Nhật ký
Tôi không biết đồn cảnh sát nằm ở đâu.
Mà nhắc đến chuyện này, tôi cũng chẳng rõ Trung tâm Điều trị Camden tọa lạc ở vùng nào. Tôi không có chút ý niệm gì về việc mình đã ở đâu trong những tuần vừa qua.
Xe chạy suốt một chặng đường dài.
Tôi ngắm nhìn thành phố Charleston lướt qua ngoài cửa sổ. Công trình, nhà cửa ở đây không cao lắm. Có lần cha nói với tôi rằng quy định của thành phố không cho phép các nhà thầu xây dựng vươn tới quá gan bầu trời.
Tôi muốn làm tổn thương ông bác sĩ.
Cơn giận bùng lên trong tôi dữ dội hơn hết thảy những gì tôi từng trải qua trong đời, nhưng tôi cố hết sức để khắc chế nó. Cũng như thời gian, cơn giận có thể được kiểm soát, có thể được trút vào trong chai và giữ lại, có thể được mở ra khi tôi cần đến nó nhất.
Đến lúc thích hợp, tôi sẽ mở cái chai ấy, tôi sẽ tháo nút ra.
Hai thanh tra không ai nói nửa lời.
Tôi cứ nghĩ chắc sẽ có hàng tràng câu hỏi trút xuống đầu mình, nhưng hóa ra lại không phải. Họ không nói với tôi, cũng chẳng nói với nhau câu nào.
Đổi lại, tôi cũng im như thóc, để bầu không khí câm lặng tự nó nói lên tất cả.
Ngoài kia, tôi không nhận ra bất cứ điều gì ở nơi chúng tôi đi qua, thành phố chúng tôi vừa bỏ lại phía sau.
Thanh tra Welderman đã hơn một lần liếc tôi qua gương chiếu hậu. Tôi đáp lại ánh mắt của ông ta.
Chúng tôi rẽ khỏi con đường hai làn xe đã đưa chúng tôi đi suốt ba mươi phút sau khi rời thành phố. Xe rời đường nhựa và chuyển sang đường rải sỏi, cỏ dại mọc tua tủa hai bên.
Chúng tôi không dừng ở đồn cảnh sát, việc này đáng lẽ phải khiến tôi lo lắng mới đúng, nhưng tôi không cho phép điều đó xảy ra.
Xe dừng lại trước một ngôi nhà lớn xây theo kiểu nông trại nằm ở cuối con đường rải sỏi. Một người phụ nữ trạc tuổi mẹ tôi trông thấy chúng tôi, bà ta giơ tay vẫy và tiến lại gần chiếc ô tô. Bà ta có mái tóc nâu cắt ngắn, mặc đầm màu vàng chấm bi trắng.
Thanh tra Welderman một lần nữa ném cho tôi cái nhìn qua gương, rồi cả hai người đàn ông xuống xe.
Cửa sau không có tay nắm. Dù hai tay tôi không bị còng đi nữa thì tôi cũng chẳng thể tự mình mở cửa để ra ngoài.
Hai thanh tra đi tới chỗ người phụ nữ, ba người đứng nói chuyện với nhau. Tôi không nghe được bọn họ nói những gì, chỉ biết rằng xen giữa câu chuyện là những ánh mắt cứ chốc chốc lại ngoái nhìn về phía chiếc xe, về phía tôi.
Welderman đứng đó cùng người phụ nữ, còn Thanh tra Stocks cuối cùng cũng chịu tới mở cửa và giúp tôi ra khỏi xe.
Người phụ nữ khẽ há miệng. “Ôi trời, có nhất thiết phải dùng đến thứ ấy không?”
Mặt Thanh tra Stocks đỏ bừng. “Quay người lại đi, nhóc.”
Ông ta tháo còng cho tôi.
Tôi xoa nắn hai cổ tay.
Welderman mở cốp xe, lấy ra một cái túi thể thao màu xanh lục và đưa cho người phụ nữ. “Bệnh viện gom góp được ít quần áo. Không nhiều, ở đấy ít đồ vừa với nó. Nó mất tất cả trong trận hỏa hoạn rồi.”
Lúc này, người phụ nữ tiến lại, đứng trước mặt tôi và mỉm cười. “Anson, tên ta là cô Finicky. Con sẽ ở đây cùng ta một thời gian.”
Bà ta ngoái lại phía sau và gọi to: “Paul? Lại đây. Lại gặp bạn cùng phòng mới của con đi.”
Nãy giờ tôi không trông thấy anh ta, cậu con trai đứng trên hiên nhà, người dong dỏng cao. Anh ta bước ra khỏi bóng râm duy nhất thoát được vầng dương đang lên cao dần. Anh ta líu ríu bước trên lối đi rải sỏi, đón lấy chiếc túi người phụ nữ đang cầm và chìa tay kia ra. “Chào em, Anson, anh là Paul Upchurch. Rồi em sẽ thích sống ở đây cho xem.”
Thanh tra Stocks cười khẩy khi nghe anh ta nói vậy.
Cặp mắt người phụ nữ nheo lại, sau đó, nụ cười lại nở trên môi bà ta. “Dẫn cậu bé lên nhà đi, Paul. Chỉ cho cậu ấy phòng mới của mình.”
“Vâng, thưa cô.”
“Anson?” Thanh tra Welderman gọi.
Tôi ngước lên nhìn ông ta, nhìn vẻ cau có trên khuôn mặt ông ta.
“Chúng tao biết mày đã làm những gì, Anson ạ. Tất cả bọn tao đều biết. Bọn tao sẽ chẳng mất nhiều thời gian để chứng minh, chỉ cần chắp nối vài chi tiết với nhau là xong. Cứ thoải mái dỡ đồ đi. Chỗ quần áo đó là để cho mày mượn tạm thôi. Rồi mày sẽ sớm có quần áo mới, phòng mới, và cả bạn cùng phòng mới nữa.”
Tôi nhoẻn cười với ông ta và Thanh tra Stocks. “Cảm ơn các ông đã chở cháu tới đây, thưa hai thanh tra. Rất vui khi được làm quen với cả hai ông.”
Tôi đi theo Paul Upchurch.
Tôi đi theo Paul Upchurch, tiến vào trong cái miệng đang ngoác rộng của ngôi nhà nông trại.
Ngôi nhà lớn hơn nhiều so với vẻ bề ngoài. Có thể là do vô số vách tường dựng lên chia bên trong ra thành vô số phòng, hoặc có thể do ngôi nhà không quá rộng nhưng lại sâu hun hút, mà cũng có thể là sự kết hợp của cả hai lý do trên, nó khiến tôi cảm thấy như lạc vào một mê cung khi vừa đặt chân vào.
Tôi dừng lại ở phòng khách nhỏ sau khi đi qua sảnh, rồi ngoái đầu nhìn về phía cửa trước. Paul đã dặn tôi cứ để cửa mở.
Hai ông thanh tra vẫn đang ở ngoài đó, say sưa nói chuyện với cô Finicky. Thế giới bên ngoài dường như tươi sáng hơn, chỉ cần bước qua ngưỡng cửa kia sẽ khác. Bầu không khí trong ngôi nhà này phảng phất mùi của sự tĩnh lặng, bất biến - không phải mùi hôi hám lâu ngày hay ẩm mốc, chỉ là tĩnh lặng thôi. Tôi không khỏi liên tưởng đến không khí bị giữ lại trong một chiếc quan tài sau khi nắp quan tài bị đóng đinh.
“Tên của cô Finicky là gì ạ?”* Tôi hỏi.
*Chú Thích:
“Finicky” là họ của nhân vật.
Paul dừng ở chân cầu thang và ngoái nhìn tôi. “Ai quan tâm chứ? “
“Em.”
Anh ta nhún vai. “Không biết. Bà ta chỉ đơn giản là cô Finicky thôi, từ xưa đã thế. Finicky, Finicky, Finicky. Không phải Fin hay bà Finicky, thưa cô may ra còn được, chứ gọi cộc lốc là cấm tiệt. Những đứa khác chắc là nghĩ ra khối tên hay để đặt cho bà ta sau ngần ấy năm, nhưng đố đứa nào dám gọi trước mặt bà ta đấy.”
“Những đứa khác ư?”
Anh ta lại dừng chân khi lên đến bậc thang thứ năm, còn hai bậc nữa là tới chiếu nghỉ. “Chú mày biết đây là nơi nào, đúng không? Bọn họ nói với chú mày rồi chứ? Lúc thì họ nói, lúc lại không. Bọn anh ở đây đều lết qua ngưỡng cửa kia sau khi kết thúc chặng đường riêng của mỗi người. Vài đứa đến đây khi đã nếm đủ, nhưng cũng có những đứa còn chưa biết mùi đời. Trông chú mày không có vẻ sợ sệt, hãi hùng như hươu trước mũi xe, thế nên anh đoán chú mày đã quen với việc bị lùa đi khắp nơi.”
Anh ta đi xuống, cầm lấy bàn tay tôi và lắc thật lực. “Người anh em à, chú mày đã gia nhập Hệ thống bảo trợ rồi đấy. Xin chúc mừng! E là không có bánh trái hay cờ quạt chào đón chú mày đâu, chỉ có mỗi anh già này thôi, nhưng thế vẫn tốt chán, còn nhiều điều khác tồi tệ hơn mà chú mày có thể gặp phải khi đặt chân vào nhà người lạ. Chắc chú mày tưởng sẽ có video hướng dẫn, sổ tay hay gì đó, nhưng ngân sách eo hẹp lắm. Nếu mà có video thật thì anh muốn người giới thiệu là Rod Serling. Ông ấy “chất” cực. Phong cách cổ điển nhưng vẫn “chất”.”
Paul lại nhảy phóc lên cầu thang, tới chiếu nghỉ thì dừng lại, anh ta xoay tròn, hai tay giơ cao, giọng hạ xuống một tông. “Có một chiều không gian thứ năm tồn tại ở chốn xa xôi, ngoài tầm hiểu biết của con người. Chiều không gian đó bao la như vũ trụ, bất tận như vô cực. Đó là miền đất giao thoa giữa ánh sáng và bóng tối, giữa khoa học và mê tín, giữa vực thẳm của nỗi sợ và đỉnh cao của tri thức nhân loại. Đó là chiều không gian của trí tưởng tượng. Một nơi chúng ta gọi là…”* Anh ta ngừng xoay và bám vào lan can cho khỏi ngã. “… Nhà Finicky dành cho những đứa trẻ bất kham.”
*Chú Thích:
Đây là đoạn giới thiệu mở đầu tập 1, phần 1 của series phim khoa học viễn tưởng The Twilight Zone (tựa Việt là Miền ảo ảnh hoặc Miền hư ảo) được sản xuất năm 1959, do đạo diễn Rod Serling đọc.
Tôi không nhịn được, phá lên cười. Tôi chưa bao giờ nghe thấy ai tuôn ra một tràng dài dằng dặc mà lại liến thoắng đến như thế.
Anh ta hất hàm về phía đầu chiếc cầu thang lớn. “Đi tiếp thôi.”
Trên tường treo nhiều ảnh trẻ con đến nỗi gần như che kín cả lớp giấy dán in hoa bên dưới. Ít nhất cũng phải một trăm tấm, có khi còn nhiều hơn. Cả con trai lẫn con gái, đủ mọi lứa tuổi, đứa thì mỉm cười, đứa lại không, nhưng chúng đều đứng trên lối đi rải sỏi, ngôi nhà to đùng lù lù sau lưng.
Paul chỉ vào một tấm có khung màu nâu, ở gần phía trên cùng. “Anh ở ngay kia kìa. Đừng lo, chẳng bao lâu nữa sẽ đến lượt chú mày đứng trước ống kính thôi. Bọn anh đều thế cả.”
Có điều gì đó khác lạ trong cái cách anh ta nói ra câu ấy, trong giọng điệu, trong cách anh ta hạ giọng về cuối, những suy tư vẫn còn vương vấn hơi lâu sau khi lời đã dứt.
“Ở đây có bao nhiêu đứa trẻ ạ?”
Paul lên tới đầu cầu thang và quay người lại. “Chú mày là số tám, anh bạn ạ. Ba gái, năm trai, độ tuổi từ bảy đến mười sáu. Anh đây mười lăm. Chỉ ba năm nữa thôi là bọn họ sẽ buộc phải thả anh về với thế giới ngây thơ khờ dại ngoài kia. Cầu Chúa rủ lòng thương bọn họ.”
Tôi bước lên bậc thang trên cùng, trước mắt tôi mở ra một hành lang vừa dài vừa hẹp. Ở đây cũng treo đầy ảnh, phủ kín gần như từng centimet trên tường, xen kẽ trong đó là những cánh cửa đóng kín chạy dọc hai bên hành lang.
Paul trỏ vào cánh cửa phía bên trái đang đóng im ỉm. “Đó là phòng Vincent Weidner. Bọn anh không nói chuyện với Vincent Weidner. Chú mày tránh xa Vincent Weidner thì nó cũng sẽ tránh chú mày. Như thế có lẽ là tốt nhất cho tất cả mọi người.”
Anh ta đi qua hành lang, tới mở cánh cửa thứ hai bên phải. “Đây là phòng của chúng ta, nhà này chỉ có vài ba đứa được ở một mình một phòng thôi, còn đâu ở theo cặp hết. Như vậy vẫn còn tốt chán so với một số nơi khác anh từng sống. Hồi trước, anh từng phải ở chung với sáu đứa nữa, mà phòng còn bé hơn thế này cơ. Cứ ngủ là y như rằng có đứa đạp vào mặt mình.” Anh ta chui tọt vào trong, rồi lại thò đầu ra. “Phòng tắm nằm ở phía cuối hành lang bên này. Con trai bên phải, con gái bên trái. Khi nào xong việc và ra ngoài thì cứ để ngỏ cửa để mọi người biết bên trong không có ai. Bọn anh trữ diêm trong tủ thuốc để xử lý mùi hương để lại sau một trận “oanh tạc” hoành tráng, còn tạp chí thiếu nữ số mới nhất thì cất trong cái túi nhựa giấu sau bồn rửa, dùng xong thì nhớ đóng kín mép túi ziplock lại. Chả ai thích xem ảnh khiêu dâm ướt nhoét đâu. Nhớ cất tất cả vào đúng chỗ cũ khi đi ra, không là sẽ phải gánh chịu hậu quả đấy. Bọn anh thay phiên nhau dọn dẹp. Lịch phân công được dán trên cái tủ lạnh ở dưới nhà.”
Paul lại mất hút trong phòng. “Chú mày có vào không?”
Tôi đứng ngây ra đó một lúc, nhìn ngang ngó dọc khắp hành lang, xem những bức ảnh treo tường. Cô Finicky chưa đến nỗi già, tôi tự hỏi không biết bà ta làm công việc này từ khi nào, và có bao nhiêu đứa trẻ đã từng đi qua nơi đây.
Tôi bước vào phòng.
Có giường tầng.
Xưa nay tôi luôn mơ ước được ở giường tầng.
Chiếc túi thể thao đựng chỗ quần áo mượn tạm đang đặt ở chính giữa cái giường tầng dưới.
“Anh đây là ma cũ, nên anh chính thức tuyên bố cái giường phía trên thuộc về anh.” Paul nói. “Nếu chú mày trụ được ở đây lâu hơn anh, có thể một ngày nào đó nó sẽ là của chú mày. Hãy dám ước mơ, anh bạn thân mến ạ. Dám ước mơ.”
Cũng như ngoài hành lang, các bức tường trong phòng treo đầy tranh ảnh. Nhưng khác với ngoài hành lang, ảnh ở đây không phải ảnh chụp mà là tranh vẽ, tranh biếm họa, và cả những bức ký họa. “Tất cả đều là của anh hết ạ?”
Paul gật đầu đầy tự hào. “Mỗi bức tranh ở đây đều là tác phẩm gốc của Paul Upchurch.” Anh ta băng qua phòng, tới bên cái bàn viết cỡ nhỏ, cầm lấy một cuốn sổ ký họa và mang tới chỗ tôi. “Anh tự sáng tác truyện tranh đã được một thời gian rồi. Truyện kể về một cô gái liên tục vướng vào đủ thứ rắc rối. Tuy viết về con gái nhưng như thế không có nghĩa là anh “lệch pha” hay gì đâu nhé. Cô nàng đặc chất tomboy, lại có chút gợi cảm, đúng không? Anh đã tiến hành điều tra thị trường một cách rất nghiêm túc và quyết định rằng nếu chọn nhân vật chính là nữ thì truyện sẽ thu hút được đông đảo độc giả.” Anh ta gõ lên một bên đầu. “Lúc nào cũng phải tính toán… chú mày cần cân nhắc đến những yếu tố đó khi viết truyện, vì anh chắc rằng các nhà xuất bản cũng vậy.”
Tôi ngắm nhìn tranh vẽ cô gái ấy. Trông thật đáng yêu. Sàn sàn tuổi bọn tôi, khóe miệng khẽ cong lên thành nụ cười tủm tỉm tinh nghịch, cặp mắt sáng long lanh. Sự tỉ mỉ trong từng chi tiết của bức tranh quả là hết sức tuyệt vời. Tôi cũng hay đọc truyện tranh và có chút hiểu biết về lĩnh vực này. Tranh của Paul đẹp không kém - nếu không nói là đẹp hơn – hầu hết những bức tranh tôi từng xem.
“Anh đã nghĩ ra tên cho cuốn truyện chưa?”
Hai mắt Paul bừng sáng. “Anh đã nghĩ ra tên chưa ấy à, dĩ nhiên là rồi chứ. Anh gọi nó là Những phi vụ xúi quẩy của Maybelle Markel.”
“Anh giỏi quá.”
Paul cầm lấy tờ giấy và hôn lên bức tranh. “Cô ấy giống như đứa con gái anh chưa từng có được. Một ngày nào đó bé yêu này sẽ mang về cho bố cả một gia tài.”
Đúng lúc đó tôi nghe thấy một tiếng nức nở, tiếng kêu nghẹn ngào, vẳng lại từ phía sau cánh cửa đóng kín bên kia hành lang.
Âm thanh ấy, tiếng kêu ấy tôi biết.
Paul đặt bức tranh xuống bàn rồi nhìn ra cửa theo hướng tôi đang nhìn. “Đứa con gái đó tới đây ngày hôm qua, còn chưa chịu ra khỏi phòng. Đêm qua nó khiến gần như cả đám mất ngủ vì cứ khóc tu tu suốt, nhưng bọn anh đều cố gắng thông cảm với người mới. Hai đứa con gái ở đây thay phiên nhau sang nằm cùng để nó đỡ cô đơn.” Paul ngừng nói, tâm trí đã trôi dạt tới tận phương nào. “Có nhiều trung tâm bảo trợ rất khắc nghiệt. Rồi nó sẽ thích ở đây thôi. Và chú mày cũng thế. Cô Finicky nói tên đứa con gái kia là Libby thì phải.”
Tôi tiến thêm một bước về phía cửa.
Tôi cảm thấy Paul níu lấy cánh tay mình. Ngón tay anh ta siết chặt.
Giọng anh ta hạ thấp, nhẹ tựa hơi thở. “Anh nghĩ ở đây bọn họ nghe lén đấy. Nhớ cẩn thận lời ăn tiếng nói của mình.”