Khi tới quảng trường Grève, Pierre Gringoire rét cóng cả người. Chàng đã đi đằng phía cầu Thợ xay để tránh cái đám đông trên cầu Hối đoái và tránh các tranh vẽ của Jehan Fourbault; nhưng tất cả bánh xe cối xay của đức giám mục đã bắn tóe nước khi chàng đi qua, nên áo ngoài ướt sũng. Hơn nữa, chàng có cảm tưởng vở kịch thất bại còn khiến mình rét hơn. Cho nên chàng vội đến gần đống lửa liên hoan đang bốc cháy ngùn ngụt giữa quảng trường. Nhưng một đám đông nghịt đã vây quanh.
Besos para golpes: Cái hôn trả nợ trận đòn.
Dân Paris chết tiệt! Gringoire thầm nhủ, vì chàng đang thích độc thoại như một thi sĩ kịch chân chính, thế là họ lại án ngữ mất đống lửa! Mà mình đang rất cần một chỗ sưởi ấm. Giày thì ướt sũng, còn lũ cối xay khỉ gió đó lại ào ào hắt nước vào mình! Quỷ tha cái lão giám mục Paris cùng tất cả cối xay của lão! Không biết giám mục thì cần đến cối xay làm gì kia chứ! Dễ thường lão muốn trở thành giám mục xay lúa chắc? Nếu lão cần được nguyền rủa, mình sẵn sàng nguyền rủa, cả tòa nhà thờ lẫn mọi cối xay của lão! Thử xem lũ dân ba chạ kia có sắp xéo đi không! Không biết họ làm gì ở đó! Họ đang sưởi; thú vị thật! Họ xem đốt lửa liên hoan; vui vẻ thật!
Chàng đến gần xem sao và thấy vòng người to rộng hơn nhiều, không phải để sưởi, còn đám đông đang nghìn nghịt kéo đến cũng không phải chỉ cốt xem vẻ đẹp của ngọn lửa liên hoan đang bốc cháy.
Trên khoảng trống rộng rãi để chừa giữa đám đông và đống lửa, một cô gái đang nhảy múa.
Cô gái đó là người, hay tiên hay thiên thần, mặc dù là triết gia hoài nghi, là thi nhân châm biếm, thì ngay phút đầu, Gringoire cũng không thể xác định, vì cảnh tượng huy hoàng làm chàng lóa mắt.
Cô ta không cao lớn, mặc dù có vẻ như vậy, vì dáng người thanh mảnh vươn lên hết sức ngạo nghễ. Nước da nâu, nhưng ban ngày hẳn ánh lên màu hồng tươi đẹp của dân Andalous* và dân La Mã. Bàn chân nhỏ nhắn cũng là chân người Andalous, vì xỏ vừa khít vừa thoải mái vào đôi giày xinh xắn. Cô ta nhảy múa, xoay tròn, quay tít, trên tấm thảm Ba Tư cũ, trải tạm dưới chân; và mỗi lần quay tròn, khuôn mặt rạng rỡ của cô lại lướt qua đôi mắt to đen ngời sáng như ánh chớp.
Andalous: Một vùng ở miền Nam Tây Ban Nha.
Xung quanh cô, mọi người há hốc mồm, chăm chú xem; và quả thực là một con người siêu phàm khi cô cứ thế nhảy múa theo tiếng trống rền trên đôi cánh tay tròn lẳn và thanh tao giơ cao quá đầu, với dáng người mảnh dẻ, lả lướt và nhanh nhẹn như ong vò vẽ, trong chiếc áo nịt kim tuyến phẳng phiu, áo dài sặc sỡ phồng bay, với đôi vai trần, cặp chân thon thỉnh thoảng lộ ra dưới váy, mái tóc huyền, cặp mắt rực lửa.
- Quả thực, - Gringoire thầm nghĩ, - đây là một xà nương, một thần nữ, một tiên cô, một yêu tinh trên đỉnh núi Ménaléen!
Giữa lúc đó, một bím tóc của “xà nương” tuột ra và một vật bằng đồng vàng buộc vào đó rơi xuống đất.
- Ồ không! - Chàng nói, - cô ta là dân Bohémienne*.
Thế là tan biến mọi ảo mộng.
Dân Bohémienne: Những người dân lang thang, mà người ta tưởng là quê quán ở Bohême, một vùng ở Tiệp Khắc, sống độ nhật bằng nghề bói toán, ăn xin, ca múa rong, quỷ thuật... Họ còn được gọi bằng những tên khác nữa, như dân digan hoặc ditan, dân danhgara danhgaro danhgari (theo tiếng Ý) và trong cuốn truyện này là dân Ai Cập (mặc dù họ không phải người nước Ai Cập).
Cô ta lại nhảy tiếp. Cô nhặt hai thanh kiếm dưới đất, gí mũi kiếm vào trán rồi xoay ngược với chiều người quay tít. Đúng là gái Bohémienne chính cống. Nhưng dù Gringoire vỡ mộng đến đâu, toàn bộ cảnh tượng đó cũng không thiếu vẻ huyền ảo và quái dị; ngọn lửa liên hoan chói lọi và đỏ rực chiếu sáng cô ta, lung linh rực rỡ trên các khuôn mặt của đám đông đang quây tròn, trên vầng trán nâu cô gái, và hắt quầng sáng nhạt nhấp nhô bóng người về cuối quảng trường, soi mặt tiền cũ kỹ, đen nhẻm và răn reo của tòa Nhà cột phía bên này, và các xà đá của đài treo cổ phía bên kia.
Giữa hàng nghìn khuôn mặt nhuộm ánh lửa đỏ hồng, có một khuôn mặt hình như còn ngắm cô vũ nữ say mê hơn cả mọi người. Đó là một khuôn mặt đàn ông khắc khổ, điềm đạm và u ám. Người này bị đám đông vây quanh che lấp mất quần áo và có vẻ chưa quá băm nhăm tuổi; nhưng y đã hói trán; hai thái dương chỉ lơ thơ vài túm tóc thưa lốm đốm hoa râm; vầng trán rộng và cao bắt đầu nhăn nheo; nhưng đôi mắt nâu lại sáng ngời cái ánh thanh xuân kỳ lạ, cái sức sống nồng cháy, cái ham mê đắm đuối. Đôi mắt không rời cô Bohémienne và trong khi cô gái mười sáu tuổi cuồng nhiệt nhảy múa để mua vui cho mọi người thì sự mơ màng của hắn ta như mỗi lúc càng thêm u uất. Thỉnh thoảng, nụ cười và tiếng thở dài lại gặp nhau trên cặp môi hắn, nhưng nụ cười đau đớn hơn tiếng thở dài.
Cuối cùng cô gái mệt phờ dừng lại và đám đông hoan hô nhiệt liệt.
- Djali, - cô gái gọi.
Và Gringoire thấy chạy lại một con dê con xinh đẹp, trắng toát, nhanh nhẹn, tinh ranh, bóng loáng cặp sừng vàng óng, đôi chân vàng óng, chiếc vòng cổ cũng vàng óng, mà từ nãy đến giờ chàng chưa nhìn thấy vì nó vẫn ngồi xổm ở góc thảm và xem cô chủ nhảy múa.
- Djali, giờ đến lượt em, - cô vũ nữ nói.
Rồi cô ngồi xuống và duyên dáng chìa cái trống cho con dê.
- Djali, - cô hỏi, - bây giờ là tháng mấy?
Con dê giơ chân trước và gõ một cái vào mặt trống. Quả thực đang tháng giêng. Đám đông hoan hô.
- Djali, - cô gái hỏi tiếp, xoay sang mặt trống bên kia, - hôm nay là ngày bao nhiêu?
Djali giơ chiếc chân nhỏ vàng chóe và gõ sáu tiếng lên mặt trống.
- Djali, - cô gái Ai Cập lại hỏi, xoay tiếp mặt trống, - bây giờ là mấy giờ?
Djali gõ bảy tiếng. Giữa lúc đó, chuông đồng hồ Nhà cột dóng lên bảy tiếng.
Dân chúng kinh ngạc.
- Đúng là nó có yêu thuật, một giọng nói rùng rợn vang lên giữa đám đông. Đó là giọng người hói trán vẫn nhìn chằm chằm cô gái.
Cô ta giật mình, quay lại; nhưng tiếng vỗ tay ran lên và át hẳn tiếng nói rầu rĩ.
Tiếng vỗ tay xóa hẳn tiếng nói đó trong đầu óc cô nên cô tiếp tục hỏi con dê.
- Djali, Ngài Guichard Grand-Remy, đại úy khinh binh đô thành, đã làm gì trong đám rước ngày lễ thánh Chandeleur?
Djali đứng thẳng hai chân sau và kêu be be, đi rất nghiêm trang duyên dáng, khiến cả đám đông quây tròn phải phì cười vì lối bắt chước thói sủng tín vụ lợi của vị đại úy khinh binh.
- Djali, - cô gái hỏi tiếp, càng bạo dạn vì đã thành công hơn, - ngài Jacques Charmolue, biện lý hoàng gia tại hội pháp viện, rao giảng như thế nào?
Con dê liền ngồi xổm và kêu be be, hai chân trước múa may trông thật kỳ cục, cho nên nếu không tính đến thứ tiếng Pháp và tiếng Latinh rất tồi, thì cử chỉ, giọng nói, điệu bộ, thật giống hệt Jacques Charmolue.
Đám đông càng vỗ tay ầm ĩ.
- Trò phỉ báng! Tội phạm thượng! - Giọng người hói trán vang lên.
Một lần nữa, cô Bohémienne lại quay lại.
- A! - Cô nói, - hóa ra cái lão khốn nạn này! - Rồi chìa môi dưới ra khỏi môi trên, cô ngúng nguẩy bĩu môi theo thói quen, xoay gối quay ngoắt người đi và chìa chiếc trống, đi xin tiền thưởng của đám đông.
Hào lớn, hào con, nào xu, nào chinh rào rào ném xuống như mưa. Đột nhiên, cô tới trước mặt Gringoire. Chàng dại dột thọc ngay tay vào túi làm cô dừng lại.
- Quỷ quái! - Nhà thơ nói, thấy trong đáy túi là thực tế rỗng không. Tuy nhiên cô gái xinh đẹp vẫn đứng đó, nhìn chàng bằng đôi mắt mở to, chìa cái trống ra và chờ đợi. Gringoire toát mồ hôi hột.
Nếu có cả nước Peru trong túi, chắc chắn chàng sẽ cho luôn cô vũ nữ; nhưng Gringoire không có nước Peru, vả lại ngay châu Mỹ hồi đó cũng chưa được tìm ra.
May thay, một sự việc bất ngờ tới cứu chàng.
- Con cào cào Ai Cập kia, mày có cút đi không? Một giọng the thé thét lên từ xó tối om của quảng trường.
Cô gái sợ hãi quay lại. Đó không phải giọng người hói trán; mà là giọng đàn bà, một giọng sùng đạo và độc ác.
Thế nhưng, tiếng thét làm cô gái khiếp sợ lại khiến lũ trẻ chơi đùa quanh đó vui thích.
- Đó là mụ tu kín ở Tháp Roland, - chúng reo lên cười ầm ĩ, - đó là mụ tu dòng Túi đang gào lên! Hay là mụ ta chưa ăn gì, ta mang lại cho mụ ít thức ăn thừa của quầy ăn thành phố đi! - Cả bọn đổ xô về phía Nhà cột.
Trong khi đó, Gringoire lợi dụng lúc cô vũ nữ hốt hoảng liền chuồn thẳng. Tiếng trẻ hò reo làm chàng nhớ cả mình cũng chưa ăn gì. Chàng vội chạy tới quầy ăn. Nhưng lũ ranh con nghịch ngợm nhanh chân hơn; chàng tới nơi thì chúng đã vét sạch. Ngay đến mẩu bánh tồi tàn năm xu một cân cũng chẳng còn. Trên tường chỉ còn những bó hoa huệ mảnh dẻ, lẫn với tường vi, do Mathieu Biterne vẽ từ năm 1434. Bữa ăn như thế thì đạm bạc quá.
Chưa ăn gì mà ngủ là chuyện phiền; chưa ăn gì mà còn biết ngủ đâu, lại càng ít vui tươi hơn. Gringoire đang lâm vào bước đó. Không cơm ăn, không nhà ở; sinh kế bốn bề thúc bách và chàng cảm thấy chuyện sinh kế thực là khốn khổ. Từ lâu chàng đã phát hiện ra chân lý là Jupiter, trong lúc quá yếm thế, đã sáng tạo ra loài người và trong suốt cuộc đời nhà hiền triết, số phận đã vây hãm triết lý của y. Còn chàng, chưa bao giờ chàng bị vây hãm triệt để như thế này; chàng nghe dạ dày kêu gọi đầu hàng và thấy hết sức vô vị khi chính số phận hẩm hiu lại dùng cái đói để đánh bại triết lý của mình.
Chàng đang mỗi lúc một thêm mơ mộng buồn rầu thì đột nhiên bừng tỉnh khi có tiếng hát kỳ dị, tuy rất êm ái, cất lên. Đó là tiếng hát cô gái Ai Cập.
Tiếng hát cũng giống như điệu múa và sắc đẹp của cô. Nó khó tả mà đáng yêu: có thể nói, đó là cái gì trong sáng, âm vang, thanh thoát, bay bổng. Tiếng hát liên tiếp bừng nở, các giai điệu, các tiết tấu bất ngờ, rồi các câu nhạc giản dị xen lẫn với những âm cao vút, lanh lảnh, rồi các chuyển giọng cách quãng làm chim họa mi cũng không sánh kịp, nhưng vẫn du dương như thường, rồi các ngân rung bát độ mềm mại lúc dâng lên khi hạ xuống như cặp vú cô ca sĩ trẻ. Gương mặt xinh đẹp của cô linh động kỳ lạ với mọi biến thái của bài hát, từ cảm hứng cuồng loạn tới vẻ trang trọng thanh khiết nhất. Có thể nói có khi như con điên, lúc là bà hoàng.
Lời ca thuộc một ngôn ngữ xa lạ với Gringoire, và hình như, cả cô cũng không hiểu, vì tình cảm diễn tả qua điệu hát rất ít phù hợp với ý nghĩa của lời. Ví dụ như bốn câu thơ sau đây qua miệng cô hát, thật vô cùng vui nhộn:
Un cofre de gran riqueza
Hallaron dentro un pilar,
Dentro del, nuevas banderas
Con figuras de espantar.*
Cái hòm đắt tiền,
Làm bằng cái cột.
Cờ mới ở trong,
Vẽ hình khủng khiếp.
Rồi lát sau, Gringoire cảm thấy ứa nước mắt khi nghe giọng cô hát đoạn thơ này:
Alarabes de cavallo
Sin poderse menear,
Con espadas, y los cuellos,
Ballestas de buen echar.*
Kỵ sĩ Ả-rập,
Cử động bất lực.
Đao gươm, còn cổ
Đeo nỏ bắn tài.
Tuy nhiên, tiếng hát vẫn ngời sáng niềm vui và cô hát như chim hót, bình thản và vô tư.
Tiếng hát cô gái khuấy động tâm hồn mơ mộng của Gringoire, như con thiên nga khuấy động mặt nước. Chàng lắng nghe, say sưa, và quên hết mọi thứ. Sau nhiều giờ, đây là giây phút đầu tiên, chàng không cảm thấy đau khổ.
Khoảng cách này thật ngắn ngủi.
Vẫn giọng đàn bà, đã ngắt quãng điệu nhảy của cô gái, lại tới cắt đứt tiếng hát.
- Con ve sầu âm phủ kia, mày có câm mồm ngay đi không? - Mụ vẫn từ trong xó tối om ở quảng trường thét lên.
Con ve sầu tội nghiệp ngừng bặt, Gringoire bịt hai tai.
- Ôi! - Chàng kêu lên, - cái cưa mẻ khốn nạn làm gẫy cây đàn lyr tao rồi!
Cả các khán giả khác cũng thốt lên như chàng; nhiều người rủa:
- Cái con mụ tu kín chết tiệt!
Và mụ già phá đám vô hình ắt sẽ phải hối hận về tội trêu trọc cô Bohémienne, nếu đám đông lúc đó không mải quay sang xem đám rước Cuồng đãng giáo hoàng, sau khi diễu qua nhiều phố và ngã ba ngã tư, đang đổ ra quảng trường Grève, với đầy đủ lửa đuốc và tiếng ồn.
Đám rước mà bạn đọc đã thấy từ Tòa pháp đình kéo ra, vừa thành hình trên đường đi, vừa thu thập thêm tất cả những ai du côn xỏ lá, vô công rồi nghề và lang thang trộm cắp, vẫn thường xuyên có mặt ở Paris, cho nên khi tới quảng trường Grève, đám rước đã có vẻ hùng hậu lắm.
Dẫn đầu là xứ Ai Cập. Quận công Ai Cập cưỡi ngựa, dẫn đầu, có các bá tước đi chân, giữ dây cương cùng bàn đạp hộ, theo sau là đàn ông đàn bà Ai Cập lộn xộn, với lũ con nhỏ kiệu trên vai đang hò hét; tất cả, nào quận công, bá tước, dân cùng đinh, đều ăn mặc rách rưới, tả tơi. Rồi tới vương quốc tiếng lóng; tức là cả bọn trộm cắp ở Pháp, xếp hàng theo trật tự thứ bậc; cấp bé đi trước. Cứ như thế chúng diễu hành hàng bốn, với đủ loại huy hiệu khác nhau về cấp bậc của cái đoàn thể kỳ quái này, hầu hết đều què quặt, đứa thì thọt, đứa thì cụt, rồi ăn mày bán chuyên giả danh thất nghiệp, ăn mày đeo vỏ hến vờ làm hành giả, ăn mày vờ bị chó dại cắn phải đến nhà thờ chữa bệnh, ăn mày ngậm xà phòng xùi bọt mép giả động kinh, đứa giả chốc đầu, giả ốm yếu, giả đói rách, giả què chống nạng, bọn cắt túi, bọn giả sâu quảng, phủ thũng, giả bị bỏng, giả lái buôn phá sản, giả phế binh, giả hủi, bọn lỏi con, bọn nghiện ngập; sự điểm duyệt đến Homère cũng mệt nhoài. Ở giữa đoàn tuyển thủ của bọn hủi và bọn nghiện ngập thấp thoáng thấy vua xứ tiếng lóng, Đại vương Coësre, ngồi xổm trong chiếc xe ba gác nhỏ do hai con chó to kéo. Sau vương quốc tiếng lóng tới đế quốc Galilée*, Guillaume Rousseau, hoàng đế đế quốc Galilée, đường bệ bước đi trong chiếc áo bào đỏ tía hoen rượu vang, phía trước là bọn hề đang múa may quay cuồng các chiến vũ, hộ tống chung quanh là các gã mang chùy, các phò tá, và các thư lại văn phòng thanh toán. Cuối cùng là giới luật sư, với những cành cây tháng năm đầy hoa, với áo dài đen, với bản nhạc om sòm ầm ĩ, và những cây nến to tướng bằng sáp vàng. Giữa đám đông đó, các đại quan viên của hội đoàn Cuồng đãng, khiêng trên vai cái cáng gắn đầy nến, nhiều hơn cả tráp thánh tích Sainte-Geneviève vào thời dịch hạch. Và trên càng chễm chệ ngôi vị tân giáo hoàng cuồng đãng, tay mang pháp trượng, mình mặc áo lê, đầu đội mũ giáo chủ, tức tên kéo chuông nhà thờ Đức Bà, thằng gù Quasimodo.
Galilée: Một vùng ở phía bắc xứ Palestine.
Mỗi đoàn của đám rước lố lăng này đều có âm nhạc riêng. Bọn Ai Cập khua ầm ĩ phách và trống Phi châu. Bọn nói lóng, thuộc loại rất ít khiếu nhạc, thì mới dừng lại ở đàn cò, kèn và tù và cổ lỗ của thế kỷ mười hai. Đế quốc Galilée cũng chẳng tiến bộ gì hơn; chỉ thấy trong dàn nhạc cây đàn rebec tồi tàn của thời nghệ thuật ấu trĩ, có độc ba dây rề-la-mi. Thế nhưng tất cả dàn nhạc phong phú của thời đại đã được triển khai trong điệu nhạc chướng tai tuyệt mỹ, tấu quanh giáo hoàng cuồng đãng. Toàn tiếng đàn rebec vút cao, tiếng đàn rebec lanh lảnh, tiếng đàn rebec đứt đoạn, chưa kể đến sáo, tiêu và bộ đồng. Than ôi! Bạn đọc hẳn còn nhớ, đó chính là dàn nhạc của Gringoire.
Thật khó lòng hình dung được mức độ hớn hở đến kiêu kỳ và thỏa mãn trên bộ mặt buồn rầu và ghê sợ của Quasimodo, trên chặng đường từ Tòa pháp đình tới quảng trường Grève. Đây là lần đầu tiên hắn được thỏa mãn lòng tự ái, như chưa bao giờ hưởng qua. Đến nay, hắn chỉ được biết toàn tủi nhục, khinh rẻ đối với hoàn cảnh hắn, toàn ghê tởm đối với thân hắn. Cho nên mặc dù điếc, hắn vẫn thưởng thức như một giáo hoàng chính cống mọi hoan hô của đám đông, mà hắn căm ghét vì cảm thấy mình bị họ căm ghét, dù cho thần dân chỉ là lũ ô hợp những bọn điên khùng, bại liệt, trộm cắp, ăn mày, cũng chẳng sao! Họ vẫn cứ là thần dân, và hắn cứ là chúa tể. Và hắn thực tâm thích thú mọi hoan hô giễu cợt đó, mọi kính nể nhạo báng đó, mà phải nói đám đông kể ra cũng hơi có phần hãi thực sự. Vì gã gù vốn khỏe; vì gã khoèo vốn nhanh nhẹn; vì gã điếc vốn độc ác; ba đức tính làm giảm vẻ tức cười.
Kể ra, ta cũng khó tin được là vị tân giáo hoàng cuồng đãng tự mình hiểu nổi những cảm giác mà hắn cảm thấy và những cảm giác do hắn gây ra. Trí tuệ ẩn náu trong thân hình tàn tật nhất định tự nó cũng thiếu hụt và câm lặng. Cho nên những điểm cảm thấy lúc này, đối với hắn, đều hoàn toàn mơ hồ, không rõ và vô định. Chỉ thấy lóa lên niềm vui sướng, tràn trề kiêu ngạo. Chung quanh khuôn mặt u ám và đau khổ bỗng tỏa sáng.
Cho nên mọi người không khỏi kinh ngạc và khiếp sợ khi thấy một người từ đám đông chạy tới rồi tức giận giằng khỏi tay Quasimodo chiếc pháp trượng bằng gỗ thếp vàng, biểu hiện của quyền lực giáo hoàng cuồng đãng, giữa lúc hắn đang say sưa đắc chí diễu qua trước Nhà cột.
Người này, gã táo tợn đó, chính là nhân vật hói trán một lát trước đây còn đứng lẫn trong đám đông để xem cô Bohémienne và làm cô bé tội nghiệp lạnh toát người vì những lời đe dọa, hằn học. Hắn mặc áo giáo sĩ. Khi hắn bước ra khỏi đám đông, Gringoire từ nãy vẫn không để ý tới, bỗng nhận ra.
- Kìa! - Chàng ngạc nhiên thốt lên, - hóa ra đức cha Claude Frollo, phó chủ giáo, thầy dạy ta về Hermès*. Trời ơi, cha định làm gì cái thằng chột khốn nạn đó không biết? Không khéo bị nó nuốt sống mất.
Hermès Trismegistus: là tên Hy Lạp của thần Ai Cập Thoth, tác giả của tác phẩm huyền bí về phủ thủy, chiêm tinh, luyện đan.
Quả nhiên, một tiếng thét khủng khiếp vang lên. Gã Quasimodo ghê gớm từ trên cáng lao vọt xuống và các bà quay mặt đi để khỏi nhìn hắn xé xác phó chủ giáo.
Hắn nhảy xổ tới linh mục, nhìn ông ta rồi quỳ xuống.
Linh mục giật chiếc mũ miện, bẻ gãy pháp trượng, xé toạc áo lễ đính trang kim của hắn.
Quasimodo vẫn quỳ đó, cúi đầu và chắp tay.
Rồi giữa họ xảy ra cuộc đối thoại kỳ lạ bằng dấu hiệu và cử chỉ, vì cả hai đều không nói gì. Linh mục đứng thẳng, tức giận hằm hằm, hách dịch; Quasimodo chỉ quỳ rạp, nhẫn nhục, van xin. Thế mà chắc chắn Quasimodo chỉ cần dí ngón tay cái cũng đủ khiến linh mục chết bẹp.
Cuối cùng, phó chủ giáo lay mạnh cái vai vạm vỡ của Quasimodo, và ra hiệu cho hắn đứng dậy đi theo mình.
Quasimodo đứng lên.
Thế là sau phút ngơ ngác ban đầu, hội đồng cuồng đãng liền định bảo vệ vị giáo hoàng đột nhiên bị truất phế. Bọn Ai Cập, dân nói lóng và tất cả đám luật sư tới sủa nhao nhao quanh linh mục.
Quasimodo đứng chắn trước linh mục, giơ nắm đấm lực sĩ nổi gân cuồn cuộn và nghiến răng kèn kẹt như con hổ nổi khùng nhìn đám người vây quanh.
Linh mục trở lại cái vẻ nghiêm trang lầm lì, ra hiệu cho Quasimodo và lặng lẽ đi thẳng.
Quasimodo đi trước mở đường, gạt phắt đám đông chạy tán loạn.
Khi cả hai đã ra khỏi đám dân chúng và quảng trường, lũ người hiếu kỳ và nhàn rỗi vội nhâu nhâu định đuổi theo xem. Quasimodo liền chặn hậu và bước giật lùi để đi theo phó chủ giáo, hắn lực lưỡng, cáu kỉnh, kỳ quái, sừng sộ, chân tay co lại giữ thế thủ, liếm chiếc răng nanh lợn lòi, gầm gè như thú dữ, khiến đám đông phải ngả nghiêng xiêu dạt vì một cử chỉ hoặc cái nhìn.
Đám đông đành để hai người đi vào một phố hẹp, tối om và không ai dám liều mạng đuổi theo, chỉ riêng ảo ảnh Quasimodo nghiến răng kèn kẹt đủ chắn lối vào phố.
- Thật là kỳ diệu, - Gringoire nói; - nhưng mình biết lấy đâu ra cái ăn bây giờ?