Quận Phong Lan
Marbella, Tây Ban Nha
Vẫn là giấc mơ đó, giấc mơ khiến Kate vô cùng dễ chịu. Cô gần như cảm thấy giờ mình có thể kiểm soát nó, như một đoạn video mà cô có thể tua và xem lại theo ý mình. Nó là thứ duy nhất còn mang đến cho cô niềm vui.
Cô nằm trên giường ở Gibraltar, trên tầng hai của một tòa biệt thự chỉ cách bờ biển vài bước chân. Một luồng gió mát thổi qua cánh cửa đang mở ra hiên, đẩy mấy tấm màn trắng mỏng bằng vải lanh vào phòng, rồi để chúng rủ lại xuống tường. Cơn gió dường như trôi dạt vào rồi rút ra cùng nhịp với những ngọn sóng phía dưới và hơi thở dài, chậm rãi của cô trên giường. Đây là một khoảnh khắc hoàn hảo, mọi thứ đều hài hòa, như thể cả thế giới là một trái tim duy nhất, cùng đập một nhịp.
Cô nằm ngửa, đăm đăm nhìn trần nhà, không dám nhắm mắt. David nằm sấp cạnh cô. Cánh tay vạm vỡ của anh đặt bừa ngang bụng cô, che gần hết vết sẹo lớn ở đó. Cô những muốn chạm vào tay anh, nhưng cô không dám làm vậy – hay bất kỳ hành động nào có thể kết thúc giấc mơ này.
Cô cảm thấy cánh tay dịch chuyển một chút. Cử động nhẹ nhàng đó dường như phá vỡ cả khung cảnh, như một trận động đất, rồi đánh sập tường và trần nhà. Căn phòng rung lên lần cuối và phai về màu đen, về bóng tối, “phòng giam” chật hẹp mà cô đang ở tại Marbella. Sự thoải mái mềm mại của chiếc giường cỡ lớn biến mất và cô lại nằm trên tấm nệm thô ráp của cái giường hẹp. Nhưng... cánh tay vẫn ở đó. Không phải của David. Một cánh tay khác. Nó đang chuyển động, với ngang bụng cô. Kate đông cứng người. Bàn tay vòng qua người, vỗ lên túi cô, rồi lần mò bàn tay nắm chặt của cô, cố lấy ống xi lanh. Cô tóm lấy cổ tay tên trộm và vặn mạnh hết sức có thể.
Một người đàn ông hét lên đau đớn trong khi Kate đứng dậy, giật sợi xích ở cái đèn phía trên và nhìn xuống...
Martin.
“Hóa ra họ cử ba đến.”
Cha nuôi của cô chật vật đứng lên. Ông đã ngoài sáu mươi và vài tháng vừa qua đã làm tổn hại đến cơ thể ông. Trông ông phờ phạc, nhưng giọng nói vẫn dịu dàng, thân mật. “Con biết đấy, đôi khi con có thể kích động thái quá, Kate ạ.”
“Con đâu phải người đột nhập vào phòng người khác rồi vỗ vỗ họ trong bóng tối.” Cô giơ xi lanh lên. “Sao ba lại cần cái này? Ở đây đang diễn ra chuyện gì vậy?”
Martin xoa xoa cổ tay và nheo mắt nhìn cô, như thể bóng đèn duy nhất đang đu đưa trong phòng khiến ông lóa mắt. Ông quay lại, cầm một cái bịch lên khỏi chiếc bàn nhỏ trong góc và đưa cho cô. “Đội vào.”
Kate lật nó lại. Đó không phải là cái bịch – nó là một chiếc mũ rộng vành mềm màu trắng. Martin hẳn đã lấy nó trong đống đồ bỏ lại của một trong những vị khách nghỉ mát ở Marbella. “Tại sao?” Kate hỏi.
“Con không thể cứ tin ta được à?”
“Rõ là không.” Cô tiến về giường.
Giọng Martin ngang phè, lạnh lùng và vô cảm. “Nó dùng để che mặt con. Có lính gác bên ngoài tòa nhà này và nếu thấy con, họ sẽ bắt giam con hay tệ hơn, bắn bỏ ngay lập tức.” Ông bước ra khỏi phòng.
Kate chần chừ một lúc rồi theo ông, giữ chặt chiếc mũ bên sườn. “Đợi đã. Sao họ lại bắn con? Ba đưa con đi đâu thế?”
“Con muốn câu trả lời?”
“Vâng” Cô ngập ngừng. “Nhưng con muốn kiểm tra bọn trẻ trước khi đi.”
Martin liếc nhìn cô, rồi gật đầu.
Kate mở hé cửa vào căn phòng nhỏ của hai thằng bé và thấy chúng đang làm việc mà chúng đã dành chín mươi chín phần trăm đời mình để làm: viết lên tường. Với đa số những bé trai từ bảy đến tám tuổi, mấy nét nguệch ngoạc đó thường là khủng long và lính tráng, nhưng Adi và Surya lại gần như tạo nên một tấm thảm từ bức tường này sang bức tường kia với toàn các phương trình và ký hiệu toán học.
Hai thằng bé người Indonesia vẫn biểu hiện rất nhiều tính cách đặc trưng của bệnh tự kỷ. Chúng hoàn toàn chìm đắm trong tác phẩm của mình; chẳng đứa nào nhận thấy Kate vào phòng. Adi đang đứng thăng bằng trên chiếc ghế mà nó đã đặt trên một cái bàn, rướn lên viết vào một trong những chỗ trống cuối cùng trên tường.
Kate lao tới kéo nó khỏi cái ghế. Thằng bé huơ cây bút chì trong không trung và phản kháng bằng những từ Kate không nghe ra được. Cô dịch ghế về vị trí đúng của nó: trước bàn, không phải trên mặt bàn.
Cô ngồi xổm xuống và giữ lấy hai vai Adi. “Adi, cô đã bảo con rồi: đừng có xếp đồ rồi đứng lên đó.”
“Tụi con hết chỗ rồi.”
Cô quay lại Martin. “Kiếm thứ gì cho hai đứa viết đi ba.”
Ông nhìn cô đầy hoài nghi.
“Con nghiêm túc đấy.”
Ông rời đi, Kate lại tập trung vào hai thằng bé. “Tụi con đói không?”
“Lúc nãy họ có đem bánh kẹp tới.”
“Hai đứa đang làm gì thế?”
“Không nói cho cô Kate được.”
Kate nghiêm trọng gật đầu. “Phải. Tuyệt mật.”
Martin trở lại và đưa cô hai tập giấy ghi chép màu vàng.
Kate với người ôm lấy cánh tay Surya để chắc chắn nó chú ý đến cô. Cô giơ hai tập giấy lên. “Từ giờ, con viết lên mấy cái này, hiểu chưa?”
Cả hai thằng bé gật đầu và cầm lấy tập giấy. Chúng lật lướt qua, săm soi từng trang xem có vết gì không. Khi đã hài lòng, chúng bước về bàn, leo lên ghế rồi tiếp tục im lặng làm việc.
Kate và Martin rời khỏi phòng, không nói gì nữa. Martin dẫn Kate đi xuôi hành lang. “Con nghĩ cứ để chúng tiếp tục như vậy là khôn ngoan à?” Martin hỏi.
“Chúng không thể hiện ra, nhưng chúng đang sợ. Và bối rối. Hai đứa thích toán bởi nó giúp chúng không nghĩ về những chuyện khác.”
“Phải, nhưng cứ để chúng bị ám ảnh như vậy có tốt không? Làm thế không khiến chúng tệ hơn sao?”
Kate dừng bước. “Tệ hơn gì cơ?”
“Nào, Kate...”
“Những người thành đạt nhất thế giới đều đơn giản là bị ám ảnh với thứ gì đó – thứ gì đó thế giới cần. Hai thằng bé đã tìm ra một thứ hữu ích mà chúng thích. Điều đó tốt cho chúng.”
“Ta chỉ có ý... là chúng sẽ thấy phiền nếu chúng ta phải đưa chúng đi.”
“Chúng ta sẽ đưa hai đứa đi à?”
Martin thở dài nhìn đi chỗ khác. “Đội mũ lên đi.” Ông dẫn cô dọc theo một hành lang nữa và quẹt thẻ khóa vào cánh cửa cuối hành lang. Ông mở cửa, ánh nắng gần như khiến Kate mờ cả mắt. Cô giơ cánh tay lên và cố bắt kịp Martin.
Quang cảnh dần rõ nét. Họ đã ra khỏi tòa nhà một tầng ngay trên bờ biển, ở rìa khu nghỉ dưỡng. Bên phải cô, ba tòa tháp nghỉ dưỡng trắng xóa vươn cao trên các tán cây nhiệt đới tươi tốt và những mảnh đất từng được trông nom cẩn thận. Hai tòa tháp khách sạn phù phiếm tạo nên sự tương phản rõ rệt với hàng rào mắt lưới cao sáu mét có kẽm gai bao quanh khu phức hợp. Trong ánh sáng ban ngày, khu nghỉ dưỡng này trông như đã bị biến thành một nhà tù. Hàng rào được dùng để giữ người ta ở trong – hay ngoài? Hay cả hai?
Với mỗi bước chân, thứ mùi nồng đậm vương trong không khí dường như càng hăng hơn. Đó là gì? Bệnh tật? Cái chết? Có thể, nhưng còn một thứ khác. Kate lướt mắt qua phần đất gần chân tháp, tìm kiếm nơi tỏa mùi. Một loạt những chiếc lều trắng dài che khuất mấy cái bàn nơi người ta dùng dao xử lý thứ gì đó. Cá. Chính là mùi cá, nhưng chỉ một phần thôi.
“Chúng ta đang ở đâu thế?”
“Khu ổ chuột Phong Lan Marbella.”
“Một quận Phong Lan?”
“Những người trong kia gọi nó là khu ổ chuột, nhưng đúng thế.”
Kate tiến bước để theo kịp. Cô giữ nguyên chiếc mũ của mình. Nhìn thấy nơi này và đám rào chắn đã ngay lập tức khiến cô coi trọng lời nói của Martin hơn.
Cô liếc về phía tòa nhà spa mà họ vừa bước ra. Tường và mái của nó được bao bọc bằng một lớp phủ xám xịt. Chì là suy nghĩ đầu tiên của Kate, nhưng trông nó rất lạ – bên bờ biển, tòa nhà nhỏ màu xám, bị chì bao phủ, nằm trong bóng mấy tòa tháp trắng bóng.
Khi họ đi dọc con đường mòn, Kate thoáng thấy khu trại mấy lần nữa. Trong mỗi tòa nhà, ở mỗi tầng, đều có vài người đang đứng nhìn ra cánh cửa trượt bằng kính, nhưng lại không có bất kỳ ai ở ban công. Rồi cô nhìn thấy lý do vì sao: một vết sẹo bạc lởm chởm chạy dọc hết phần khung kim loại của mỗi cánh cửa. Chúng đã bị hàn chặt lại.
“Ba đưa con đi đâu vậy?”
Martin ra hiệu về tòa nhà một tầng phía trước. “Đến bệnh viện.” Hóa ra, “bệnh viện” là một nhà hàng lớn bên bờ biển trong khu nghỉ dưỡng.
Ở đầu kia khu trại, phía sau hai tòa tháp trắng, một đoàn xe tải hộ tống chạy động cơ diesel ồn ào, gầm lên ở cổng rồi dừng lại. Kate đứng lại quan sát. Mấy chiếc xe tải đều đã cũ, giấu các kiện hàng sau tấm vải bạt xanh đang lật phật trên rìa khung xe. Gã tài xế đi đầu gào lên với đám lính canh, rồi cánh cổng mắt lưới tách ra để chiếc xe tải đi vào.
Kate nhận thấy mấy lá cờ xanh dương treo trên tháp bảo vệ ở hai bên cổng. Ban đầu, cô tưởng đó là cờ Liên Hợp Quốc – nó có màu xanh dương nhạt, giữa có hình trắng. Nhưng hình trắng ở giữa không phải là quả địa cầu màu trắng với hai cành ô liu bao quanh. Đó là một cành lan. Mấy cái lá trắng đều đối xứng, nhưng hoa văn đỏ vươn ra từ chính giữa lại không đều nhau, giống như những tia nắng hé ra từ sau mặt trăng tối tăm trong nhật thực.
Mấy chiếc xe tải đỗ lại ngay sau cánh cổng và những tay lính bắt đầu kéo người ra – đàn ông, phụ nữ, thậm chí còn có vài đứa trẻ. Tay mỗi người đều bị trói, nhiều người vừa chống cự lại đám bảo vệ, vừa la hét bằng tiếng Tây Ban Nha.
“Họ đang vây bắt những người sống sót,” Martin thì thầm, như thể những người kia có thể nghe thấy ông từ xa. “Bị bắt gặp ở ngoài là trái luật.”
“Tại sao?” Một ý nghĩ khác hiện lên trong Kate. “Có những người sống sót... không uống Phong Lan sao?”
“Phải. Nhưng… họ không như những gì chúng ta đã trông đợi. Rồi con sẽ thấy.” Ông dẫn cô đi hết quãng đường còn lại để đến nhà hàng, rồi sau đôi lời với tay lính gác, họ tiến vào – trong một buồng khử độc lót ni lông. Các ống phun ở trên và mỗi bên mở ra, xịt từ trên xuống dưới người họ một làn sương hơi châm chích. Đây là lần thứ hai Kate cảm thấy mừng vì có mũ. Trong góc buồng ni lông, đèn giao thông thu nhỏ chuyển từ đỏ sang xanh và Martin đi qua tấm ni lông. Ông dừng lại ngay trước ngưỡng cửa. “Con không cần mũ đâu. Mọi người ở đây đều biết con là ai.”
Khi Kate kéo mũ xuống khỏi đầu, cô lần đầu nhìn thấy toàn cảnh căn phòng rộng lớn – nơi từng là một phòng ăn. Cô gần như không thể tin được cảnh tượng đang trải ra trước mắt mình. “Đây là gì thế?”
Martin nói khẽ. “Thế giới không như những gì họ miêu tả trên radio. Đây là hình dạng thật của Dịch bệnh Atlantis.”