Tuyển Tập Truyện Ngắn Nguyên Bản Hoàn Chỉnh Của Guy De Maupassant

Lượt đọc: 2835 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Một Vụ Việc Trong Gia Đình

❊ ❊ ❊

Chiếc động cơ nhỏ gắn trên chiếc xe điện hơi nước Neuilly kêu xình xịch khi chạy qua Porte Maillot để ra hiệu cho mọi vật cản tránh đường, đồng thời thở phì phò như một người đang hụt hơi khi xả ra những làn hơi nước, các pít-tông chuyển động dồn dập với âm thanh tựa như những đôi chân sắt đang chạy. Con đoàn tàu đang tiến dọc theo đại lộ rộng lớn dẫn đến tận sông Seine. Cái nóng ngột ngạt của buổi cuối ngày tháng Bảy bao trùm toàn bộ thành phố, và từ mặt đường, dẫu chẳng có lấy một ngọn gió gợn qua, bốc lên một lớp bụi trắng đục, nồng nặc và ấm áp, bám dính lấy làn da ẩm ướt, lấp đầy đôi mắt và luồn vào lồng ngực. Mọi người đứng tựa ở cửa ra vào các ngôi nhà để cố hớp lấy chút không khí.

Những ô cửa sổ của chiếc xe điện hơi nước mở toang và mấy tấm rèm phần phật bay trong gió. Bên trong có rất ít hành khách, bởi vào những ngày trời oi bức, mọi người thích ngồi phía ngoài hay trên các bệ đứng hơn. Họ gồm những phụ nữ to béo trong trang phục kỳ quặc, những bà vợ chủ tiệm ở vùng ngoại ô – những người cố bù đắp cho vẻ ngoài kém phần thanh lịch bằng một sự đường hoàng gượng gạo; những người đàn ông mệt mỏi vì công việc giấy tờ, mặt mày vàng vợt, vai so lại và bên cao bên thấp do thói quen ngồi viết bàn giấy suốt nhiều giờ liền. Giao diện lo âu và sầu muộn của họ cũng kể lể về những nỗi truân chuyên gia đình, sự túng thiếu tiền bạc triền miên, những niềm hy vọng tan vỡ, bởi tất cả đều thuộc về đội ngũ những kẻ khốn cùng rách rưới, sống lay lất qua ngày một cách tằn tiện trong những ngôi nhà quét vữa rẻ tiền với mảnh vườn nhỏ hoang phế ở vùng ngoại ô Paris, giữa những cánh đồng nơi người ta đổ phân bón.

Một người đàn ông thấp, mập mạp với khuôn mặt phù nề, ăn vận toàn cây đen và đeo một huy hiệu ở khuyết áo, đang trò chuyện với một người đàn ông cao gầy trong bộ đồ vải lanh trắng nhàu nhĩ, chiếc áo khoác phanh ngực hoàn toàn, đầu đội chiếc mũ Panama trắng. Người đàn ông trước nói chậm chạp và ngập ngừng đến mức thỉnh thoảng suýt có cảm giác như ông ta đang bị lắp bắp; đó là ngài Caravan, trưởng phòng bên Bộ Hải quân. Người kia, từng là bác sĩ trên một con tàu buôn, đã mở phòng mạch tại Courbevoie, nơi ông ta đem những mảnh kiến thức y khoa mơ hồ còn sót lại sau một đời phiêu lưu để áp dụng cho cư dân khốn khổ của vùng đất ấy. Tên ông ta là Chenet, và có những lời đồn kỳ lạ lan truyền về phẩm hạnh của con người này.

Ngài Caravan vẫn luôn duy trì cuộc sống bình lặng của một công chức nhà nước. Suốt ba mươi năm qua, sáng nào ông ta cũng đi đúng một con đường đến công sở, gặp những con người ấy cùng đi làm vào một thời điểm, gần như ở đúng một địa điểm, rồi chiều nào cũng trở về nhà theo lối cũ và lại bắt gặp những gương mặt quen thuộc mà ông ta đã chứng kiến họ già đi. Mỗi buổi sáng, sau khi mua tờ báo xu ở góc phố Faubourg Saint Honore, ông ta mua thêm hai chiếc bánh sừng bò, rồi tới cơ quan như một kẻ phạm tội đang ra tự thú, bước đến bàn làm việc nhanh nhất có thể trong nỗi bất an thường trực; cứ như thể ông ta đang chờ đợi một lời quở trách vì tội xao nhãng nhiệm vụ nào đó mà bản thân có thể đã mắc phải.

Chưa từng có điều gì xảy ra làm thay đổi nhịp sống đơn điệu của ông ta, bởi không có sự kiện nào tác động đến ông ngoài công việc ở cơ quan, bổng lộc, tiền thưởng và việc thăng chức. Ông ta chẳng bao giờ nói về bất cứ điều gì ngoài phận sự của mình, dù ở cơ quan hay ở nhà — ông ta đã kết hôn với cô con gái không tus của một đồng nghiệp. Tâm trí ông ta, vốn đang trong trạng thái lụi tàn vì công việc ngày ngày tẻ nhạt, chẳng có suy nghĩ, hy vọng hay giấc mơ nào khác ngoài những thứ liên quan đến công sở, và có một nỗi cay đắng thường trực gặm nhấm mọi niềm vui mà lẽ ra ông ta đã có thể tận dụng, đó là việc tuyển dụng quá nhiều quan chức hải quân, bị gọi mỉa mai là "những thợ thiếc" do dải viền bạc trên áo, làm thư ký hạng nhất; và mỗi tối khi ăn tối, ông ta bàn luận sôi nổi về vấn đề này với vợ mình – người cũng chia sẻ sự tức giận ấy, và hai vợ chồng tự chứng minh với nhau rằng việc trao các chức vụ ở Paris cho những kẻ đáng lẽ phải được bố trí làm việc trong hải quân là hoàn toàn bất công về mọi mặt.

Giờ đây ông ta đã già, và hầu như chẳng nhận ra cuộc đời mình trôi qua nhanh thế nào, bởi quãng thời gian đi học chỉ đơn giản được thay thế bằng bàn giấy công sở mà chẳng có bất kỳ khoảng chuyển tiếp nào, và những giám thị từng khiến ông ta run sợ nay được thay thế bằng các vị thủ trưởng, những người mà ông ta vô cùng khiếp vía. Khi phải bước vào phòng của những bạo chúa quan liêu ấy, ông ta run lập cập từ đầu đến chí chân, và nỗi sợ hãi thường trực đó đã tạo cho ông ta một dáng vẻ vô cùng vụng về khi đứng trước mặt họ, một thái độ nhún nhường và một kiểu lắp bắp do thần kinh.

Ông ta chẳng biết gì về Paris hơn một kẻ mù được con chó dẫn đến cùng một địa điểm mỗi ngày; và nếu đọc được bài tường thuật về bất kỳ sự kiện bất thường hay vụ bê bối nào trên tờ báo xu của mình, chúng hiện lên trước mắt ông ta giống như những câu chuyện hoang đường do một nhà báo tự bịa ra nhằm giải trí cho các nhân viên cấp thấp. Ông ta không đọc tin tức chính trị, thứ mà tờ báo của ông thường xuyên nhào nặn theo yêu cầu của thế lực tài trợ, bởi ông ta không ưa những điều đổi mới; và khi đi qua Đại lộ Champs-Elysees mỗi tối, ông ta nhìn dòng người đông đúc tấp nập cùng dòng xe cộ xuôi ngược hệt như một du khách lạc lối ở xứ người.

Vì năm đó đã hoàn thành ba mươi năm phục vụ bắt buộc vào ngày mùng Một tháng Giêng, ông ta được trao tặng Bắc Đẩu Bội tinh, thứ phần thưởng trong các cơ quan công quyền bán quân sự dành cho kiếp nô lệ khốn khổ — thuật ngữ hành chính gọi là những dịch vụ trung thành — của những tội nhân bất hạnh bị đóng đinh vào bàn giấy. Phẩm hàm bất ngờ ấy mang đến cho ông ta một nhận thức cao cả và mới mẻ về năng lực của chính mình, đồng thời làm thay đổi hoàn toàn con người ông. Ông ta lập tức bỏ mặc chiếc quần sáng màu cùng áo ghi-lê kiểu cách để chuyển sang mặc quần ên đen và áo khoác dài, thứ giúp tấm dải ruy-băng rất rộng của ông ta nổi bật hơn. Ông ta cạo râu mỗi sáng, chăm sóc móng tay kỹ càng hơn, thay đồ lót hai ngày một lần từ một ý thức chính đáng về phép lịch sự, vì lòng tôn trọng đối với Huân chương quốc gia mà ông ta là một phần trong đó, và kể từ ngày hôm đó, ông ta trở thành một Caravan hoàn toàn khác: sạch sẽ một cách câu nệ, bệ vệ và trịch thượng.

Ở nhà, chốc chốc ông ta lại thốt lên câu “chiếc huy hiệu của tôi,” và ông ta trở nên tự hào đến mức không thể chịu nổi khi nhìn thấy những người đàn ông khác đeo dải ruy-băng nào khác ở khuyết áo. Ông ta đặc biệt tức giận khi thấy những tước hiệu lạ hoắc: “Thứ mà ở Pháp chẳng ai được phép đeo,” và ông ta đâm ra căm ghét đặc biệt gã Chenet, bởi chiều nào gặp hắn trên xe điện, hắn cũng đeo một loại huân chương nào đó, lúc màu trắng, lúc xanh dương, cam hoặc xanh lá.

Cuộc trò chuyện giữa hai người đàn ông từ Khải Hoàn Môn đến Neuilly lúc nào cũng chỉ có bấy nhiêu, và hôm đó, trước hết họ bàn luận về những thói nhũng nhiễu ở địa phương khiến cả hai đều chướng tai gai mắt, trong đó ngài Thị trưởng Neuilly nhận phần chỉ trích nặng nề nhất. Sau đó, như thường lệ khi ở cạnh những kẻ làm nghề y, Caravan bắt đầu huyên thuyên sang chương bệnh tật, bởi bằng cách đó, ông ta hy vọng sẽ xin xỏ được đôi chút lời khuyên miễn phí nếu khéo léo che giấu ý đồ. Bà mẹ ông ta đã khiến ông ta lo lắng không ít suốt thời gian qua; bà liên tục ngất xỉu kéo dài, và dù đã chín mươi tuổi, bà vẫn nhất quyết không chịu chăm sóc bản thân.

Caravan trở nên vô cùng mềm yếu khi nhắc đến tuổi cao của mẹ, và không dưới một lần hỏi bác sĩ Chenet — nhấn mạnh từ "bác sĩ" dẫu đối phương không có bằng cấp đầy đủ mà chỉ là một Sĩ quan Y tế — liệu ông ta có thường gặp ai cao tuổi đến thế không. Và ông ta xoa tay mãn nguyện; có lẽ không hẳn vì thực lòng mong mỏi cụ bà sống đời ở kiếp trên cõi đời này, mà bởi tuổi thọ lâu dài của mẹ chính là một thứ bảo chứng cho tuổi già của chính ông ta, và ông tiếp lời:

“Trong dòng họ nhà tôi, ai nấy đều sống thọ, và tôi dám chắc rằng nếu không gặp tai nạn gì, tôi sẽ chẳng chết cho đến khi thật già.”

Vị bác sĩ nhìn ông ta với ánh mắt đầy thương hại, liếc nhanh sang khuôn mặt đỏ lựng của người bạn đồng hành, chiếc cổ ngắn và dày, cái “thùng phước” — cách Chenet tự gọi trong bụng — hai đôi chân mập phì nhão nhoét, cùng độ tròn trịa mang nguy cơ tai biến mạch máu não của vị cựu quan chức; rồi nhấc chiếc mũ Panama trắng khỏi đầu, hắn cười khúc khích bảo:

“Tôi không chắc lắm đâu, anh bạn già ạ; mẹ anh dai như đỉa đó, và theo tôi tuổi thọ của anh chẳng mấy sáng sủa đâu.”

Điều này khiến Caravan khá bực mình, ông ta không nói thêm lời nào nữa cho đến khi chiếc xe điện dừng lại ở điểm đến, hai người bạn bước xuống, và Chenet rủ Caravan ghé vào quán Cafe du Globe đối diện làm một ly vermouth, nơi cả hai vẫn thường lui tới. Người chủ quán, vốn là quen biết của họ, giơ ra hai ngón tay để họ bắt qua những chai lọ trên quầy; rồi họ nhập bọn với ba người quen khác đang chơi cờ đô-mi-nô, những kẻ đã có mặt ở đó từ giữa trưa. Họ chào hỏi nhau niềm nở với câu hỏi quen thuộc: “Có gì mới không?” Sau đó, ba người chơi tiếp tục ván cờ và chìa tay ra mà chẳng thèm ngước nhìn lúc hai người kia chúc “Buổi tối vui vẻ”, rồi cả hai ra về để ăn tối.

Caravan sống trong một ngôi nhà nhỏ hai tầng ở Courbevoie, gần đoạn đường giao nhau; tầng trệt được thuê làm tiệm hớt tóc. Hai phòng ngủ, một phòng ăn và nhà bếp cấu thành toàn bộ căn hộ của họ, và phu nhân Caravan dành gần như toàn bộ thời gian để lau chùi dọn dẹp chúng, trong khi cô con gái Marie-Louise mười hai tuổi và cậu con trai Philippe-Auguste lại chạy rong chơi cùng lũ nhóc bẩn thỉu nghịch ngợm trong vùng, nô đùa dưới cống rãnh.

Caravan đã xếp cho người mẹ — người có tiếng là keo kiệt trong vùng và gầy gò trơ xương — ở căn phòng trên lầu của họ. Bà luôn bực dọc, chẳng ngày nào là không gây gổ và nổi giận lôi đình. Bà dùng những lời lẽ dữ dội nhất để mắng chửi những người hàng xóm đứng trước cửa nhà họ, những kẻ bán hàng rong, phu quét đường và lũ trẻ con trên phố; và để trả thù, lũ trẻ thường lẽo đẽo bám theo sau khi bà ra ngoài rồi hô khẩu hiệu trêu chọc.

Một cô hầu gái người Normandy khờ khạo và vô tâm đến khó tin đảm nhận việc nhà, và ngủ ở tầng hai chung phòng với bà cụ, vì sợ lỡ có bề gì xảy ra với bà vào ban đêm.

Khi Caravan bước vào, vợ ông ta — người mắc chứng cuồng dọn dẹp kinh niên — đang dùng một miếng vải n flannel đánh bóng mấy chiếc ghế gỗ gụ bừa bộn quanh phòng. Bà luôn đeo găng tay bông và đội trên đầu chiếc mũ trang trí bằng những dải ruy-băng đủ màu lúc nào cũng lệch sang một bên tai; và bất cứ khi nào bị bắt gặp đang lau chùi, quét dọn hay giặt giũ, bà thường nói:

“Tôi không giàu có gì; mọi thứ trong nhà tôi rất giản dị, nhưng sự sạch sẽ là xa xỉ phẩm của tôi, và điều đó đáng giá chẳng kém bất cứ thứ gì khác.”

Vì được trời phú cho óc thực tế vững vàng, bướng bỉnh, bà nắm quyền quyết định chồng trong mọi việc. Mỗi buổi tối trong bữa ăn và sau đó khi ở trong phòng riêng, họ trò chuyện rất lâu về công việc ở cơ quan, và dẫu kém chồng tới hai tuổi, ông ta vẫn đem mọi chuyện tâm sự với vợ như thể bà mới là người cầm trịch, đồng thời tuân thủ mọi lời khuyên của bà trong bất cứ vấn đề gì.

Bà chưa bao giờ là người phụ nữ đẹp, và giờ đây lại càng trở nên xấu xí; thêm vào đó, người vừa thấp lại gầy, trong khi cách ăn mặc cẩu thả, vô thẩm mỹ đã che lấp đi vài nét duyên thầm phụ nữ ít ỏi vốn có thể được tôn lên nếu bà có chút mắt thẩm mỹ trong y phục. Váy vóc của bà lúc nào cũng xộc xệch, và bà thường xuyên gãi người, bất kể là ở bộ phận nào trên cơ thể, hoàn toàn phớt lờ việc có ai nhìn thấy hay không, và gãi dai dẳng đến mức bất cứ ai trông thấy cũng có thể tưởng bà đang bị bệnh ghẻ lứa. Đồ trang điểm duy nhất mà bà cho phép bản thân là những dải ruy-băng lụa với số lượng lớn và đủ màu sắc trộn lẫn vào nhau trên những chiếc mũ phô trương mà bà đội ở nhà.

Ngay khi nhìn thấy chồng, bà liền đứng dậy và nói vừa khi hôn lên tóc mai ông ta:

“Anh có nhớ ghé tiệm Potin không đấy, mình ơi?”

Ông ta ngã sụp xuống ghế trong nỗi bàng hoàng, bởi đó là lần thứ tư ông ta quên mất một việc vặt mà vợ đã dặn.

“Đúng là một định mệnh nghiệt ngã,” ông ta thốt lên; “tôi có cố nghĩ về nó suốt cả ngày đi nữa thì tối đến thế nào cũng vẫn quên sạch.”

Nhưng thấy chồng có vẻ thực sự hối lỗi, bà chỉ điềm đạm đáp:

“Chắc ngày mai anh sẽ nhớ ra thôi. Cơ quan có gì mới không anh?”

“Có chứ, một tin động trời; lại có thêm một tên thợ thiếc nữa được bổ nhiệm làm phó trưởng phòng.” Bà trở nên cực kỳ nghiêm túc và nói:

“Thế là hắn lên thay Ramon à; đây chính là chiếc ghế mà em muốn anh phải đạt được cơ mà. Thế còn Ramon thì sao?”

“Hắn về hưu rồi.”

Bà nổi giận lôi đình, chiếc mũ tuột phăng xuống vai, và tiếp tục gào lên:

“Chẳng còn vớt vát gì được ở cái xó đó nữa rồi. Thế gã ủy viên mới tên là gì?”

“Bonassot.”

Bà với lấy cuốn Niên giám Hải quân vẫn luôn để sẵn ở tầm tay và tra cứu hắn.

“'Bonassot-Toulon. Sinh năm 1851. Sinh viên Ủy viên năm 1871. Phó Ủy viên năm 1875.' Hắn đã từng đi biển bao giờ chưa?” bà tiếp tục chất vấn. Trước câu hỏi đó, vẻ mặt của Caravan sáng bừng lên, ông ta cười rũ rượi đến mức nấc cả người.

“Nhiều như Balin ấy — nhiều như Baffin, thủ trưởng của hắn ta cơ.” Và ông ta bồi thêm một câu trò đùa cũ rích của công sở, cười còn lớn hơn trước:

“Đem thả bọn chúng xuống nước để đi kiểm tra Point-du-Jour khéo còn chẳng xong, vì chúng sẽ say sóng ngay trên mấy con tàu thủy chạy xuôi sông Seine mất thôi.”

Nhưng bà vẫn giữ nguyên vẻ nghiêm trọng như thể chẳng nghe thấy gì, rồi lẩm bẩm trong cổ họng vừa gãi cằm:

“Phải chi chúng ta có một vị Dân biểu để mà dựa dẫm. Khi Nghị viện biết được mọi chuyện đang diễn ra tại Bộ Hải quân, Bộ trưởng sẽ phải bay ghế ngay lập tức——”

Bà bị cắt ngang bởi một thứ âm thanh khủng khiếp trên cầu thang. Marie-Louise và Philippe-Auguste, những đứa vừa từ dưới cống rãnh mò về, đang tát nhau bôm bốp suốt dọc đường lên lầu. Người mẹ hung hăng lao tới, túm lấy tay mỗi đứa lôi tuột vào phòng và giật xóc mạnh mẽ; nhưng vừa nhìn thấy bố, chúng liền lao ngay đến và ông ta âu yếm hôn chúng, đặt mỗi đứa lên một bên đùi bắt đầu trò chuyện.

Philippe-Auguste là một đứa nhóc xấu xí, đầu tóc bù xù, bẩn thỉu từ đầu đến chân với khuôn mặt đần độn, còn Marie-Louise thì đã sớm y hệt mẹ — nói năng y chang, lặp lại từng từ của mẹ, thậm chí bắt chước cả cử chỉ. Con bé cũng hỏi bố xem cơ quan có gì mới không, và ông ta vui vẻ đáp:

“Bạn của con là Ramon, kẻ vẫn đến ăn tối với chúng ta mỗi Chủ nhật, sắp rời bỏ chúng ta rồi đấy, con yêu ạ. Lại có một phó trưởng phòng mới được bổ nhiệm.”

Con bé nhìn bố, với thứ sự thương hại sớm già trước tuổi, nó bảo:

“Lại có kẻ khác leo lên đầu lên cổ bố nữa rồi à.”

Ông ta nín cười, chẳng đáp lời, và để chuyển chủ đề, ông ta cất lời hỏi người vợ đang lau cửa sổ:

“Mẹ trên lầu thế nào rồi mình?”

Bà Caravan ngừng tay lau, quay người lại chỉnh lại chiếc mũ đã tuột tít ra tận sau gáy, rồi mím đôi môi run rẩy nói:

“À! Vâng; để tôi nói cho anh nghe chuyện mẹ anh, bởi bà vừa làm một vở kịch ra trò đấy. Anh tưởng tượng xem: cách đây không lâu, mụ Lebaudin, vợ tay thợ cắt tóc, lên đây mượn tôi một gói bột hồ, và vì lúc đó tôi không có nhà, mẹ anh đã đuổi tống đuổi tháo mụ ta như đuổi ăn mày; nhưng tôi đã dạy cho mụ già ấy một bài học. Bà ta làm bộ làm tịch không nghe thấy, như vẫn thế mỗi khi người ta nói cho nghe những sự thật mất lòng, nhưng bà ta điếc thế nào được mà điếc, như anh thừa biết. Toàn là kịch kịch cả đấy, và bằng chứng là bà ta đã lẳng lặng tót ngay lên phòng mình mà chẳng thèm ho he nửa lời.”

Caravan ngượng ngùng chẳng thốt nên lời, vừa lúc ấy cô hầu gái bước vào thông báo bữa tối đã dọn xong. Để báo cho mẹ biết, ông ta lấy một khúc cán chổi vẫn dựng ở góc phòng, gõ mạnh ba tiếng lên trần nhà rồi họ bước vào phòng ăn. Bà Caravan con múc súp và đợi bà cụ, nhưng mãi chẳng thấy xuống, và vì súp bắt đầu nguội ngắt, họ đành ăn từ tus, rồi khi bát đã cạn sạch, họ lại tiếp tục chờ, và bà Caravan trong cơn cuồng nộ quay sang trút giận lên đầu chồng:

“Bà ta cố tình làm thế đấy, anh thừa biết điều đó chẳng kém gì tôi. Nhưng anh thì lúc nào cũng bênh vực bà ta.”

Chẳng biết phải bấu víu vào đâu, ông ta sai Marie-Louise lên lầu gọi bà nội, rồi ngồi bất động, mắt dán xuống đất trong khi vợ đập chiếc dao vào thành cốc giận dữ. Chỉ độ một phút sau, cánh cửa bỗng bật mở và con bé hộc tốc chạy vào, thở không ra hơi, mặt tái mét, hốt hoảng báo:

“Bà nội ngã lăn ra sàn rồi ạ.”

Caravan vùng đứng dậy, ném phắt chiếc khăn ăn xuống bàn và lao vút lên lầu, trong khi vợ ông ta — người tưởng rằng đó chỉ là một trò quỷ quái nào đó của mẹ chồng — bước theo chậm chạp hơn, nhún vai ra chiều hoài nghi. Tuy nhiên, khi lên đến nơi, họ thấy bà cụ đang nằm dài bất động giữa phòng; và khi lật ngửa người bà ra, họ nhận thấy cụ đã bất tỉnh nhân sự, da dẻ nhăn nheo và vàng vọt hơn ngày thường, đôi mắt nhắm nghiền, hàm răng cắn chặt và thân hình gầy đét đã cứng đờ.

Caravan quỳ sụp xuống bên mẹ, bắt đầu rên rỉ.

“Mẹ ơi! Mẹ tội nghiệp của con ơi!” ông ta kêu khóc. Nhưng bà Caravan kia lại nói:

“Thôi đi! Cụ chỉ ngất xỉu lần nữa thôi mà, có gì ghê gớm đâu, và chắc chắn cụ làm thế để phá đám bữa tối ngon lành của chúng ta chứ gì.”

Họ đưa bà lên giường, lột sạch quần áo và Caravan, vợ cùng cô hầu gái bắt đầu xoa bóp cho bà; thế nhưng mặc cho mọi nỗ lực, cụ vẫn không tỉnh lại, thế là họ sai Rosalie đi mời bác sĩ Chenet. Nhà hắn ở tận ngoài bến tàu đoạn hướng về phía Suresnes, thế nên phải mất một khoảng thời gian khá lâu hắn mới ló mặt tới. Cuối cùng thì hắn cũng đến nơi, và sau khi quan sát bà cụ, bắt mạch và áp tai nghe nhịp tim, hắn phán xanh rờn: “Hết cứu rồi.”

Caravan lao sấp ngửa vào thi hài, gào khóc thảm thiết; ông ta hôn lên khuôn mặt cứng đờ của mẹ, khóc nức nở đến mức những giọt nước mắt lớn lã chã rơi xuống mặt người đã khuất tựa những hạt mưa, và dĩ nhiên, bà Caravan con cũng bày tỏ sự đau thương đúng mực, phát ra những tiếng rên rỉ yếu ớt khi đứng sau lưng chồng, đồng thời dùng tay chà xát đôi mắt một cách thô bạo.

Nhưng đột nhiên, Caravan ngẩng phắt đầu lên với mái tóc thưa bù xù, khuôn mặt méo mó vì đau khổ trông vô cùng khó coi, thốt lên:

“Nhưng... anh chắc chứ, bác sĩ? Anh có chắc chắn không?”

Vị bác sĩ cúi người sát vào thi thể, dùng đôi tay thành thạo nghề nghiệp — y hệt cách một tay chủ tiệm khoe khoang hàng hóa — tuyên bố:

“Nào, bạn thân mến, hãy nhìn vào mắt cụ đây này.”

Hắn lật mi mắt lên, và tròng mắt của bà cụ hoàn toàn không thay đổi, ngoại trừ có lẽ đồng tử hơi giãn ra một chút, và Caravan cảm thấy một cú sốc nặng nề khi nhìn thấy cảnh đó. Sau đó, ngài Chenet cầm lấy cánh tay gầy guộc của cụ, bẻ các ngón tay duỗi ra và bực bội quát lên, hệt như đang bị cãi lại:

“Nhìn tay cụ đây xem; tôi chưa bao giờ chẩn đoán sai, anh cứ hoàn toàn yên tâm đi.”

Caravan ngã gục xuống giường, rú lên như con thú, trong khi vợ ông ta, vừa sụt sùi vừa bắt tay vào việc cần làm.

Bà ta kéo chiếc tủ đầu giường ra, trải lên đó một chiếc khăn mặt rồi đặt bốn cây nến sáp lên trên và thắp sáng; sau đó bà bẻ một nhánh tầm xuân đang treo trên gương lò sưởi đặt vào giữa bốn ngọn nến trên một chiếc đĩa, đổ đầy nước sạch vào vì chẳng có nước thánh. Nhưng sau một thoáng suy nghĩ chớp nhoáng, bà ta ném một nhúm muối vào bát nước, chắc mẩm mình đang thực hiện một nghi thức thánh hóa nào đó, và khi xong việc, bà đứng im lặng bất động, còn vị bác sĩ nãy giờ phụ giúp liền thì thầm với bà:

“Chúng ta phải đưa Caravan ra ngoài thôi.”

Bà gật đầu đồng ý, tiến đến chỗ người chồng vẫn đang quỳ sụp khóc lóc, kéo xốc một bên tay ông ta dậy trong khi Chenet tóm lấy bên kia.

Họ dìu ông ta ngồi vào chiếc ghế quen thuộc trong bữa ăn, đối diện với chiếc đĩa súp trống không. Và ông ta cứ ngồi đó bất động, mắt đăm đăm nhìn vào ly nước, trí óc tê dại vì đau buồn đến mức chẳng thể suy nghĩ nổi nữa.

Trong một góc phòng, bà Caravan đang trò chuyện với bác sĩ và hỏi han về những thủ tục cần thiết, bởi bà muốn thu thập thông tin thực tế. Cuối cùng, ngài Chenet — người có vẻ đang đợi chờ thứ gì đó — cầm lấy mũ chuẩn bị chuồn, bảo rằng mình vẫn chưa ăn tối; ngay lập tức bà ta thốt lên:

“Sao cơ! Bác sĩ chưa ăn tối á? Ơ hay, ở lại đây đi bác sĩ; đừng đi vội. Chúng tôi có gì bác sĩ dùng nấy, đương nhiên bác sĩ cũng hiểu chúng tôi làm sao mà kham nổi sơn hào hải vị.” Hắn bày đặt khách sáo chối từ, nhưng bà nài nỉ:

“Bác sĩ nhất định phải ở lại; trong những lúc thế này, người ta rất cần bạn bè bên cạnh, vả lại, có chừng bác sĩ còn khuyên nhủ được chồng tôi nạp chút năng lượng chứ anh ấy phải giữ sức chứ.”

Vị bác sĩ cúi đầu, đặt chiếc mũ xuống và nói:

“Nếu vậy, tôi xin nhận lời mời của phu nhân.”

Bà ra lệnh cho Rosalie — con bé có vẻ đã mất hồn mất vía — rồi ngồi xuống, tuyên bố “sẽ ăn giả vờ một chút” để “giữ bầu bạn với bác sĩ”.

Món súp được bưng lên lại, và ngài Chenet quất liền hai bát. Tiếp đó là đĩa lòng dồi tỏa ra mùi hành tỏi nồng nặc, thứ mà cuối cùng bà Caravan cũng quyết định nếm thử.

“Ngon tuyệt,” vị bác sĩ khen ngợi, khiến bà mỉm cười, rồi quay sang chồng, bà giục:

“Ăn một chút đi anh Alfred tội nghiệp của em, nuốt chút gì vào bụng cho lại sức chứ. Nhớ là anh còn phải thức đêm canh cữ cho cụ đấy nhé!”

Ông ta ngoan ngoãn chìa đĩa ra hệt như một đứa trẻ, y như cách ông ta sẽ lên giường đi ngủ nếu được ra lệnh, phục tùng vợ trong mọi việc mà không một chút kháng cự hay suy nghĩ, và ông ta ăn; vị bác sĩ tự múc liền ba lần, trong khi bà Caravan thỉnh thoảng lại dùng dĩa khều một miếng to tướng rồi nuốt chửng với vẻ thờ ơ có tính toán.

Khi món mì ống dọn ra đầy một bát trộn lớn, vị bác sĩ reo lên:

“Chà chà! Món này tôi thích nhất đấy.” Và lần này, bà Caravan chia phần cho tất cả mọi người. Bà thậm chí còn múc đầy những chiếc đĩa nhỏ đang bị lũ trẻ vét sạch — những đứa từ chiều đến giờ bị bỏ mặc tự bơi nên đã uống toàn rượu vang pha không nước và giờ đang đá đít nhau dưới gầm bàn.

Chenet chợt nhớ ra nhà soạn nhạc Rossini từng rất khoái món Ý này, và hắn cao hứng thốt lên:

“Ủa mà vần phết đấy chứ, ta có thể mở đầu mấy câu thơ thế này: Đại sư Rossini Rất mê món mì.”

Chẳng ai thèm đếm xỉa đến hắn. Bà Caravan, bỗng trở nên trầm ngâm, đang tơ tưởng đến mọi hệ quả có thể xảy ra của sự kiện này, trong khi chồng bà vo những mẩu bánh mì thành viên đặt lên khăn bàn và ngẩn ngơ nhìn chúng với ánh mắt đờ đẫn, ng dại. Vì khát khô cổ họng, ông ta liên tục đưa ly rượu đầy lên miệng uống cạn, kết quả là tâm trí vốn đã bị chấn động bởi cú sốc và đau buồn nay càng trở nên mơ hồ, các ý tưởng đảo lộn khi quá trình tiêu hóa bắt đầu.

Vị bác sĩ, người nãy giờ vẫn tợp rượu đều đều, đã ngà ngà say trông thấy, và bản thân bà Caravan cũng cảm nhận được phản ứng ngược sau mọi cú sốc thần kinh, đâm ra bồn chồn kích động, dẫu chẳng uống giọt rượu nào ngoài nước lọc mà cái đầu vẫn thấy ong ong.

Chẳng mấy chốc, Chenet bắt đầu kể những câu chuyện về cái chết mà hắn cho là buồn cười. Bởi ở cái vùng ngoại ô Paris toàn dân tỉnh lẻ ấy, người ta dễ dàng bắt gặp thái độ dửng dưng với cái chết mà mọi nông dân đều có, dù đó là cha hay mẹ đẻ của họ; sự thiếu tôn trọng ấy, sự thô lỗ vô thức ấy vốn quá đỗi phổ biến ở miền quê và vô cùng hiếm hoi tại Paris, và hắn nhơn nhởn kể:

“Hôm tuần trước tôi được gọi đến phố Puteaux, và khi đến nơi, tôi thấy bệnh nhân đã ngỏm củ tỏi từ đời nào còn cả nhà thì đang điềm nhiên ngồi cạnh giường cạn nốt chai rượu mùi hồi vừa mua tối hôm trước để chiều lòng người sắp chết.”

Nhưng bà Caravan chẳng thèm nghe; tâm trí mụ ta bận túc trực nghĩ về gia tài di sản, còn Caravan thì đã hoàn toàn mất khả năng nhận thức bất cứ thứ gì khác.

Cà phê được dọn lên sau đó, được pha rất đặc để giúp họ lấy lại tinh thần. Vì mỗi tách đều được chếm thêm một ngụm cognac thơm nức, nó làm má ai nấy đỏ bừng và khiến ý nghĩ càng thêm rối rắm. Tệ hại hơn, Chenet đột ngột túm lấy chai rượu mạnh rót “mỗi người một giọt để súc miệng cho sạch”, theo cách hắn gọi, rồi chẳng nói năng gì nữa, bị khuất phục bất chấp ý chí bởi cảm giác ấm áp dễ chịu mà cồn mang lại sau bữa ăn, họ nhấm nháp từ tus ly cognac ngọt lịm tạo thành một lớp siro ngả vàng dưới đáy tách.

Lũ trẻ đã lăn ra ngủ và Rosalie bế chúng lên giường. Caravan, hành động theo bản năng muốn quên đi thực tại vốn ám ảnh mọi kẻ bất hạnh, tiếp tục tự rót cognac uống thêm mấy lần nữa, và đôi mắt đờ đẫn của ông ta bỗng sáng quắc lên. Cuối cùng vị bác sĩ đứng dậy cáo lui, tóm lấy tay người bạn càu nhàu:

“Đi với tôi nào; hít thở chút không khí trong lành sẽ tốt hơn cho anh. Gặp chuyện buồn thì không được cứ ì một chỗ.”

Kẻ kia ngoan ngoãn tuân theo, đội mũ, cầm gậy bước ra, và cả hai tay trong tay rảo bước hướng về phía sông Seine trong đêm ngập tràn ánh sao.

Không khí ấm áp và ngọt ngào, bởi tất cả các khu vườn trong vùng đều đang độ nở hoa vào mùa này, và hương thơm của chúng — vốn hầu như chẳng thể nhận biết vào ban ngày — dường như bừng tỉnh khi đêm xuống, hòa quyện với những cơn gió nhẹ hiu hiu thổi trong bóng tối.

Đại lộ thênh thang với hai hàng đèn gas kéo dài tận Khải Hoàn Môn vắng tanh và tĩnh mịch, nhưng văng vẳng từ xa là tiếng gầm rú của Paris, nơi dường như bị bao phủ bởi một thứ hơi nước ánh đỏ. Đó là một thứ âm thanh gầm rầm rì liên hồi, thỉnh thoảng được đáp trả bởi tiếng còi tàu hỏa vọng lại từ đâu đó xa xôi, đang lao vun vút ra biển qua các vùng tỉnh lẻ.

Ngọn gió tươi mát phả vào mặt khiến hai người đàn ông thoạt đầu hơi lảo đảo, làm vị bác sĩ mất thăng bằng chút ít và đẩy cơn chóng mặt của Caravan — thứ hành hạ ông ta từ bữa tối — lên cao hơn. Ông ta bước đi như kẻ mộng du; mọi tư duy tê liệt dẫu không cảm thấy nỗi đau đớn quá lớn, bởi ông ta đang chìm trong trạng thái mụ mẫm tinh thần giúp kìm hãm sự dằn vặt, thậm chí ông còn cảm nhận được một sự nhẹ nhõm mơ hồ được gia tăng bởi sự dịu dàng của đêm hè.

Khi đến chân cầu, họ rẽ phải và đón lấy luồng gió mát rượi từ dòng sông đang lững lờ trôi, bình thản và u sầu, hai bên bờ viền những hàng dương cao vút, trong khi các vì sao trông như đang nổi lềnh bềnh trên mặt nước và trôi theo dòng chảy. Một lớp sương mù trắng nhạt lơ lửng trên bờ đối diện phả vào lồng ngực họ cảm giác lạnh buốt, và Caravan bỗng khựng lại, bởi mùi nước sông ấy đã đánh thức những ký ức xưa cũ trong tâm trí ông. Bởi trong đầu, ông chợt hình dung lại người mẹ ở vùng Picardy năm xưa, hệt như ông từng thấy nhiều năm trước, đang quỳ gối trước hiên nhà, giặt giũ đống quần áo chất đống bên mình ở con suối chảy qua khu vườn của họ. Ông suýt tưởng như mình đang nghe thấy tiếng thanh gỗ đập mà bà dùng để vò quần áo giữa sự tĩnh lặng bình yên của chốn thôn quê, cùng giọng bà gọi lớn: “Alfred, lấy xà phòng cho mẹ.” Và ông ngửi thấy thứ mùi nước chảy, mùi sương bốc lên từ mặt đất ẩm ướt, cái mùi ngai ngái của đầm lầy mà ông sẽ chẳng bao giờ quên, nay ùa về đúng vào cái đêm mà mẹ ông vừa qua đời.

Ông đứng khựng lại, bị tóm chặt bởi cảm giác tuyệt vọng. Một luồng sáng chợt lóe lên vạch trần trước mắt ông quy mô của thảm họa, và hơi thở từ dòng sông ấy kéo ông lao vào vực thẳm của nỗi đau đớn không lối thoát. Cuộc đời ông như bị cắt đôi, tuổi trẻ tan biến, bị nuốt chửng bởi cái chết đó. Mọi ngày tháng cũ đã qua đi, mọi ký ức tuổi trẻ đã bị cuốn phăng; từ nay về sau, sẽ chẳng còn ai kể cho ông nghe về những chuyện đã xảy ra thuở trước, về những con người ông từng quen biết ngày xưa, về quê hương xứ sở và quá khứ của chính mình; đó là một phần sinh mệnh nay không còn tồn tại nữa, và phần đời còn lại có lẽ cũng nên chấm dứt ngay lúc này đi là vừa.

Và rồi ông lại nhìn thấy “người mẹ” thời trẻ dại, khoác lên mình những bộ cánh sờn vai mà ông nhớ mãi đến mức chúng dường như đã gắn liền với bà; ông nhớ lại từng cử chỉ, những cung bậc giọng nói khác nhau, thói quen, sở thích, những cơn giận dữ, các nếp nhăn trên mặt, chuyển động của đôi ngón tay gầy guộc và tất cả những dáng vẻ quen thuộc ấy – thứ sẽ chẳng bao giờ còn xuất hiện lại nữa, và tóm chặt lấy vị bác sĩ, ông bắt đầu rên rỉ khóc lóc. Đôi chân gầy guộc run lên bần bật, toàn thân mập mạp rung lên bần bật theo từng tiếng nấc nghẹn ngào, tất cả những gì ông có thể thốt lên chỉ là:

“Mẹ ơi, mẹ tội nghiệp của con ơi, mẹ ơi!”

Nhưng người bạn đồng hành, kẻ vẫn đang say khướt và có ý định tàn tiệc đêm ở mấy chòm xóm trác táng nào đó mà hắn lén lút lui tới, bèn bắt ông ngồi phịch xuống thảm cỏ bên bờ sông và chuồn thẳng ngay sau đó với cái cớ phải đi khám bệnh.

Caravan tiếp tục khóc lóc một hồi lâu, và khi đã cạn khô nước mắt, khi nỗi đau đã, có thể nói là trút sạch, ông lại cảm thấy sự nhẹ nhõm, nghỉ ngơi và một sự bình yên bất ngờ.

Trăng đã lên cao, tắm táp chân trời trong ánh sáng dịu ngọt.

Những hàng dương cao vút mang một lớp ánh bạc lấp lánh, sương mù trên đồng bằng trông như tuyết trôi; dòng sông phản chiếu ngàn vì sao và ánh lên màu xà cừ, đang lăn tăn gợn sóng trước làn gió thổi. Không khí thật dịu dàng và ngọt ngào, Caravan hít hà gần như ngấu nghiến, và tưởng chừng như ông có thể cảm nhận được một cảm giác tươi mát, tĩnh lặng cùng sự an ủi siêu phàm đang thấm đẫm vào người.

Ông thực sự chống cự lại cảm giác dễ chịu và thư thái đó, cứ tự lẩm bẩm với bản thân: “Mẹ tội nghiệp của tôi, mẹ tội nghiệp của tôi!” rồi cố gắng ép mình khóc tiếp vì một thứ ý thức trách nhiệm đạo đức; thế nhưng ông chẳng tài nào làm được nữa, và những ý nghĩ buồn tủi từng khiến ông nức nở thảm thiết cách đó không lâu nay đã phai nhạt gần hết. Chỉ chốc lát sau, ông đứng dậy bước về nhà, lững thững quay về dưới ảnh hưởng của đêm thanh bình và một trái tim đã được xoa dịu dẫu chẳng muốn thế.

Khi đến chân cầu, ông thấy chuyến xe điện cuối cùng đã sẵn sàng khởi hành, và đằng sau nó là những ô cửa sáng rực ánh đèn của quán Cafe du Globe. Ông bỗng dâng lên một nỗi thèm thuồng được kể lót với ai đó về sự mất mát của mình, được khơi gợi lòng thương cảm, được làm cho bản thân trở nên đáng quan tâm. Ông làm bộ mặt thảm thương, đẩy cửa bước vào và tiến tới quầy bar, nơi lão chủ quán vẫn đang đứng. Ông đã tính toán sẽ tạo ra một cú chấn động lớn và hy vọng mọi người sẽ vùng đứng dậy chạy lại với đôi tay rộng mở, cất lời: “Ôi chao, có chuyện gì thế anh?” Nhưng chẳng ai thèm để ý đến cái mặt đưa đám của ông cả, thế là ông đành chống hai khuỷu tay lên quầy, giấu mặt vào lòng bàn tay và thì thầm: “Lạy Chúa! Lạy Chúa!”

Lão chủ quán nhìn ông và hỏi: “Anh bị ốm à, ngài Caravan?”

“Không, bạn tôi ơi,” ông đáp, “nhưng mẹ tôi vừa mới qua đời.”

“Ồ!” lão ta thốt lên, và vì có một khách hàng ở tận đầu bên kia quán gọi một cốc bia Bavaria, lão liền sải bước đi phục vụ, để lại Caravan đực mặt ra vì cái sự thiếu đồng cảm trơ trẽn đó.

Ba tay chơi đô-mi-nô vẫn đang ngồi ở chiếc bàn cũ trước bữa tối, hoàn toàn đắm chìm vào ván cờ, và Caravan bước đến gần họ để tìm kiếm sự thương hại, nhưng chẳng ai mảy may chú ý đến ông, đành mở lời.

“Một tai họa lớn vừa giáng xuống đời tôi từ lúc tôi rời đây,” ông nói.

Cả ba cùng ngẩng đầu lên một chút trong tích tắc nhưng mắt vẫn dán chặt vào những quân cờ trên tay.

“Anh nói gì cơ?”

“Mẹ tôi vừa mới mất”; nghe vậy, một kẻ lẩm bổng:

“Ồ! Tiên sư,” với cái điệu bộ đau buồn giả tạo mà những kẻ dửng dưng thường trưng ra. Kẻ thứ hai, chẳng biết nói gì hơn, phát ra một tiếng huýt sáo đầy thông cảm đồng thời lắc đầu, và kẻ thứ ba quay ngoắt lại tiếp tục ván cờ như thể đang tự nhủ: “Có mỗi thế thôi à!”

Caravan từng kỳ vọng vào những lời phán đại loại “xuất phát từ trái tim”, và khi chứng kiến cái cách tin tức của mình được đón nhận, ông quay lưng bỏ bàn, phẫn nộ trước thái độ bình thản đến vô cảm trước nỗi đau của bạn bè, dẫu bản thân nỗi đau ấy đã khiến ông đần độn đến mức suýt chẳng còn cảm nhận được gì nữa. Về đến nhà, vợ ông đang đợi sẵn trong chiếc áo ngủ, ngồi trên chiếc ghế bành thấp cạnh cửa sổ mở toang, đầu óc vẫn luẩn quẩn nghĩ về phần gia tài.

“Cởi đồ ra đi anh,” bà ta bảo; “chúng ta vừa cởi vừa nói chuyện tiếp.”

Ông ngẩng đầu lên, nhìn trân trân lên trần nhà và thấu đáo nói:

“Nhưng... trên lầu có ai canh chừng đâu.”

“Tôi xin anh đấy, con Rosalie đang ở với cụ rồi, còn anh thì cứ việc lên thay ca nó lúc ba giờ sáng sau khi đã đánh một giấc đẫy mắt.”

Tuy nhiên, ông chỉ cởi đồ dở dang để sẵn sàng cho mọi tình huống bất ngờ có thể xảy ra, rồi buộc một chiếc khăn lụa quanh đầu và nằm xuống giường, một lúc lâu chẳng ai nói câu nào. Bà Caravan chìm trong suy tính.

Chiếc mũ ngủ đính một chiếc nơ đỏ bị lệch hẳn sang một bên, đúng cái kiểu đội mũ muôn thuở của bà, và chốc sau bà quay sang chồng cất lời:

“Anh có biết mẹ có để lại di chúc không đấy?”

Ông chần chừ giây lát rồi đáp:

“Anh... anh không nghĩ thế. Không, anh dám chắc là cụ chẳng để lại gì đâu.”

Vợ ông nhìn chằm chằm vào chồng, cất giọng thấp và đầy giận dữ:

“Tôi gọi thế là khốn nạn; chúng ta đã vắt kiệt sức mình suốt mười năm trời để chăm lo cho cụ, lo cơm ăn chỗ ở đàng hoàng! Con mượn mụ em gái anh khéo chẳng đời nào làm nổi ngần ấy cho cụ đâu, và tôi cũng vậy nếu sớm biết mình được đền đáp thế này! Vâng, đúng là một vết nhơ cho hương hồn cụ! Chắc anh sẽ lại bài ca con cá rằng cụ có trả tiền chúng ta chứ gì, nhưng người ta đâu thể trả tiền mặt cho con cái vì những việc chúng làm; nghĩa vụ ấy được ghi nhận sau khi chết; ít ra thì những kẻ đàng hoàng tử tế người ta hành động như thế đấy. Thế là tôi gánh đủ mọi phiền toái lo lắng công sức đổ sông đổ biển hết sao! Ồ, tuyệt thật đấy! Quá tuyệt vời luôn ấy chứ!”

Tội nghiệp Caravan, kẻ đang rối bời như tơ vò, chỉ biết lặp đi lặp lại:

“Mình ơi, em ơi, làm ơn... xin em hãy giữ im lặng cho.”

Bà ta dịu dần đi theo thời gian, lấy lại giọng điệu và tác phong quen thuộc, tiếp tục cằn nhằn:

“Ngày mai chúng ta phải báo tin cho em gái anh biết thôi.”

Ông giật mình, kêu lên:

“Đương nhiên rồi; anh suýt quên béng mất; sáng mai việc đầu tiên anh làm là gửi điện thoạ cho cô ấy.”

“Không,” bà ta gạt phắt đi, hệt như một mụ đàn bà đã tính toán trước mọi đường đi nước bước; “không, đừng gửi trước mười hay mười một giờ, để chúng ta còn có thời gian xoay sở trước khi nó mò đến. Từ Charenton về đây mất vỏn vẹn chưa đầy hai tiếng đồng hồ, và chúng ta có thể vịện cớ rằng anh đã mất trí vì quá đau buồn. Cứ báo tin cho nó trong ngày là đủ sớm rồi, và chừng đó thời gian đủ để chúng ta kịp thu vén.”

Caravan đưa tay lên trán, và với cái giọng rụt rè y hệt khi ông nói về thủ trưởng của mình — kẻ mà chỉ nghĩ tới thôi cũng đủ làm ông run lẩy bẩy — ông lắp bắp:

“Anh phải báo cáo tình hình với cơ quan chứ.”

“Việc gì phải thế?” bà ta đáp gọn lỏn. “Trong những dịp thế này, quên sừ đi là chuyện hết sức thông cảm được. Nghe tôi đi, đừng báo cáo gì sất; sếp của anh chẳng thể làm gì được anh đâu, và anh sẽ đẩy lão vào một vố khó xử ra trò.”

“Ối đúng thế rồi, chắc chắn lão sẽ nổi trận lôi đình cho mà xem khi nhận ra sự vắng mặt của anh. Vâng, em nói đúng đấy; quả là một ý tưởng thiên tài, và khi anh thông báo mẹ anh đã quy tiên, lão buộc phải ngậm bồ hòn làm ngọt thôi.”

Và ông ta xoa tay khoan khoái trước trò đùa tai quái khi hình dung ra bản mặt của sếp; trong khi ở trên lầu là thi hài của cụ già vừa khuất với cô hầu gái đang ngáy khò khò bên cạnh.

Nhưng bà Caravan bỗng trở nên trầm ngâm, như thể đang bị ám ảnh bởi thứ gì đó mà bà chưa tiện bày tỏ, và cuối cùng mụ thốt lên:

“Mẹ từng cho anh chiếc đồng hồ để bàn rồi còn gì — cái hình con bé chơi đánh khăng ấy?”

Ông ngẫm nghĩ giây lát rồi đáp:

“Có, có chứ; cụ từng nói với anh (nhưng lâu lắm rồi, hồi mới dọn đến đây): 'Ta sẽ để lại chiếc đồng hồ này cho con nếu con chăm sóc ta tử tế'.”

Bà Caravan trút được gánh nặng, lấy lại vẻ bình thản và phán quyết:

“Thế thì anh phải lên phòng cụ lấy nó xuống ngay lập tức, vì nếu rước con em gái anh về đây, nó sẽ giật phắt lại không cho chúng ta lấy đâu.”

Ông chần chừ.

“Em nghĩ thế thật à?”

Câu hỏi đó làm bà ta nổi khùng.

“Tôi chắc chắn thế chứ sao! Anh mãi mãi là cái đồ không bao giờ thay đổi được à? Anh sẵn sàng để lũ con đói lả mẩu bánh mì chứ chẳng dám nhúc nhích ngón tay. Chiếc tủ hộc đó chẳng phải thuộc về chúng ta sao, vì cụ đã hứa cho tôi rồi cơ mà? Và nếu em gái anh có dám ho hoe bất mãn, cứ bảo nó đến gặp tôi đây này! Tôi đéo thèm sợ con em gái anh một phép nào đâu. Nào, dậy mau, chúng ta xuống khiêng ngay những thứ mẹ đã cho xuống đây.”

Run rẩy và hoàn toàn thất thế, ông lê lết bò dậy khỏi giường bắt đầu xỏ quần nhưng bị vợ chặn lại:

“Chẳng cần phải mặc quần áo tử tế làm gì mất công; cứ nguyên đồ lót thế này là đủ rồi. Tôi tính quất nguyên bộ này lên đấy.”

Cả hai lủi thủi rời khỏi phòng trong trang phục đồ ngủ, rón rén bước lên lầu không một tiếng động, mở cửa sục thẳng vào căn phòng nơi bốn ngọn nến sáp cháy bập bùng cùng chiếc đĩa đựng nhánh tầm xuân dường như đang đơn độc canh chừng bà cụ trong giấc ngủ cứng đờ, bởi Rosalie — kẻ đang ngả người ưỡn ngực trên chiếc bành với hai chân duỗi thẳng, hai tay đan trước bụng và đầuẹo sang một bên — cũng đang ngủ say như chết và há hốc mồm ngáy o o.

Caravan tóm lấy chiếc đồng hồ để bàn, một trong những món đồ kỳ cục sản xuất đại trà dưới thời Đệ Nhị Đế Chế. Một bức tượng thiếu nữ bằng đồng mạ vàng đang cầm một quả cầu đánh khăng, và quả cầu ấy chính là con lắc đồng hồ.

“Đưa đây cho tôi,” vợ ông ra lệnh, “rồi anh cạy tấm mặt đá cẩm thạch trên tủ ra mang xuống.”

Ông nhọc nhằn vác tấm đá cẩm thạch lên vai và họ lỉnh xuống. Caravan phải khom lưng cúi gằm qua khung cửa và run lập cập suốt dọc đường xuống bậc thang, trong khi vợ đi giật lùi để soi đèn cho chồng, một tay cầm chân nến, tay kia kẹp chiếc đồng hồ dưới nách.

Khi về tới phòng riêng, mụ ta thở phào nhẹ nhõm.

“Chúng ta đã vượt qua cửa ải khó nhằn nhất rồi đấy,” bà nói; “giờ thì đi khuêng nốt đống đồ còn lại thôi.”

Nhưng những ngăn tủ kéo của chiếc tủ chứa đầy quần áo của bà cụ mà họ buộc phải tìm cách giấu đi đâu đó, và bà Caravan nhanh chóng nảy ra một kế sách.

“Ra sảnh khiêng cái thùng gỗ đóng hàng vào đây xem nào; nó chẳng đáng giá xu cנט nào nhưng ném đống đồ này vào đấy là đẹp bài.”

Và khi ông khuêng cái thùng lên lầu, họ bắt đầu tống đồ đạc vào đó. Từng cái một, họ lôi ra toàn bộ cổ áo, tay áo sơ mi, áo lót, mũ miện, tất cả những món đồ sờn cũ thuộc về người phụ nữ bất hạnh đang nằm đó ngay phía sau lưng họ, xếp gọn gàng vào chiếc thùng gỗ sao cho qua mặt được mụ Braux — đứa con thứ khác của người quá cố — kẻ sẽ mò đến vào ngày mai.

Khi đã xong xuôi, trước tiên họ khiêng ngăn kéo tủ xuống lầu, và phần khung còn lại theo sau, mỗi người giữ một đầu, và mất một lúc lâu họ mới thống nhất được chỗ đẹp nhất để đặt nó; cuối cùng họ chọn ngay phòng ngủ của mình, đối diện chiếc giường, giữa hai ô cửa sổ, và vừa đặt nó vào chỗ, bà Caravan đã tống toàn bộ đồ đạc của mình vào đầy ắp. Chiếc đồng hồ được đặt lên bệ lò sưởi trong phòng ăn, và họ ngắm nghía thành quả với sự mãn nguyện tuyệt đối, đồng thời gật gù công nhận chẳng còn gì hoàn hảo hơn thế. Sau đó họ đi ngủ, mụ thổi tắt ngọn nến, và chẳng mấy chốc mọi người trong nhà đều chìm vào giấc ngủ sâu.

Trời đã sáng bạch khi Caravan mở bừng mắt ra lần nữa. Trí óc ông ta mụ mẫm khi tỉnh giấc và mất mấy phút mới nhớ lại rõ ràng chuyện gì đã xảy ra; khi ý thức trở về, ông cảm thấy một sức nặng đè nặng lên lồng ngực, chồm dậy khỏi giường với tâm trạng chực khóc đến nơi.

Ông vội vã chạy lên căn phòng phía trên, nơi Rosalie vẫn đang ngáy ngủ trong tư thế y hệt đêm qua mà chưa hề tỉnh giấc một lần nào. Ông sai con bé đi làm việc, thay những cây nến mới vào chỗ mấy cây đã cháy rụi, rồi đứng ngẩn ngơ ngắm nhìn mẹ mình, trong đầu quay cuồng những ý tưởng sâu xa đến kỳ lạ, những giáo lý tôn giáo và triết lý sáo rỗng thường gặm nhấm những kẻ tầm thường khi đối diện với cái chết.

Nhưng vì vợ đang gọi giật giọng dưới nhà, ông đành lủi thủi bước xuống. Bà đã phác thảo sẵn một danh sách những việc cần phải làm trong buổi sáng, và ông suýt ngất khi nhìn thấy bản ghi nhớ:

1. Khai báo tử vong tại văn phòng thị trưởng. 2. Gặp bác sĩ điều trị. 3. Đặt quan tài. 4. Thông báo với nhà thờ. 5. Tìm nhà mai táng. 6. Đặt in cáo phó ở tiệm in. 7. Đến gặp luật sư. 8. Phát điện tín báo tin cho toàn bộ họ hàng.

Ngoài ra còn vô số việc vặt khác; thế là ông đành đội mũ lủi thủi bước ra ngoài. Khi tin tức lan rộng, bạn bè và hàng xóm của bà Caravan bắt đầu lục đục kéo đến xin phép được vào nhìn mặt người quá cố lần cuối. Đã có một trận cãi vã nảy lửa giữa hai vợ chồng người thợ hớt tóc ở tầng trệt về vấn đề này trong lúc một khách hàng đang được cạo râu. Mụ vợ, tay vẫn đan len thoăn thoắt, bĩu môi: “Thôi thì bớt đi được một mống, mà cụ ta thì nổi tiếng keo kiệt bủn xỉn có tiếng. Tôi vốn chẳng ưa gì mụ; nhưng dù sao đi nữa, tôi cũng phải tạt lên ngó mặt cái coi.”

Ông chồng, vừa thoa xà phòng vào cằm khách vừa lầm bầm: “Lại thêm cái trò dở người! Chẳng có mụ đàn bà nào lại nghĩ ra nổi cái quái chiêu ấy. Sống đã hành hạ người ta chưa đủ, chết đi rồi vẫn không chịu để cho người ta yên thân lấy một phút!” Nhưng vợ hắn chẳng hề nao núng, đáp tỉnh bơ: “Cái sự tò mò nó trỗi dậy vượt ngoài tầm kiểm soát của tôi, và tôi phải đi. Nó cứ ám ảnh tôi từ sáng tới giờ. Nếu không tận mắt nhìn thấy mụ ta, thể nào tôi cũng trằn trọc cả đời mất; cứ ngắm nghía cho đã đời rồi thế nào tôi cũng thấy thỏa mãn.”

Gã thợ cạo nhún vai buông một câu xóc óc với vị khách đang bị cạo má: “Thử hỏi anh xem, mấy mụ đàn bà dở hơi này trong đầu chứa cái quái gì không biết nữa? Tôi có rảnh hơi đâu mà đi xem xác chết!” Nhưng vợ hắn nghe thấy hết và đáp cực kỳ bình thản: “Thì đấy, chuyện nó thế đấy.” Rồi, thả cuộn len xuống quầy, mụ tót lên lầu một, nơi mụ chạm trán hai mươi mụ hàng xóm khác vừa kéo đến đang bàn tán rôm rả với bà Caravan — người đang hả hê cung cấp chi tiết tỉ mỉ, thế là cả bọn cùng kéo ù lên phòng quàn. Bốn mụ rón rén bước vào, lần lượt rảy nước muối lên đệm giường, quỳ sụp xuống làm dấu thánh lẩm bẩm cầu nguyện. Sau đó họ đứng dậy đờ đẫn nhìn chằm chằm vào cái xác với đôi mắt trợn tròn trừng trừng và cái miệng há hốc, trong khi cô con dâu hiếu thảo đang dí chiếc khăn tay lên mặt làm bộ sụt sùi thảm thiết.

Khi quay người bước đi, mụ ta chết sững khi phát hiện Marie-Louise và Philippe-Auguste đang đứng dán mắt ngay gần cửa tò mò chiêm ngưỡng mọi thứ diễn ra. Lập tức quên béng cái màn đau buồn giả trân vừa diễn, mụ lao vào chúng với đôi tay khua khoát gầm lên thị uy: “Chúng mày có cút ngay ra khỏi đây không hả, lũ ranh con khốn kiếp!”

Mười phút sau, khi dắt một tốp hàng xóm khác lên lầu, mụ lại tiếp tục quỳ lạy, khóc lóc thảm thiết, hoàn thành trọn vẹn bổn phận, để rồi lại bắt gặp hai đứa con ngoan cố tiếp tục bám càng theo sau. Mụ lại giáng cho chúng mấy bạt tai nảy đom đóm mắt, nhưng sang đợt khách tiếp theo mụ đành bơ luôn mặc kệ chúng, và với mỗi đoàn khách mới kéo đến, hai đứa nhóc quỷ sứ luôn lẽo đẽo bám đuôi, quỳ rộn trong một góc và bắt chước y xì đúc từng động tác của mẹ mình.

Khi buổi chiều chầm chậm buông xuống, đám đông tò mò bắt đầu thưa thớt dần, và chẳng mấy chốc chẳng còn vị khách nào nữa. Bà Caravan, quay trở về căn hộ của mình, bắt đầu rục rịch chuẩn bị cho tang lễ, để mặc người quá cố cô độc một mình.

Cửa sổ phòng mở toang. Cái nóng như thiêu như đốt tràn vào cùng những cuộn bụi mù mịt; ngọn lửa của bốn cây nến bập bùng chập chờn cạnh cái xác bất động, và đậu trên tấm vải phủ mặt, đôi mắt nhắm nghiền, hai bàn tay duỗi thẳng là những con ruồi nhỏ vo ve bay lượn tới lui không ngớt, trở thành những người bạn đồng hành duy nhất của cụ già lúc bấy giờ.

Tuy nhiên, Marie-Louise và Philippe-Auguste lúc này đã chuồn ra khỏi nhà và đang rong chơi ngoài phố. Chúng nhanh chóng bị vây quanh bởi lũ bạn chơi cùng, đặc biệt là những đứa lớn tuổi hơn vốn tò mò hơn với mọi bí mật của cuộc sống, hỏi han tới tấp như người lớn.

“Thế là bà nội cậu chết thật rồi á?” “Ừ, tối qua bà đi rồi.” “Người chết trông ra sao hả cậu?”

Thế là con bé Marie bắt đầu thuyết giảng, huyên thuyên đủ thứ chuyện về nến, nhánh tầm xuân và khuôn mặt của cái xác. Chẳng mấy chốc sự tò mò bùng cháy trong tâm trí lũ trẻ, và chúng nài nỉ xin được theo lên lầu nghía mặt người đã khuất.

Marie-Louise ngay lập tức tổ chức một cuộc thám hiểm đợt một gồm năm đứa con gái và hai thằng con trai — những đứa to con và gan lì nhất. Con bé bắt chúng cởi giày để tránh bị phát hiện. Cả đám rón rén bước vào nhà và leo lên cầu thang lén lút hệt như một đàn chuột nhắt.

Đặt chân vào phòng, cô bé nhại lại y hệt dáng vẻ của mẹ, chỉ đạo buổi lễ. Nó uy nghi bước lên trước đồng bọn, quỳ rộp xuống, làm dấu thánh, mím môi mấp máy như đang cầu kinh, đứng dậy, vảy nước quanh giường, và khi lũ trẻ chen chúc nhau nhô người đến gần — vừa sợ hãi vừa tò mò háo hức ngắm nghía khuôn mặt cùng đôi bàn tay của người quá cố — nó bỗng giả vờ nức nở vùi mặt vào chiếc khăn tay nhỏ xíu. Rồi chớp mắt trở lại bình thường khi nghĩ đến đám trẻ khác đang ngóng chờ dưới cửa, nó lật đật chạy xuống nhà dẫn theo tốp thứ hai, rồi tốp thứ ba; bởi vì toàn bộ lũ ranh con nhếch nhác trong vùng, thậm chí cả đám ăn mày rách rưới cũng kéo đến tề tựu để tham gia thứ trò giải trí mới mẻ này; và mỗi lần như thế, nó lặp lại y chang từng trò hề của mẹ một cách hoàn hảo tuyệt đối.

Cuối cùng thì con bé cũng thấy chán ngấy. Trò chơi nào đó đã đánh lạc hướng lũ trẻ rời khỏi nhà, và cụ bà lại một lần nữa bị bỏ mặc cô độc, đột ngột lãng quên bởi tất cả mọi người.

Căn phòng dần chìm vào bóng tối, và những ngọn nến bập bùng hắt những mảng sáng lập lòe lên nét mặt khô khốc, cứng đờ của thi hài.

Tầm 8 giờ tối, Caravan mò lên phòng tang lễ, khép cửa sổ và thắp lại nến mới. Giờ đây ông ta đã hoàn toàn bình tĩnh khi bước vào phòng, sớm quen với việc coi cái xác như thể nó đã nằm ở đó từ nhiều tháng nay. Thậm chí ông còn mạnh dạn tuyên bố rằng cho đến lúc này vẫn chưa hề có dấu hiệu phân hủy nào, thốt ra nhận xét đó đúng lúc hai vợ chồng chuẩn bị ngồi vào bàn ăn. “Xớ!” vợ ông gạt đi, “cụ cứng đờ ra thế kia thì để cả năm trời cũng chẳng xi nhê gì đâu.”

Bữa súp diễn ra trong bầu không khí im lặng tuyệt đối. Lũ trẻ bị bỏ mặc cả ngày trời nay đã kiệt sức vì quậy phá nên đang ngủ say sưa trên ghế, chẳng ai dám phá vỡ sự tĩnh mịch.

Bỗng nhiên ngọn lửa cây đèn dầu lịm dần. Bà Caravan ngay lập tức vặn bấc lên, một tiếng kêu ọp ẹp phát ra và đènụt tắt ngóm. Họ quên béng mất việc mua dầu. Giờ mà sai người ra tiệm tạp hóa mua thì bữa tối sẽ bị trì hoãn, thế là họ đi lục lọi tìm nến nhưng chẳng còn ngọn nào khác ngoài mấy cây nến cúng đang thắp trên phòng tang lễ tầng trên.

Bà Caravan, vốn dĩ luôn quyết đoán nhanh gọn, lập tức sai Marie-Louise chạy lên lấy hai cây xuống, và họ ngồi chờ trong bóng tối hoàn toàn.

Tiếng bước chân con bé lóc cóc leo lên lầu vang lên rõ mồn một. Sự im lặng kéo dài vài giây rồi con bé hớt hải chạy sầm sập xuống. Nó bật tung cửa và thều thào bằng giọng nghẹn đắng: “Ối bố ơi, bà nội... bà nội đang thay quần áo kìa!”

Caravan vùng bật dậy nhanh đến mức chiếc ghế ngã nhổng nhào đập thẳng vào tường. Ông ta lắp bắp: “Con nói gì cơ?... Con đang nói cái quái gì thế?”

Nhưng Marie-Louise, thở không ra hơi vì xúc động, lặp lại: “Bà... bà... bà nội đang mặc đồ, bà đang xuống đây rồi.”

Caravan bạo gan lao vút lên cầu thang, theo sát phía sau là bà vợ chết trân bàng hoàng; nhưng ông ta khựng lại trước ngưỡng cửa tầng hai, tê liệt vì sợ hãi, không dám bước vào. Cụ thể chuyện gì đập vào mắt ông đây? Bà Caravan tỏ ra can đảm hơn, vặn nắm tay cửa và bước thẳng vào trong phòng.

Bà cụ đang đứng thẳng người. Khi tỉnh dậy khỏi giấc ngủ lęthargic, thậm chí trước khi kịp hồi tỉnh hoàn toàn, trong lúc xoay người và chống người dậy bằng khuỷu tay, cụ đã vô tình dập tắt ba cây nến cháy gần giường. Sau đó, lấy lại sức, cụ vùng dậy khỏi giường và bắt đầu tìm kiếm quần áo. Sự vắng mặt của chiếc tủ hộc ban đầu khiến cụ hơi lúi húi, nhưng sau một lát, cụ đã mò ra đống đồ đạc dưới đáy thùng gỗ và đang điềm nhiên thay quần áo. Cụ đổ sạch bát nước, treo lại nhánh tầm xuân phía sau gương, sắp xếp lại mấy chiếc ghế về chỗ cũ và sẵn sàng bước xuống lầu thì chạm mặt ngay cậu con trai cùng cô con dâu đang đứng như trời trồng.

Caravan lao tới, tóm chặt lấy tay mẹ, nghẹn ngào ôm chầm lấy cụ trong khi người vợ đứng sau lặp lại bằng thứ giọng giả trân hypocritical: “Ôi thật là phúc đức lớn lao! Ôi thật là phúc đức quá!”

Nhưng bà cụ, chẳng mảy may xúc động, thậm chí chẳng thèm hiểu chuyện gì đang xảy ra, cứng đờ hệt như bức tượng với đôi mắt đục ngầu, chỉ cộc lốc hỏi: “Bao giờ thì dọn cơm hả mày?”

Ông ta lắp bắp, chẳng biết mình đang thốt ra cái gì:

“À vâng, thưa mẹ, chúng con đang đợi mẹ đấy ạ.”

Và với sự nhanh nhẹn hiếm thấy, ông ta tì tay đỡ mẹ, trong khi bà Caravan con túm lấy chân nến đi giật lùi dẫn đường từng bước một ở phía trước, y hệt như những gì mụ đã làm đêm hôm trước cho người chồng đang vác tấm đá cẩm thạch.

Khi vừa tới chiếu nghỉ tầng một, mụ suýt va phải đám người đang lật đật leo lên. Đó là gia đình bên Charenton, mụ Braux dẫn đầu theo sau bởi ông chồng.

Mụ vợ cao lớn mập mạp với chiếc bụng phệ trố tròn đôi mắt kinh hoàng suýt ngất, toan quay đầu chuồn thẳng. Ông chồng, một gã thợ giày theo chủ nghĩa xã hội, gầy gò rậm râu trông y hệt một con khỉ, điềm nhiên cất giọng nhâng nháo: “Ồ hay nhỉ? Sống lại từ cõi chết rồi cơ à?”

Ngay khi nhận ra họ, bà Caravan luống cuống bắn tín hiệu điên cuồng; rồi cất cao giọng chào đón: “Ơ kìa anh chị đến đấy à! Thật là một bất ngờ thú vị quá!”

Nhưng mụ Braux ngẩn người chẳng hiểu mô tê gì. Mụ đáp bằng giọng lè nhè: “Chính cái điện tín của nhà cậu mợ gọi chúng tôi tới mà; cứ tưởng là tỏi đã thắt lưng rồi cơ đấy.”

Gã chồng đi sau liền cấu ngoéo vợ để ra hiệu câm miệng. Hắn bồi thêm một tràng cười đểu cáng bị giấu sau lớp râu dày: “Mời mọc tử tế thế này chúng tôi quý hóa quá chứ. Nghe tin là phi tốc hành lên đây ngay,” câu nói vạch trần phơi bày mối thù hằn âm ỉ bấy lâu nay giữa hai bên gia đình. Sau đó, đúng lúc bà cụ đặt chân đến bậc thềm cuối cùng, hắn chồm tới chà xát bộ mặt rậm râu vào má cụ, tru tréo vào tai cụ vì cái tội điếc lác: “Mẹ trông khỏe mạnh quá cơ, vẫn tráng kiện như xưa chứ hả, mẹ ơi!”

Mụ Braux, chết trân vì chứng kiến cụ bà vẫn sống nhăn dẫu ai nấy đinh ninh đã ngỏm củ tỏi, chẳng dám bén mảng ôm hôn; và vóc dáng quá khổ của mụ chắn ngang lối đi cản trở những người khác tiến lên. Bà cụ đầy hoài nghi và cảnh giác nhưng ngậm tăm không nói, đảo mắt săm soi mọi kẻ xung quanh; đôi mắt xám nhỏ sắc lẹm và cứng rắn dán chặt hết người này sang người nọ, biểu cảm chứa đựng nhiều ẩn ý đến nỗi lũ trẻ cũng phải khiếp sợ.

Caravan đành thanh minh bừa: “Cụ vừa mới ốm một trận nhẹ thôi, nhưng giờ đã đỡ rồi; khỏe re ấy chứ nhỉ, phải không mẹ?”

Lúc bấy giờ cụ bà tiếp tục cất bước, cất giọng khàn đặc vọng lên từ cõi xa xăm nào đó: “Đấy là cơn ngất lâm sàng. Tao nghe thấy chúng mày bàn tán râm ran suốt đấy chứ.”

Một khoảng lặng chết chóc bao trùm. Họ lục đục kéo vào phòng ăn, và chỉ ít phút sau tất cả đã ngồi vào bàn cho bữa ăn dã chiến được dọn vội.

Chỉ có mỗi lão Braux là vẫn giữ được cái mặt trơ tráo. Bộ dạng gã giống y hệt loài đười ươi nhăn nhở cười ác ý, thỉnh thoảng tuôn ra vài câu châm chọc hai nghĩa khiến mọi người ngượng chín cả mặt.

Nhưng chuông cửa cứ reo liên hồi gióng giả, và Rosalie hốt hoảng chạy vào réo Caravan, khiến ông ta vội vã vứt phắt chiếc khăn ăn lao ra ngoài. Gã anh rể còn bồi thêm câu hỏi đểu cáng liệu hôm nay có phải là ngày tiếp khách của lão không, khiến ông ta lắp bắp thanh minh: “Không... chỉ là mấy gói hàng thôi; chẳng có gì đâu.”

Một bưu phẩm được mang vào, và ông ta vô tình bóc ra để lộ xấp giấy cáo phó viền đen sì. Đỏ mặt tía tai đến tận mang tai, ông vội vã nhét vội bưu phẩm giấumẹm dưới vạt áo ghi-lê.

Mẹ ông không hề nhìn thấy! Cụ đang đăm đăm dán mắt vào chiếc đồng hồ đặt trên lò sưởi, và sự ngượng ngùng dâng cao giữa bầu không khí tĩnh mịch. Quay khuôn mặt nhăn nheo về phía cô con gái, cụ bà ánh lên sự hiểm độc trong đôi mắt, cất tiếng: “Thứ Hai tới mày phải đón tao về ở cùng để tao thăm con bé nhà mày nhé. Tao nhớ nó lắm rồi đấy.” Mụ Braux hớn hở ra mặt, reo lên: “Vâng thưa mẹ, con đón mẹ ngay ạ,” trong khi bà Caravan con tái mét mặt mày, suýt ngất vì tức tối. Tuy nhiên, hai gã đàn ông bắt đầu nhập cuộc chuyện trò và chẳng mấy chốc lôi nhau ra bàn chuyện chính trị. Braux hào hứng phun ra những luận điệu cách mạng cộng sản cực đoan nhất, mắt sáng quắc, khua tay múa chân loạn xạ. “Tài sản, thưa các ngài,” hắn lớn tiếng, “chính là hành vi cướp bóc nhắm vào giai cấp lao động; đất đai thuộc sở hữu chung của toàn nhân loại; quyền thừa kế là một sự sỉ nhục và ô nhược.” Nhưng tới đây hắn bỗng khựng lại, mặt câng câng như vừa lỡ lời, rồi dịu giọng: “Nhưng hình như đây không phải lúc thích hợp để bàn mấy chuyện này nhỉ.”

Cửa bật mở và bác sĩ Chenet xuất hiện. Thoạt đầu hắn có vẻ hơi khựng lại, nhưng nhanh chóng lấy lại vẻ mặt đưa đám trơ trẽn quen thuộc, hiên ngang tiến lại gần cụ bà cất giọng tâng bốc: “Chà chà! Mẹ già; hôm nay trông mẹ khỏe hẳn ra nhỉ. Ôi, tôi chưa bao giờ mảy may nghi ngờ việc mẹ sẽ hồi phục cả; thực tình lúc bước lên cầu thang tôi đã tự nhủ thầm rằng: 'Tớ có linh cảm sẽ thấy cụ bà lại đứng vững như vại cho mà xem';” vừa nói hắn vừa vỗ nhè nhẹ vào lưng cụ: “Ấy da, cụ rắn như tượng đài Pont-Neuf thế này thì có mà sống thọ tiễn hết chúng ta cho xem.”

Hắn kéo ghế ngồi xuống, nhận cốc cà phê mời chào và nhanh chóng nhập bọn vào cuộc tranh luận của hai gã đàn ông, hùa theo Braux bởi bản thân hắn cũng từng dính líu đến Công xã Paris.

Cụ bà lúc này cảm thấy thấm mệt, bày tỏ ý định muốn lui về nghỉ. Caravan chớp thời cơ lao tới đỡ. Cụ nhìn thẳng vào mắt ông ta dõng dạc ra lệnh: “Còn mày, mày phải khuêng ngay chiếc đồng hồ và cái tủ cẩm thạch của tao lên lầu lại ngay lập tức cho tao.” “Vâng thưa mẹ,” ông ta lắp bắp hộc hơi; “vâng, con làm ngay đây ạ.” Cụ bà bèn tì tay vào con gái lững thững bước ra khỏi phòng. Hai vợ chồng Caravan đứng chết trân đờ đẫn, câm lặng chìm trong nỗi tuyệt vọng sâu thẳm nhất, trong khi lão Braux xoa tay nhấm nháp ngụm cà phê cười khoái trá.

Bỗng nhiên bà Caravan, điên cuồng vì căm phẫn, lao vào tát nước lạnh vào mặt lão, tru tréo: “Đồ ăn cướp, đồ cướp ngày, đồ khốn nạn! Tao nhổ vào mặt mày! Tao... tao sẽ——” Mụ nghẹn đắp chẳng thốt nên lời vì quá giận dữ, trong khi lão ta vẫn điềm nhiên nhấp cà phê cười ruồi.

Vừa lúc người vợ quay lại, bà Caravan trút giận lên đầu mụ chị chồng, và hai mụ đàn bà — một mụ vóc dáng đồ sộ, một mụ gầy gò ốm đói với giọng hét méo mó và đôi tay run rẩy — lao vào cào cấu cấu xé nhau bằng những từ ngữ tục tĩu nhất.

Chenet và Braux lúc này mới nhảy vào can thiệp, và gã chồng tóm lấy cổ áo vợ đẩy tuột ra ngoài cửa, quát: “Cút về mau, cái giống mồm loa mép giải”; và người ta nghe thấy tiếng hai vợ chồng cãi nhau chí chóe dọc con phố cho đến khi khuất dạng.

Ngài Chenet cũng cáo từ chuồn thẳng, để lại hai vợ chồng Caravan trơ trọi nhìn nhau đối mặt. Người chồng ngã sụp xuống ghế, mồ hôi lạnh vã ra đầm đìa trên thái dương, lẩm bẩm: “Ngày mai mình biết ăn nói sao với sếp đây hả giời?”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.