Dịch Bệnh Atlantis

Lượt đọc: 672 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 66

❊ ❊ ❊

Địa Trung Hải

Khi David và Kate trở lại phòng khách, hai nhà khoa học đang ở đó đợi họ, ngồi cạnh nhau trên hai chiếc sofa bọc da trắng, nét mặt bình thản như thể thế giới đang không chết mòn vì một đại dịch toàn cầu và họ không bị buộc tội giết người. David lấy làm kinh ngạc với họ. Anh không chắc mình cảm thấy ghen tị hay chỉ đơn thuần là ngạc nhiên trước vẻ điềm tĩnh của họ.

“Chúng tôi sẵn sàng tiếp tục rồi. Tất nhiên là nếu hai người cũng sẵn sàng,” Janus nói.

Kate và David ngồi xuống hai chiếc ghế bành bên cạnh sofa. Căn phòng ép ván gỗ và lắp cửa kính giờ chỉ được ba ngọn nến trên bàn cà phê soi sáng, bầu không khí đã chuyển từ hội nghị khoa học sang một tiệc ngủ đêm khuya.

David lật tờ giấy ghi mật mã của Martin trên bàn cà phê, đặt nó đối diện những người còn lại như thể đó là một tấm bảng cầu cơ.

Mọi người dành chút thời gian đọc lại tờ ghi chép.

PIE Immaru?

535...1257 = Toba thứ hai? Hệ thống phát tán mới?

Adam => Lụt/A$ sụp đổ => Toba 2 => KBW

Alpha => Không có Delta? => Delta => Omega

70K năm trước => 12,5K năm trước => 535...1257 => 1918...1979

Alpha thiếu dẫn tới kho báu Atlantis?

“Còn vài chỗ tôi không hiểu,” David nói. “Tôi tin hai dòng đầu chỉ đơn giản là chú thích – một cái là về PIE. Như đã thảo luận, tôi khá chắc Martin tin Immaru chính là PIE, người Ấn-Âu nguyên thủy, hay ít nhất cũng là một nhóm hậu sinh. Ghi chú còn lại nói tới một sự kiện năm 535 và xảy ra một lần nữa vào năm 1257. Tôi biết sự kiện đó là gì và lát nữa sẽ giải thích. Rồi ba dòng này là một bảng niên đại – một dòng thời gian chồng chéo và tương ứng với tấm thảm thêu Tây Tạng mà Kate đã nhìn thấy ở tu viện Immaru. Nhưng tôi tin bảng niên đại của Martin có thể chưa đầy đủ. Phân tích từng bước nhé.”

David chỉ vào chữ Adam. “Adam, Alpha, 70K năm trước.”

“Trong nghiên cứu,” Kate nói, “alpha biểu trưng cho đối tượng đầu tiên được thử nghiệm lâm sàng – đối tượng đầu tiên tiếp nhận liệu pháp thử nghiệm.”

“Phải,” David nói. “Anh nghĩ Adam là người đầu tiên nhận được gene Atlantis. Đó là sự kiện trận lụt lửa trong tấm thảm thêu, cũng là sự kiện lớn đầu tiên trong bảng niên đại của Martin. Tiếp theo là Lụt, A$ sụp đổ, 12.500 năm trước. Anh tin A$ viết tắt cho Atlantis. Vậy là Lụt, Atlantis sụp đổ. Hồi anh ở trong công trình Atlantis tại Gibraltar, có một căn phòng với một loạt... phim chiếu nổi. Anh tin chúng diễn tả sự kiện này – sự sụp đổ của Atlantis dưới chân Vách đá Gibraltar. Trong đoạn phim, con tàu Atlantis lềnh bềnh trên mặt nước, rồi tiến vào bờ biển, ngay ngoài một vùng cự thạch tiền sử. Hai người Atlantis mặc đồ bảo hộ bước ra khỏi con tàu và xen ngang một nghi lễ thổ dân tiền sử để giải cứu một người Neanderthal. Ngay khi họ trở về, con tàu bị một cơn thủy triều đánh trúng, kéo vào đất liền, phá hủy hết thành cổ. Khi nước rút và kéo tàu ra biển, các vụ nổ bùng lên tàn phá con tàu.”

“Nó bị chôn vùi ở đó trong gần mười ba ngàn năm, cho tới năm 1918, khi bố em giúp Immari tìm thấy nó,” Kate nói.

“Chính xác. Chỗ khó hiểu là đoạn chú thích: Không có Delta?”

“Delta tượng trưng cho sự biến đổi,” Kate nói. “‘Không có Delta’... Vậy là một sự biến đổi nào đó đã không diễn ra?”

“Nếu xâu chuỗi mật mã của Martin, tấm thảm thêu và những gì anh đã thấy vào đêm ở Gibraltar... Trong hai trận lụt đầu tiên trên tấm thảm, người Atlantis tương tác trực tiếp với loài người. Cứu giúp hoặc cảnh báo họ. Điều này mang hàm ý một mối quan hệ trực diện.”

Kate ngả người ra ghế. “Nhỡ đâu bằng cách nào đó, người Atlantis đã dẫn dắt quá trình tiến hóa của loài người thì sao? Như một thử nghiệm được can thiệp định kỳ – và 12.500 năm trước, họ đã không thể can thiệp vì con tàu bị nổ: sự sụp đổ của Atlantis.”

“Anh tin Martin đã nghĩ như vậy.” Một ý nghĩ chợt nảy ra trong đầu David; anh có nắm giữ mảnh ghép còn lại không?

Ở Nam Cực, khi David nằm trong ống, người Atlantis đã thả Dorian ra đầu tiên – cho hắn lợi thế bắt đầu trước. Người Atlantis theo dõi David và Dorian đánh nhau đến chết, như thể ông ta đã biết trước kết quả, như thể người Atlantis chỉ đơn giản là đang chờ nhà vô địch của ông ta giành chiến thắng – Dorian.

David đã chết lần hai ở Nam Cực. Nhưng khác với lần chết đầu tiên, anh không hồi sinh ở Nam Cực. Anh thức dậy trong một công trình Atlantis ở Gibraltar – một khu vực thuộc căn cứ Jebel Musa ở Maroc. Có người đã khiến David hồi sinh ở đó. Một người Atlantis khác? David đã để ý thấy một bộ đồ bảo hộ hỏng khác trên sàn phòng hồi sinh. Anh cố nhớ lại đoạn phim chiếu nổi. Cả hai bộ đồ bảo hộ đều bị hỏng trong các sự kiện đó, anh chắc chắn như vậy.

Tuy nhiên, có một sự thật không thể chối bỏ: một người Atlantis khác đã đưa anh trở lại – sau khi Dorian và người Atlantis ở Nam Cực giết chết anh.

Một phe cánh khác? Một bên rõ ràng muốn anh chết. Bên còn lại đã cứu sống anh.

Giờ David chắc chắn hai điều. Một, người Atlantis đang lâm vào một cuộc nội chiến nào đó. Và hai, không đời nào anh kể chuyện đã xảy ra với mình cho Kate và hai nhà khoa học biết.

“Tôi có một giả thuyết,” David nói. “Tôi tin những gì mình đã chứng kiến – thảm họa Atlantis – không phải là một hiện tượng tự nhiên. Tôi nghĩ đó là một cuộc tấn công.”

“Bởi ai?” Chang hỏi.

“Tôi không biết,” David đáp. “Nhưng nhỡ có hai bè phái Atlantis hoặc một kẻ phản bội, người đã phá hủy con tàu, ngăn chặn sự can thiệp thì sao? Ý tôi là, nhìn tiến trình lịch sử loài người mà xem. Tất cả các thành tựu lớn đạt được trong mười ba ngàn năm qua – nông nghiệp, thành trì, chữ viết, vân vân. Dân số bùng nổ vào khoảng thời gian này. Trùng hợp với thời điểm kết thúc cực đại băng hà cuối cùng và thời tiết trở nên ấm hơn, nhưng…”

Janus rướn về phía trước. “Tôi rất hứng thú với giả thuyết ‘không có sự can thiệp’ của anh. Tuy nhiên, tôi nhận thấy một lỗ hổng. Bước tiếp theo trong bảng niên đại: ‘535...1257, Toba 2, Delta’ – cho thấy một cuộc biến đổi thực sự đã xảy ra – gần đây. Và từ các video, anh nói con tàu đã bị phá hủy.”

David gật đầu. “Tôi nghĩ hai người Atlantis kia hẳn đã chết ở Gibraltar. Đó là cách lý giải duy nhất. Tôi nghĩ kẻ giết họ đã tạo nên sự biến đổi năm 535.”

Janus gật gù. “Điều đó dẫn đến kết luận của tôi: nếu vào năm 535, một người Atlantis đã can thiệp – một delta khác, như anh đã nói – vậy thì họ đâu? Nếu có năng lực kiểm soát quá trình tiến hóa của loài người, vậy họ đang giấu giếm điều gì?”

David ngẫm nghĩ câu hỏi này. Anh không có câu trả lời, và đó thực sự là một câu hỏi rất hay. Việc đưa ra nhiều ý tưởng khiến anh có chút lo sợ bị phản bác, kiểu như anh cứ phải nghĩ ra nhiều khả năng nữa để củng cố giả thuyết của mình. Anh cảm thấy mình hơi căng thẳng, sẵn sàng tranh cãi.

Tiến sĩ Chang đặt tách trà xuống. “Tôi cũng thấy đó là một câu hỏi giá trị. Tuy nhiên, tôi muốn nghe thêm về sự kiện thật – Toba 2, năm 535 hay 1257? Tiến sĩ Grey không chắc chắn gì về ngày thực tế diễn ra sao?”

Câu hỏi đó đưa David trở về thực tại, buộc anh phải tập trung. “Không. Tôi không nghĩ vậy. Tôi tin hai năm này là điểm khởi đầu và kết thúc của một thời kỳ, được đánh dấu bởi hai sự kiện cụ thể.”

“Thời kỳ nào?” Janus hỏi.

“Thời kỳ tăm tối ở châu Âu.”

“Còn hai... sự kiện?”

“Núi lửa, rồi đến bệnh dịch,” David đáp. “Một sự kiện dẫn vào thời kỳ tăm tối, sự kiện còn lại đưa châu Âu thoát ra. Có bằng chứng vững chắc cho thấy đợt bùng phát đầu tiên – vào năm 535 – có liên hệ tới một núi lửa khổng lồ gần núi Toba ở Indonesia.” Anh nghĩ một lát. “Mọi người có thể coi nó như một dạng Thảm họa Toba thứ hai.”

“Nếu Thảm họa Toba thứ hai có thật thì đáng ra em đã phải nghe nói đến rồi chứ,” Kate nói.

David mỉm cười. Anh lại đang là người kể cho cô nghe về một núi lửa đã thay đổi vận mệnh cả nhân loại. “Ít người biết đến nó lắm,” anh nói, nhại lại lời cô từng nói với anh ở Jakarta khi cô kể cho anh nghe về Giả thuyết thảm họa Toba.

“Cũng đúng,” Kate bảo.

“Đây là những gì ta biết: năm 535, nhiệt độ toàn thế giới suy giảm cực nhanh. Chúng ta đang nói đến một mùa đông dài mười tám tháng – một mùa đông gay gắt, buốt giá với rất ít ánh nắng mặt trời. Đây là chuyện được miêu tả trong sử sách. Thực ra, đó là sự kiện khí hậu khắc nghiệt nhất từng được ghi lại trong lịch sử. Ở Trung Quốc, tuyết rơi vào tháng Tám. Khắp châu Âu, ruộng đồng đều mất mùa, kéo theo nạn đói tiếp sau.”

“Một mùa đông núi lửa.”

“Phải. Các ghi chép lịch sử khắp châu Á và châu Âu đều chứng thực cho chuyện đó. Mẫu lõi băng cũng xác nhận việc này, đồng thời bằng chứng về vòng tuổi cây ở Scandinavia và Tây Âu cho thấy một sự sụt giảm lớn trong quá trình sinh trưởng của cây từ năm 536 đến 542, mãi đến năm 550 mới phục hồi hoàn toàn. Nhưng mùa đông kéo dài mấy năm trời đó không phải là thứ đưa nhân loại vào thời kỳ tăm tối, mà là dịch bệnh kéo theo sau – đại dịch tồi tệ nhất lịch sử.”

“Dịch hạch Justinian,” Kate thầm thì. “Về tỷ lệ thương vong, đó là thảm họa tồi tệ nhất từng được ghi lại trong lịch sử. Nhưng em không hiểu nó có liên quan gì đến vụ núi lửa phun trào. Và đợi đã, anh nhắc lại xem làm sao mà anh biết tất cả những chuyện này?”

“Có thể em sẽ thấy khó mà tin được, nhưng anh đã rất gần lấy được bằng tiến sĩ. Luận án của anh là về nguồn gốc và tác động của thời kỳ tăm tối lên châu Âu.” Anh chăm chăm nhìn cô một lúc, rồi nhún vai một cách cường điệu. “Anh không chỉ có khuôn mặt đẹp và bờ eo thon gọn đâu, em biết đấy.”

Kate lắc đầu, nét mặt cô trông vừa xấu hổ, vừa ngờ vực. “Em xin lỗi. Anh nói tiếp đi.”

“Đây là những gì ta biết: tận một phần ba dân số Đông Địa Trung Hải đã tử vong trong đợt bùng phát. Đế quốc Đông La Mã sụp đổ. Thủ đô Constantinople đang có nửa triệu dân giảm xuống còn chưa tới một trăm ngàn người sau dịch bệnh. Họ đặt tên dịch bệnh theo Justinian, hoàng đế La Mã. Khó mà phóng đại được cảnh chết chóc mà dịch bệnh này gây ra. Thế giới chưa từng chứng kiến điều gì như thế. Vài nạn nhân mất mấy ngày mới chết. Số khác đổ bệnh và qua đời chỉ trong vài phút. Ngoài đường, thi thể chất chồng. Mùi chết chóc len lỏi khắp chốn. Ở Constantinople, hoàng đế ra lệnh đem thi thể người chết đổ xuống biển.” Tâm trí David thoáng nghĩ tới Ceuta. Anh tập trung lại. “Nhưng có quá nhiều. Ở các thành cổ, xác chết rất nguy hiểm. Vậy nên hoàng đế ra lệnh đào hố chôn tập thể ngoài thành. Xác người chết bị đốt rụi ở đó. Sử sách nói rằng họ dừng đếm số thi thể sau cái xác thứ ba trăm ngàn.”

Ba nhà khoa học không nói lời nào. David nhấp một ngụm nước và tiếp tục.

“Với tư cách là một sử gia, dịch bệnh này đáng chú ý không phải vì tỷ lệ thương vong của nó, mà vì cách nó định hình lại toàn bộ thế giới. Theo nhiều cách, thế giới chúng ta đang sống đã trực tiếp phát triển từ các sự kiện hồi thế kỷ thứ Sáu.”

“Ý anh là sao?” Kate hỏi.

“Sau dịch bệnh, chúng ta chứng kiến sự kết thúc của các siêu đô thị của thế giới cổ đại. Ba Tư cổ, từng là một siêu cường quốc, nay đổ gục. Đế quốc Đông La Mã từng suýt chiếm lại được nửa phía Tây của mình – phần “Roma” mà người ta hay nói đến. Nhưng sau đại dịch, nó bị vây hãm và suýt thất thủ. Cuối cùng, nó trở thành Đế quốc Byzantine. Chúng ta chứng kiến những sự sụp đổ thế này diễn ra trên toàn thế giới – các đế quốc hùng mạnh rút quân và các bộ lạc thổ dân lại nổi lên. Bài học lớn từ Dịch hạch Justinian chính là những nền văn minh liên kết chặt chẽ nhất, tân tiến nhất với các siêu đô thị và những tuyến giao thương được thiết lập toàn cầu: họ phải chịu nhiều tổn thất nhất. Chính những hội nhóm giản đơn, tách biệt mới là kẻ sống thoải mái hơn cả. Lấy Anh quốc thế kỷ thứ sáu làm ví dụ – một ví dụ lớn. Vào thời điểm dịch bệnh diễn ra, Anh quốc bị người Anh-La Mã thống trị. Dựa vào các vật tạo tác, ta biết họ giao thương với các quốc gia ở rất xa như Ai Cập – nhân tiện, đó là nơi dịch bệnh nổ ra đầu tiên, hoặc là nơi đầu tiên báo cáo về nó.”

“Tôi không hiểu,” tiến sĩ Chang nói.

“Các tuyến giao thương đã đem dịch bệnh tới. Người Anh khi đó đang giao chiến với vài bộ tộc German sống ở bờ biển phía Tây của họ. Vào thời điểm bùng phát dịch hồi giữa thế kỷ thứ sáu, các bộ tộc này chủ yếu bao gồm và được coi là những kẻ man di mọi rợ. Chẳng ai giao thương với họ, người Anh hầu như cũng từ chối hôn phối với họ. Sau đợt bùng phát, những bộ tộc này nắm thế chủ động, tỏa ra khắp Anh quốc và cuối cùng lên nắm quyền. Anglo và Saxon là hai bộ tộc chính yếu. Trên thực tế, nhiều người tin rằng huyền thoại vua Arthur được tổng hợp từ các chiến binh Anh đã chiến đấu với những kẻ xâm lược thuộc bộ tộc Anglo và Saxon này. Việc dân Anh và mọi người trên thế giới đều nói tiếng Anh – ngôn ngữ của người German – là vì dịch bệnh... và người Anglo và Saxon chiến thắng sau đó. Không chỉ Anh quốc, việc này xảy ra trên toàn thế giới: các nền văn minh tân tiến, với thành thị, mật độ dân số đông và nhiều tuyến giao thương, sụp đổ. Thổ dân nổi dậy từ bên ngoài cổng thành, xâm chiếm và phần lớn cứ thế sống tiếp. Những nơi bị các thổ dân xâm lược và thiết lập chính phủ riêng thường bị cướp phá sau đó một thế kỷ bởi những toán đột kích lưu vong kế tiếp. Thời kỳ tăm tối diễn ra sau đó và những nơi này chống chọi được trong một khoảng thời gian rất dài – gần một ngàn năm. Đó là bước thụt lùi lớn nhất trong lịch sử. Trên thực tế, Thời kỳ tăm tối chỉ thực sự chấm dứt sau đợt bùng phát lớn tiếp theo...”

“Khoan đã,” Kate nói. “Em phải thú nhận là em không hiểu. Em là nhà di truyền học. Em không thấy được núi lửa và mùa đông núi lửa có liên quan gì với Dịch hạch Justinian.”

“Một phần của lịch sử là truy dấu cổ vật và tìm kiếm các kiểu mẫu điển hình. Một điển hình xuất hiện từ đợt bùng phát chính là dịch bệnh bắt đầu từ Bắc Phi, lan vào Ai Cập, rồi từ đó bùng nổ tới Đông Địa Trung Hải. Một khi đã lan đến Constantinople, phần còn lại của thế giới hiện đại đổ rạp như domino khi các tàu buôn mang dịch bệnh ra toàn cầu. Vẫn còn một số tranh cãi, nhưng các nhà sử học tin rằng dịch bệnh đến châu Âu trên các thuyền chở ngũ cốc từ Bắc Phi và chính lũ chuột trên đó là nguồn cơn mang mầm bệnh.”

“Những điều David nói đều là sự thật,” tiến sĩ Janus nói. “Đúng là trớ trêu: hiểm họa thực sự từ sự biến đổi khí hậu nhanh chóng lại chẳng liên quan gì đến thời tiết. Hiểm họa đó nằm ở các hệ sinh thái đang dần mất ổn định, khiến các sinh vật vốn chẳng có liên hệ gì giờ lại tương tác với nhau. Chúng ta biết phần lớn các đợt bùng phát nổ ra khi các loài động vật hoang dã, đóng vai trò vật chủ vô tình mang trong mình một mầm bệnh chết người, bị tống khỏi môi trường sống tự nhiên của chúng. Sau núi lửa Toba thứ hai này, các hệ sinh thái khắp thế giới đều mất cân bằng. Nếu giả thuyết của tiến sĩ Grey là đúng, điều này rất đáng lo ngại. Rất khó để thế giới cổ đại kiểm soát được sự biến đổi gene toàn cầu. Dịch bệnh là một phương tiện hoàn hảo, nhưng vẫn còn một vấn đề rất lớn.”

“Phát tán,” Kate nói.

“Chính vậy,” Janus bảo. “Thế giới từng rất rời rạc. Tới mọi nền văn hóa và lan truyền mầm bệnh là điều bất khả. Một núi lửa phủ tro lên cả thế giới, một hệ thống phát tán toàn cầu, thực hoàn hảo. Núi lửa tạo ra một mùa đông, ở vài nơi thì là hạn hán, sau đó tới vô số trận mưa xối xả. Sức tăng trưởng của thực vật giảm mạnh, rồi hồi phục lại. Ở những nơi như Bắc Phi, các động vật gặm nhấm sống rất tốt. Một cuộc bùng nổ sinh sản xảy ra. Số lượng động vật gặm nhấm ngày càng lớn và chúng phải tìm lãnh thổ mới vì hệ sinh thái hiện tại không thể chứa hết chúng. Một số trong đám chuột này mang trong người dịch bệnh và chúng cứ thế tiến vào khu vực con người ở. Trong khi lũ chuột có khả năng miễn dịch – chúng là vật chủ của mầm bệnh – đám rận trên lưng chúng thì không. Thế là đám rận này chết vì dịch bệnh và cơ chế chết của chúng khiến dịch bệnh lan ra. Những con rận nhiễm bệnh đều chết vì đói. Vi khuẩn dịch sinh sôi trong bụng chúng, chặn khả năng tiêu hóa chất dinh dưỡng. Chúng phát điên, nhảy ra khỏi lưng đám chuột, đáp lên bất kỳ vật chủ nào chúng tìm được, rồi lây bệnh sang con người. Tất nhiên, lũ chuột và đám rận quá giang trên lưng đã phát tán dịch bệnh suốt hàng ngàn năm. Điểm thiên tài, xin chấp nhận thuật ngữ này ở đây, của đợt bùng phát này là sự biến đổi gene của vi khuẩn dịch, mà tôi tin là do núi lửa gây ra. Lớp tro theo mưa đổ xuống đã thay đổi các vi khuẩn sống trong lũ chuột – nó không giải phóng đại dịch lên con người. Một đại dịch của loài người sẽ chỉ đơn giản là tự hết. Ghi chú của tiến sĩ Grey – ‘Toba thứ hai? Hệ thống phát tán mới?’ – tôi tin là ám chỉ sự băn khoăn chưa dám chắc của ông ấy về chủ đề này. Dựa trên nghiên cứu mà tiến sĩ Chang và tôi đã thực hiện, chúng tôi có thể xác nhận rằng đó đúng là một hệ thống phát tán mới, một hệ thống vô cùng tinh vi. Bằng cách biến đổi vi khuẩn sẵn có trong chuột, kẻ đã làm chuyện này muốn đảm bảo rằng sẽ có vô số đợt bùng phát nổ ra, một cuộc biến đổi gene được duy trì dai dẳng. Nó cứ nằm im trong các vật chủ – trong trường hợp này là lũ chuột – chờ thời điểm thích hợp.”

“Vậy thì trùng khớp với sử sách,” David nói. “Đợt bùng phát đầu tiên diễn ra vào khoảng năm 535, nhưng rồi có nhiều đợt nữa bùng lên, vài đợt thậm chí còn trầm trọng hơn. Không tưởng tượng nổi chúng đã gây ra bao nhiêu thiệt hại. Các trận dịch kéo dài hai trăm năm. Tới nửa dân số châu Âu không qua khỏi. Rồi khoảng sau năm 750, các đợt bùng phát dừng lại cho tới tầm năm 1257 – cũng là phần tiếp theo trong ghi chép của Martin. Năm 1257, một núi lửa nữa phun trào, lại là ở Indonesia. Dù mới phát hiện ra gần đây, nhưng chúng tôi khá chắc núi lửa Samalas, trên đảo Lombok ở Indonesia, đã phun trào với một sức mạnh không thể tin nổi. Tác động mà nó gây ra lớn hơn cả sự kiện Tambora năm 1815, còn được biết đến là ‘năm không có mùa hè’. Từ các mẫu vòng tuổi cây chúng tôi thấy điều tương tự vào năm 1257: một mùa đông núi lửa kéo dài hơn một năm. Lũ chuột nhiễm bệnh trở lại và dịch bệnh một lần nữa xuất hiện ở châu Âu. Tới thời điểm này, gần bảy trăm năm sau, các ghi chép lịch sử đã trở nên rõ ràng hơn. Đợt bùng phát này gần như giống hệt lần trước, nhưng nó được nhấn mạnh và nhắc đến nhiều hơn trong sử sách. Họ gọi nó là ‘Cái chết đen’ ở châu Âu. Nhưng đó vẫn là cùng một dịch bệnh...”

“Dịch hạch,” Kate nói.

“Chính xác,” David xác nhận. “Cùng một loại dịch, cách nhau gần một thiên niên kỷ, quay lại để tàn phá như lần trước...”

“Gượm đã.” Kate giơ một tay lên. “Cái chết đen bắt đầu ở châu Âu khoảng năm 1348 – gần một trăm năm sau khi núi lửa...”

“Đúng vậy,” David nói, giơ cả hai tay lên. “Nghe nhé, lịch sử là thế này: năm 1257, một núi lửa khổng lồ, với vị trí và tác động giống đến kỳ lạ với sự kiện hồi thế kỷ thứ sáu, đã gây nên một mùa đông núi lửa và nạn đói bao trùm khắp châu Âu. Anh chỉ có thể giả định là dịch bệnh đã quay lại, nhưng lần này có sự khác biệt – một kiểu miễn dịch...”

“CCR5 Delta 32,” Kate nói, chìm trong suy tưởng.

“Gì?”

“Martin từng nhắc đến nó. Nó có mặt trong cơ thể của mười sáu phần trăm số dân châu Âu. Đó là một loại đột biến khiến họ miễn nhiễm với HIV, đậu mùa và các virus khác. Có thể là cả vi khuẩn gây ra dịch bệnh này.”

“Thú vị đấy,” David nói. “Một trong những bí ẩn lớn nhất lịch sử chính là nguồn gốc của Cái chết đen. Bọn anh khá chắc rằng đợt bùng phát hồi thế kỷ thứ sáu, Dịch hạch Justinian, đã lan lên châu Phi và vào vùng Đông Địa Trung Hải. Nhưng Cái chết đen thì khác. Cùng một kịch bản là núi lửa, cùng một dịch bệnh – nhưng lần này, bọn anh tin Cái chết đen bắt nguồn từ Trung Á. Sự bình yên mà thời Thái bình Mông Cổ mang đến đã tạo điều kiện cho các đội quân Mông Cổ ở Trung Á đem dịch bệnh về phía Đông, dọc theo Con đường tơ lụa. Trong khoảng thời gian bao vây thành Caffa ở Crimea, quân xâm lược Mông Cổ thực ra đã ném các thi thể nhiễm bệnh qua tường thành.”

“Thật sao?” Kate hỏi.

“So với thời đó thì làm vậy là khá mưu trí đấy. Cứ coi như là một cuộc chiến tranh sinh học thời Trung Cổ đi. Sau Caffa, dịch bệnh nhanh chóng lan ra khắp châu Âu. Các sử gia cho rằng cuộc di dân của người châu Á là lý do cho cách biệt một trăm năm kia, nhưng cũng có thể là do...”

“Đột biến,” Kate tiếp lời.

“Có thể.” David muốn quay lại nói những gì anh biết, chứ không đưa ra giả định nữa. “Trong những năm tiếp theo, ba mươi đến sáu mươi phần trăm toàn bộ dân số châu Âu đã qua đời vì Cái chết đen. Một phần ba số dân Trung Quốc cũng tử nạn. Trên thực tế, dân số toàn cầu phải mất một trăm năm mươi năm mới hồi phục được về mức trước khi Cái chết đen xảy ra. Nhưng e là tôi chỉ biết đến đó. Nói chung là tôi không biết bảng niên đại này dẫn tới điều gì. Tôi chỉ biết các ý trong đó nói đến việc gì, cũng như các ngày tháng là của sự kiện nào.”

“Tôi có thể nói rõ hơn,” tiến sĩ Chang nói. “Như tiến sĩ Janus đã nói, chúng tôi đang đặt giả thuyết rằng dịch bệnh hiện tại chỉ đơn giản là kích hoạt các đợt bùng phát trước, cố hoàn tất một sự biến đổi gene gì đó vốn đã tiến hành được nửa đường. Chúng tôi đang cố tách biệt các đợt bùng phát trong quá khứ để hiểu rõ hơn cách hệ gene con người biến đổi.” Ông ta tiến về phía David. “Anh Vale, anh đã đúng về mối liên hệ giữa các dịch bệnh. Vài năm trước, một nhóm các nhà nghiên cứu đã phát hiện Dịch hạch Justinian được gây ra bởi Yersinia pestis hay Y. pestis – vi khuẩn gây dịch hạch. Phát hiện này rất đáng chú ý: hai đại dịch tồi tệ nhất từng được ghi lại trong lịch sử – Dịch hạch Justinian và Cái chết đen – đều là dịch hạch. Chúng tôi tin rằng trong cả hai trường hợp này, vi khuẩn Y. pestis đã bị đột biến gene. Chúng tôi đã lợi dụng Immari để thu thập chứng cứ. Họ kiếm mẫu từ các nạn nhân nhiễm dịch từ cả hai đợt bùng phát. Chúng tôi đã giải trình tự những hệ gene đó, cũng như các mẫu Y. pestis, từ cả hai thời kỳ. Chúng tôi cũng có mẫu từ dịch cúm Tây Ban Nha năm 1918. Chúng tôi phát hiện ra vài trình tự gene phổ biến. Chúng tôi nghĩ chúng có liên hệ tới Dịch bệnh Atlantis. Dựa vào các ghi chép của tiến sĩ Grey và cuộc thảo luận ở đây, tôi tin dữ liệu của chúng tôi chính là mảnh ghép chính yếu, chìa khóa để tìm thuốc chữa. Không may là chúng tôi đã mất các dữ liệu đó khi tàu dịch bị chìm.”

Janus ngồi thẳng lên trên ghế. “Tiến sĩ Chang, tôi nợ ông một lời xin lỗi.”

Chang liếc sang, vẻ bối rối.

“Tôi đã không hoàn toàn tin tưởng ông,” Janus nói. “Tôi được phân về nhóm của ông. Ông vẫn tiến hành nghiên cứu, nhưng tôi luôn nghĩ ông có thể là một kẻ theo phe Immari và đang cố chiếm thành quả nghiên cứu của tôi. Tôi đã giấu ông rất nhiều thứ mà tôi khám phá được.” Anh ta rút ra một chiếc thẻ nhớ. “Nhưng tôi đã lưu cả vào đây. Cùng với nghiên cứu chúng ta làm cùng nhau. Tất cả đều ở trong này và tôi tin nó sẽ cho ta biết các biến đổi về hệ gene mà tiến sĩ Grey tìm kiếm – Delta-2 – cấu trúc gene gốc của Dịch bệnh Atlantis.”

Chang nhìn chiếc thẻ nhớ. “Quan trọng là giờ anh đang giữ các dữ liệu. Ở vào vị trí của anh, tôi nghĩ… có lẽ tôi cũng sẽ làm như vậy. Tuy nhiên, có vẻ như ta còn một mảnh ghép cuối – Omega. Với tôi, nó chỉ điểm kết thúc – kết quả cuối cùng của sự biến đổi gene này. Ghi chú ‘1918...1979’ có vẻ ám chỉ rằng tiến sĩ Grey tin quá trình biến đổi này có thể đã diễn ra vào một trong hai năm đó. Chữ ‘KBW’ ở dòng đầu tiên kỳ lạ quá. Anh Vale, có phải đó cũng là một sự kiện lịch sử không?”

David đã trăn trở về chữ “KBW” này suốt từ lúc anh mới thấy đoạn mã. Anh thậm chí còn chẳng đoán mò được gì. “Không. Tôi không biết nó có nghĩa là gì.”

“Tôi biết nó có nghĩa là gì,” Kate nói. “ ‘KBW’ là tên viết tắt của tôi. Katherine Barton Warner. Tôi nghĩ tôi chính là Omega.”

Dịch giả Phương Anh
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 24 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.