn lượn dọc theo Brindille. Đó chính là Mederic đang đến để mang thư từ thị trấn tới và thu gom thư từ của làng.

Renardet giật nảy mình, một cảm giác đau nhói xé toạc lồng ngực, và hắn cắm cổ lao xuống chiếc cầu thang xoắn ốc để giành lại bức thư, để đòi lại nó từ tay người đưa thư. Lúc này hắn chẳng còn mảy may quan tâm xem mình có bị ai bắt gặp hay không nữa. Hắn hộc tốc chạy băng qua thảm cỏ còn đẫm sương giá nhẹ từ đêm hôm trước và xuất hiện trước chiếc hòm thư ở góc trang trại đúng vào khoảnh khắc người đưa thư vừa tới.

Gã bưu tá vừa mở cánh cửa gỗ nhỏ ra và rút ra bốn lá thư do cư dân trong vùng bỏ vào.

Renardet cất giọng gọi:

“Chào buổi sáng, Mederic.”

“Chào buổi sáng, thưa ngài thị trưởng.”

“Này, Mederic, tôi vừa ném một bức thư vào hòm mà tôi muốn lấy lại. Tôi xuống đây để xin lại nó đấy.”

“Được thôi, thưa ngài thị trưởng — ngài sẽ lấy lại được mà.”

Và người đưa thư ngẩng đầu lên. Gã đứng chết sững người khi chạm trán khuôn mặt của Renardet. Hai gò má vị thị trưởng đỏ bầm, đôi mắt lo âu và trũng sâu, viền quanh bởi những quầng thâm đen sì, tóc tai bù xù, râu ria không cạo, chiếc cà vạt buông thõng. Rõ ràng là hắn chưa hề đặt lưng xuống giường một giấc nào.

Người đưa thư cất tiếng hỏi:

“Ngài không khỏe à, thưa ngài thị trưởng?”

Vị thị trưởng, chợt hiểu ra rằng diện mạo của mình lúc này trông kỳ dị lắm, liền mất bình tĩnh và lắp bắp:

“Ồ! Không — ồ! Không. Chỉ là tôi vừa chồm dậy khỏi giường để xin lại lá thư này thôi. Tôi đang ngủ. Cậu hiểu chứ?”

Gã bưu tá đáp lại:

“Lá thư nào cơ ạ?”

“Cái lá thư mà cậu sắp sửa trả lại cho tôi ấy.”

Mederic lúc này bắt đầu ngập ngừng. Thái độ của vị thị trưởng trông chẳng có vẻ gì là tự nhiên cả. Biết đâu lại có một bí mật nào đó ẩn chứa trong bức thư này, một bí mật chính trị chẳng hạn. Gã thừa biết Renardet không phải là một người theo trường phái Cộng hòa, và gã quá tường tận những mánhnh khóe gian lận trong các cuộc bầu cử.

Gã gặng hỏi:

“Nó đề tên người nhận là ai vậy, thưa bức thư của ngài?”

“Gửi ngài Putoin, viên quan tòa — cậu biết đấy, bạn tôi, ngài Putoin ấy!”

Người đưa thư lật lục đống thư từ và tìm thấy bức thư được yêu cầu. Rồi gã bắt đầu săm soi nó, quay tròn qua quay tròn lại giữa mấy ngón tay, vô cùng bối rối và hoang mang trước nỗi sợ hãi hoặc là sẽ phạm phải một lỗi lầm tồi tệ, hoặc là sẽ đắc tội với thị trưởng.

Nhận thấy sự chần chừ của gã, Renardet liền tung ra một cử động nhằm chộp lấy bức thư và giật phăng nó đi. Hành động bạo phát này càng củng cố thêm niềm tin trong đầu Mederic rằng đang có một bí mật quan trọng nào đó dính líu đến vụ này và khiến gã hạ quyết tâm phải hoàn thành nghĩa vụ cho bằng được, bất chấp hậu quả ra sao.

Thế là gã thảy phắt bức thư vào trong túi và cài chặt lại, kèm theo câu trả lời:

“Không, tôi không thể đâu, thưa ngài thị trưởng. Chừng nào nó còn là thư gửi cho quan tòa, tôi không thể đưa được.”

Một nỗi đau đớn khủng khiếp bóp nghẹt trái tim Renardet và hắn lẩm bẩm:

“Này, cậu lạ gì tôi nữa. Cậu thậm chí còn nhận ra cả chữ viết tay của tôi cơ mà. Tôi bảo là tôi muốn lấy lại bức thư đó cơ mà.”

“Tôi không thể.”

“Nghe này, Mederic, cậu biết thừa là tôi không đời nào đi lừa gạt cậu — tôi bảo là tôi muốn nó cơ mà.”

“Không, tôi không thể.”

Một cơn run rẩy vì tức giận sục sôi trong tâm hồn Renardet.

“Mẹ kiếp, cẩn thận đấy nhé! Cậu thừa biết là tôi chưa từng nói đùa và tôi hoàn toàn có thể đá văng cậu khỏi cái ghế bưu tá này bất cứ lúc nào, anh bạn ạ, và sẽ chẳng mất nhiều thời gian đâu. Hơn nữa, suy cho cùng tôi vẫn là thị trưởng của cái vùng này; và giờ tôi ra lệnh cho cậu phải trả lại bức thư đó cho tôi ngay lập tức.”

Người đưa thư kiên quyết đáp:

“Không, tôi không thể đâu, thưa ngài thị trưởng.”

Ngay lập tức, Renardet đánh mất hoàn toàn lý trí, chồm tới tóm lấy tay gã bưu tá nhằm giật chiếc túi xách; thế nhưng, bằng một cú giật mạnh mẽ để thoát thân và lùi phắt lại phía sau, gã đưa thư liền giơ cao cây gậy gỗ thích to tướng của mình lên. Dẫu không hề nổi giận, gã vẫn dõng dạc tuyên bố:

“Đừng có mà động chân động tay vào tôi, thưa ngài thị trưởng, bằng không tôi sẽ quật lại đấy. Cẩn thận đấy, tôi chỉ đang làm tròn nhiệm vụ của mình thôi!”

Cảm thấy bản thân đã tiêu đời, Renardet đột ngột hạ mình, trở nên mềm mỏng, nài nỉ gã hệt như một đứa trẻ đang mếu máo:

“Thôi nào, nghe này anh bạn, trả lại bức thư đó cho tôi đi rồi tôi sẽ hậu tạ cậu — tôi sẽ cho cậu tiền. Đứng lại! Đứng lại! Tôi sẽ cho cậu một trăm frăng, cậu hiểu chứ — một trăm frăng đấy!”

Gã bưu tá quay ngoắt người lại và tiếp tục hành trình.

Renardet lầm lũi bám theo gã, thở hổn hển, lắp bắp:

“Mederic, Mederic, nghe tôi nói đi! Tôi sẽ cho cậu một ngàn frăng, cậu hiểu chứ — một ngàn frăng luôn.”

Gã bưu tá vẫn cắm cổ bước đi mà chẳng thèm đếm xỉa gì đến.

Renardet vẫn lải nhải:

“Tôi sẽ làm cho cậu phất lên, cậu hiểu chứ — bất cứ thứ gì cậu muốn — năm mươi ngàn frăng — năm mươi ngàn frăng cho lá thư đó! Cậu tiếc gì cơ chứ? Không chịu à? Vậy một trăm ngàn đi — tôi bảo là — một trăm ngàn frăng đấy. Cậu hiểu chưa? Một trăm ngàn frăng — một trăm ngàn frăng cơ đấy.”

Gã bưu tá ngoái đầu lại, với gương mặt cứng đờ và ánh mắt nghiêm nghị:

“Đủ lắm rồi đấy, bằng không tôi sẽ thuật lại hết mọi điều ngài vừa nói với tôi cho quan tòa nghe đấy.”

Renardet khựng lại chết sững. Mọi chuyện chấm hết thật rồi. Hắn quay đầu cắm cổ chạy thục mạng về nhà hệt như một con thú bị săn đuổi.

Đến lúc này, Mederic mới đứng lại và trân trân dõi theo bước chân tẩu thoát của hắn với vẻ bàng hoàng. Gã chứng kiến cảnh vị thị trưởng lủi thủi bước vào trong nhà, và vẫn đứng chôn chân chờ đợi, hệt như sắp có một sự kiện động trời nào đó xảy ra.

Quả thực, chỉ giây lát sau, thân hình cao lớn của Renardet đột ngột xuất hiện trên đỉnh tòa tháp Cáo. Hắn chạy vòng quanh khu vực đài quan sát điên cuồng như một kẻ mất trí. Rồi hắn túm lấy cột cờ và điên cuồng lắc mạnh nhưng không tài nào làm gãy nó nổi; rồi đột nhiên, hệt như một kẻ nhảy cầu, hai tay giơ trước ngực, hắn lao đầu thẳng xuống khoảng không vô định.

Mederic hộc tốc lao đến cứu viện. Gã nhìn thấy đám thợ mộc đang tiến vào làm việc và hét lớn thông báo rằng vừa có một vụ tai nạn xảy ra. Dưới chân mấy bức tường, họ tìm thấy một cái xác đầm đìa máu, với phần đầu bị nghiền nát bét trên một mỏm đá. Dòng Brindille lượn lờ bao bọc lấy mỏm đá ấy, và trên làn nước trong vắt, tĩnh lặng của nó, người ta có thể nhìn thấy một vệt máu đỏ tươi hòa lẫn cùng óc thịt đang loang lổ trôi đi.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.