Porter
Ngày 4 • 8:01 tối
Chuyến đi tưởng dài mà hóa ra lại chóng vánh đến bất ngờ.
Porter đã hơn một lần liếc sang bên cạnh và bắt gặp kim đồng hồ đo tốc độ chỉ hẳn vào phần vạch đỏ, dù Sarah một mực khẳng định chiếc BMW của cô có thể chống được những ánh mắt dò xét của cảnh sát.
Khi ánh đèn thành phố Chicago dần hiện ra, Sarah cuối cùng cũng cho xe đi chậm lại, nhưng không phải vì cô sợ mà là vì họ gặp tắc đường.
“Rẽ vào lối ra 26A.” Jane lên tiếng. Mụ im như thóc trong suốt chuyến đi.
Lúc mới lên đường, Porter đã cố gợi chuyện mụ, dẫn dụ bằng cách đặt những câu hỏi dẫn dắt xoay quanh cuốn nhật ký của Bishop: vợ chồng Carter, Franklin Kirby và Riggs, chồng mụ, thậm chí là cả Bishop. Nhưng mụ không nói gì mà chỉ nhìn anh bằng ánh mắt sắc lạnh hoặc quay về phía cửa sổ, ngắm quang cảnh đồng quê ngút ngàn.
“Cuối cùng bà “tám” cũng chịu mở miệng rồi kìa.” Sarah nói, nhập vào làn đường bên phải. “Chính xác thì chúng ta đi đâu đây?”
“Rẽ vào lối ra 26A.” Mụ nhắc lại.
“26A, rồi. Sau đó thì sao?”
Mụ làm thinh.
Sarah đảo tròn mắt. “Được thôi, nhưng nhớ nhắc tôi để tôi biết mà rẽ vào đúng làn, tránh cảnh kẹt xe.”
Thành phố mỗi lúc một gần lại và chẳng mấy chốc đã ôm trọn lấy họ, những tòa cao ốc sừng sững vây quanh.
Bầu không khí trông thật lạnh lẽo.
Tuyết mới rơi cách đây chưa lâu, phủ lên vạn vật một tấm màn trắng lóa. Porter biết, chỉ đến sáng mai thôi là tuyết trên đường cao tốc sẽ chuyển sang màu xám xịt, lốm đốm những vệt đen, nhưng còn bây giờ, lớp tuyết khô giòn mang sắc trắng tinh khôi. Áo khoác của anh vẫn để trong cốp xe, anh không cần đến nó lúc ở New Orleans. Sarah vẫn đang mặc áo cộc tay.
Chiếc BMW giảm tốc độ, Sarah cho xe đi theo con dốc ngoằn ngoèo chạy dưới tuyến cao tốc. Tuyết đã được dọn sạch nhưng anh vẫn nhắc cô cẩn thận vì không biết cô có nhiều kinh nghiệm lái xe trong điều kiện thời tiết này hay không.
“Đến chân dốc, rẽ vào đại lộ Independence và đi xuôi theo hướng nam, đến đại lộ Hamilton.”
Porter biết khu vực ấy. Họ đang hướng tới West Garfield và K-town. “Khu này không tốt đẹp gì đâu.”
“Chúng ta không đến đó để tham quan. Mà hơn nữa là trễ giờ rồi đấy.”
“Mới có tám giờ hai phút.” Porter đáp.
“Anson đã nói rất rõ rồi.”
“Tôi không thích chuyện này chút nào.” Sarah nói, đưa mắt ngó những gã đàn ông đứng ở góc phố nhìn theo khi chiếc xe chạy qua.
Đại lộ South Independence hơi ngoặt sang phải và trở thành đại lộ North Hamilton.
“Rẽ trái ở phố Washington.”
Sarah làm theo lời mụ.
“Kia. Tạt sang bên kia. Vòng ra phía sau.”
Porter ngả đầu vào cửa kính xe và ngước nhìn. “Đây là Khách sạn Guyon đúng không nhỉ? Tôi tưởng nơi này bị phá từ lâu rồi.”
Jane đăm đăm nhìn ra ngoài cửa sổ như thể vừa trông thấy người bạn cũ. “Không ít người đã tìm cách dẹp nó đi, nhưng cô nàng sống dai như đỉa. Đuổi sạch bách lũ kinh doanh bất động sản như đuổi muỗi. Chính phủ liên bang công nhận công trình này là di tích lịch sử từ năm 85. Cô nàng sẽ chẳng đi đâu hết.”
Sarah đánh xe vào bãi phía sau khách sạn và chuyển sang chế độ đỗ. “Giờ thì sao?”
“Giờ thì ta vào trong.”
“Vào thế nào được? Đóng ván kín hết rồi còn đâu.”
Porter chăm chú quan sát tòa nhà. Sarah nói đúng. Những tấm ván gỗ che kín mọi cửa lớn cửa nhỏ từ tầng một đến tầng năm. Không có cách nào tiếp cận được tầng năm, cầu thang thoát hiểm đã bị dỡ bỏ từ lâu. Chưa hết, tòa nhà còn được bao bọc bởi một hàng rào mắt cáo. Những nơi như thế này đúng là thiên đường của các băng đảng và đám vô gia cư.
“Như tôi đã nói, chúng ta muộn giờ rồi đây. Cho tôi ra khỏi xe đi.”