Poole
Ngày 4 • 12:58 trưa
Chuyến bay từ Greenville tới New Orleans kéo dài hơn ba tiếng một chút. Máy bay vô tình đi vào một vùng nhiễu động ở Alabama, khiến người ta có cảm giác chiếc G4 như sắp rụng khỏi bầu trời. Cái máy bay nhỏ phát ra những âm thanh chẳng ai muốn nghe khi đang ngồi bên trong: hết cót két, rên rỉ rồi lại cả phản kháng. Dù Poole có thừa kinh nghiệm đi máy bay, tình cảnh này vẫn dư sức khiến anh khiếp vía, nếu như anh để ý. Nhưng không. Tâm trí anh hoàn toàn bị hút vào cuốn nhật ký của Bishop trong suốt chuyến bay.
Poole đọc một mạch hết cuốn sổ nhỏ, lật trang càng lúc càng nhanh, và khi đọc xong, anh bắt đầu lộn lại để xem những trang đã đánh dấu, những phần có liên quan đến chi tiết về khu đất ở Nam Carolina, cái hồ, ngôi nhà nay chỉ còn là tàn tích, và cái nhà xe di động. Anh cũng gấp cả các trang nhắc đến bố mẹ Bishop.
Đến giờ, gần như trang quái nào anh cũng gấp.
Phải nhìn nhận chuyện này ra sao đây?
Lý do khiến Porter giữ lại cuốn nhật ký là gì?
Lý do thực sự khiến anh ta giữ lại nó là gì?
Anh không thể đóng vai Chúa Trời nếu không chịu kết giao cùng quỷ dữ.
Những từ ngữ ấy chẳng khác nào chuyến tàu kéo nhau về trong tâm trí Poole.
Porter dám đi xa tới mức nào?
Phần lớn những điều viết trong nhật ký có vẻ là thật, nhưng vẫn có gì đó không đúng. Không chỉ là những chi tiết nhỏ như chiếc Volkswagen mục nát trên lối đi trước nhà thay vì chiếc Porsche như trong nguyên bản. Hay cái nhà xe di động ở sân sau lại không phải ngôi nhà gạch mà Bishop nói là của hàng xóm nhà hắn, vợ chồng Carter. Ngoài ra còn một điều nữa, thâm sâu hơn. Toàn bộ cuốn nhật ký mang hơi hướm của một câu chuyện cổ tích, lấp lánh bóng dáng Beaver Cleaver*, xóa nhòa ranh giới giữa hiện thực trần trụi và thiên tiểu thuyết được dàn dựng một cách khéo léo. Đâu đó trong cái lấp lánh ấy, sự thật đang sống, anh tin chắc như vậy. Lời lẽ này là lời lẽ của một cậu bé con, ký ức này là ký ức của một đứa trẻ từng bước đi trên mảnh đất đó, từng sống ở đó, điều ấy thì không có gì phải nghi ngờ. Thế giới qua con mắt trẻ thơ rất khác với thế giới qua con mắt người trưởng thành, và câu chuyện được kể cũng vậy. Nếu cuốn nhật ký này là do một đứa trẻ viết thì còn có lý. Nhưng Poole từng trông thấy chữ viết của Bishop rồi. Anh đã nghiên cứu kĩ nét chữ của hắn. Chữ của mỗi người thay đổi theo thời gian, khi người đó ngày một trưởng thành hơn. Tuồng chữ hình thành lúc chúng ta còn nhỏ, nhưng khi ta lớn lên, một số nét trở nên vuông thành sắc cạnh hơn, và những nét gai góc ban đầu lại dần mềm mại đi. Chữ trẻ con bao giờ cũng ẩn chứa một sự mong manh, do dự, vì não bộ phải cố nhớ lại cách viết của một chữ cái hoặc một từ trước khi đặt bút viết lên giấy. Khi ta lớn, điều đó sẽ dần phai nhạt, ta viết dựa vào những gì có trong tiềm thức nhiều hơn. Chữ trẻ con trông thì có thể nguệch ngoạc, vụng về đấy, nhưng thực ra, chúng luôn được viết một cách từ tốn sau khi đứa trẻ đã suy nghĩ thấu đáo, còn người lớn thì phóng bút ào ào, hay nóng vội. Hồi ở Quantico, Poole đã tham dự loạt khóa học phân tích chữ viết, và có một điều luôn rất dễ nhận ra, đó là sự khác biệt giữa chữ trẻ con và chữ người lớn.
*Chú Thích:
Beaver Cleaver là tên của cậu bé nhân vật chính trong series phim truyền hình Mỹ Leave it to Beaver được sản xuất từ năm 1957 đến 1997. Beaver khá hiếu động và hay vướng vào rắc rối ở nhà, ở trường và khu phố, thường xuyên được bố uốn nắn, dạy dỗ kịp thời để rút ra những bài học cho bản thân.
Ngôn từ, lời lẽ, cách hành văn trong nhật ký, tất cả đều là sản phẩm mang dấu ấn đặc trưng của một đứa trẻ, nhưng riêng nét chữ lại là chữ của người trưởng thành. Poole tin chắc nếu anh so sánh cuốn nhật ký với những mẫu chữ viết hiện tại của Bishop, thực tế ấy sẽ càng được củng cố. Cuốn sổ này Bishop mới viết cách đây chưa lâu. Không chỉ trang mở đầu với những lời khiêu khích, chế nhạo cảnh sát, mà là toàn bộ nội dung bên trong, nhưng hắn lại cố làm cho câu chuyện có vẻ ngây ngô như thể do một đứa trẻ viết ra.
Ý nghĩ ấy, chính là ý nghĩ ấy, đã khiến anh hoài nghi tất cả những gì mình vừa đọc.
Poole không nghi ngờ gì về việc nhiều phần trong nhật ký là thật.
Anh cũng tin rằng những phần còn lại thì không.
Bishop viết nó không đơn giản chỉ để kể một câu chuyện. Hắn viết cuốn nhật ký là để lèo lái mạch truyện, gieo suy nghĩ vào đầu óc những ai đọc nó, xỏ mũi những người truy tìm hắn. Trong tất cả những gì vừa đọc, anh chỉ biết chắc một điều: cái thi thể bị cắt xẻ mà họ tìm thấy dưới hồ rất có thể là của Simon Carter. Nhưng còn việc làm thế nào xác anh ta lại ở đó và rốt cuộc ai mới là người giết anh ta, thì không thể trả lời được bằng cách dựa vào nội dung cuốn sổ, mà chỉ có thể dựa vào bằng chứng họ chắc chắn sẽ tìm ra.
Cuốn nhật ký không đưa ra lời giải thích nào cho năm cái xác còn lại, cũng không đưa ra lời giải thích thật sự nào cho mấy cái xác trong ngôi nhà, càng không nói về trận hỏa hoạn. Những lời giải thích duy nhất được đưa ra là những gì Bishop muốn họ tin, và tin vào điều đó thì thật nguy hiểm. Poole sẽ không làm thế.
Anh cảm thấy cần phải xem xét cuốn nhật ký dưới một góc độ hoàn toàn khác. Nên coi nó như một bản danh sách dài hơi của những điều Bishop muốn họ tin, bất luận là thật hay giả. Hiểu được lý do vì sao Bishop muốn truyền đạt thông điệp đặc biệt đó, chứ không phải toàn bộ nội dung cuốn nhật ký, sẽ đưa anh đến với sự thật.
Poole đưa tay dụi mắt và nhìn ra ngoài ô cửa sổ nhỏ. Anh ngắm những đám mây dần nhường chỗ cho những mảng xanh dưới mặt đất, đường sá và nhà cửa dần thành hình, sân bay hiện ra, rồi đến đường băng. Bánh xe máy bay đáp đất với một cú nảy rất êm, khó lòng nhận thấy được, khác hẳn với chuyến đi như tàu lượn cao tốc trước đó chỉ vài tiếng đồng hồ.
Khi họ tiến về phía nhà chứa máy bay liên bang ở đầu phía bắc của sân bay, một chiếc SUV trắng rời khỏi chỗ đỗ trong bãi xe nhỏ ở bên hông tòa nhà: chuyến xe đưa anh đến trại giam.
Poole vớ lấy cuốn nhật ký, mở cánh cửa nhỏ trên thân máy bay khi chiếc G4 còn chưa kịp dừng hẳn.