Nhà Thờ Đức Bà Paris

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Iii Chuyện Chiếc Bánh Rán Men Bột Ngô
Iii Chuyện Chiếc Bánh Rán Men Bột Ngô

❊ ❊ ❊

Vào thời kỳ xảy ra chuyện này, biệt phòng ở tháp Roland đang có người ở. Nếu bạn đọc muốn biết đó là ai, xin hãy lắng nghe câu chuyện giữa ba người đàn bà mau mồm mau miệng; trong khi bạn đọc đang chú ý tới Hang chuột, cả ba cũng đi về đúng phía đó, ngược từ điện Châtelet lên quảng trường Grève, dọc theo bờ sông.

Hai trong ba bà ăn mặc kiểu thị dân khá giả của Paris, cổ áo trắng mỏng, váy len dệt sọc xanh đỏ, bít tất dệt trắng điểm đường thêu chỉ màu bó sát chân, giày múi vuông bằng da vàng gót đen và nhất là chiếc mũ, một thứ sừng trang kim, chằng chịt dải lụa và viền ren, mà phụ nữ vùng Champagne hiện giờ vẫn đội, cạnh tranh với bọn lính thị vệ hoàng gia Nga, tất cả cho biết họ thuộc tầng lớp nhà buôn giàu, đứng giữa hai hạng người mà lũ gia nô gọi là con mụphu nhân. Họ không đeo nhẫn, không đeo thánh giá vàng và cũng dễ dàng nhận thấy không phải vì họ nghèo, mà chỉ do hồn nhiên sợ bị phạt. Bà bạn cùng đi, ăn mặc gần giống như vậy, nhưng trong cách trang sức và điệu bộ có vẻ hao hao thuộc loại vợ chưởng khế tỉnh nhỏ. Cứ nhìn lối thắt dây lưng cao quá hông cũng đủ rõ bà từ lâu chưa tới Paris. Lại thêm cổ áo xếp nếp, giày thắt dải lụa, sọc váy may theo chiều ngang chứ không phải chiều dọc, cùng ngàn cái lố lăng khác mà khiếu thẩm mỹ phải bực mình.

Hai bà kia bước đi theo kiểu đặc biệt dân Paris, muốn cho dân tỉnh nhỏ thấy thế nào là Paris. Bà tỉnh nhỏ dắt một cậu bé mập mạp, tay cầm chiếc bánh rán to.

Tác giả rất bực mình phải nói thêm, đang giữa mùa lạnh như thế, cậu bé lại dùng lưỡi thay khăn tay.

Cậu bé cứ để lôi đi, non passibus aequis* như Virgile đã nói, và chốc chốc lại vấp ngã, khiến bà mẹ gắt mắng om sòm. Quả tình cậu nhìn chiếc bánh hơn nhìn mặt đường. Chắc hẳn có lý do gì nghiêm trọng ngăn cậu bé không cắn (chiếc bánh), vì cậu chỉ âu yếm nhìn nó thôi. Nhưng lẽ ra bà mẹ phải cầm lấy chiếc bánh. Quả là ác nghiệt khi bắt thằng bé bụ bẫm phải làm một thứ Tantale*.

bước đi thất thểu

Tantale: Vua xứ Lydie. Khi thần thánh đến thăm, muốn thử phép linh thiêng, Tantale cắt chân tay con trai là Pélops để làm thức ăn mời thần thánh. Thần Jupiter đày ông xuống âm ti, bắt suốt đời nhịn đói, nhịn khát. Tantale được biểu hiện bằng hình ảnh đứng giữa dòng sông, cứ định uống nước thì nước lại rớt khỏi miệng, đứng dưới gốc cây, cứ định hái quả thì cành lại vươn lên cao. Văn học dùng điển tích này để chỉ những tham vọng gần đạt tới lại bị thất bại.

Trong lúc đó, cả ba chị (vì hồi đó tiếng chỉ dành cho phụ nữ quý tộc) cùng nói:

- Này chị Mahiette, ta đi nhanh lên, - bà trẻ nhất, cũng to béo nhất, nói với bà tỉnh nhỏ. - Khéo không tới nơi muộn mất. Ở Châtelet, họ bảo tôi là tên đó sẽ lập tức được dẫn thẳng tới giàn bêu tù.

- Ồ hay, chị Oudarde Musnier, chị nói gì vậy, - bà người Paris kia nói. - Nó sẽ bị bêu hai giờ. Còn khối thời gian. Này Mahiette, chị được xem bêu tù bao giờ chưa?

- Rồi, xem ở Reims, - bà tỉnh nhỏ đáp.

- Úi chà, giàn bêu tù ở Reims, ra cái quái gì! Một cái chuồng tồi tàn chỉ để bêu toàn lũ dân quê. Thấm vào đâu!

- Ở chợ Hàng da, ở Reims, ai bảo chị là toàn lũ dân quê? - Mahiette hỏi vặn. - Ở đó, tôi từng thấy vô số tội nhân ghê gớm, từng giết cả cha lẫn mẹ. Toàn lũ dân quê! Thế chị gọi chúng tôi là người thế nào, hả chị Gervaise?

Rõ ràng bà tỉnh nhỏ sắp cáu, tự ái cho giản bêu tù của tỉnh mình. Vừa may Oudarde Musnier, vốn ý tứ, kịp thời lái câu chuyện:

- Này, chị Mahiette, chị thấy các sứ thần xứ Flandre thế nào? Liệu ở Reims có những vị tao nhã như vậy không?

- Thú thật chỉ ở Paris mới được gặp những người Flandre như họ, - Mahiette đáp.

- Chị có thấy ở sứ quán có vị sứ thần làm nghề bán quần chẽn không? - Oudarde hỏi.

- Có, - Mahiette nói. - Trông ông ta như thần Saturne.

- Còn cái ông to béo, mặt mũi trông như cái bụng để trần? - Gervaise hỏi tiếp. - Cả cái ông loắt choắt, mắt ti hí viền vải tây đỏ, mặt mày nhăn nheo cau có.

- Chỉ có đàn ngựa là đẹp nhất, được phủ vải choàng theo kiểu xứ họ, - Oudarde nói.

- Chà! Chị ơi, - bà tỉnh nhỏ Mahiette đến lượt mình lên mặt, ngắt lời, - nếu chị được xem lễ đăng quang thì thôi hết nói, lễ cử hành ở Reims vào năm 61, cách đây mười tám năm, với đoàn ngựa của hoàng thân và của đoàn tùy giá đức vua! Thôi thì đủ loại vải choàng ngựa; thứ bằng dạ Damas, thứ bằng dạ mịn kim tuyến lót lông điêu thử trắng, đen; có loại bằng nhung, lót lông chồn trắng; có loại đính toàn đồ kim hoàn và tua lục lạc lớn bằng vàng và bạc! Tốn không biết bao nhiêu tiền của! Lại còn bao nhiêu thị đồng tuấn tú ngồi trên ngựa!

- Dù thế chăng nữa người Flandre vẫn cứ có đầy đủ ngựa đẹp như thường, - bà Oudarde lạnh lùng cãi lại, - hôm qua họ còn dự bữa dạ tiệc rất thịnh soạn với ngài thị trưởng, tại tòa đô chính, quan khách được thết nào kẹo viên, rượu quế, gia vị và mọi của ngon vật lạ.

- Này chị hàng xóm, chị nói gì lạ vậy? - Gervaise thốt lên. - Các sứ thần dự tiệc với đức hồng y, ở điện Tiểu Bourbon đấy chứ.

- Không phải, ở tòa đô chính!

- Đúng mà, ở điện Tiểu Bourbon.

- Chính là ở tòa đô chính, - Oudarde bực bội cãi lại, - vì bác sĩ Scourable đọc diễn văn chào mừng bằng tiếng Latinh khiến các sứ thần rất hài lòng. Chính chồng tôi là lái sách tuyên thệ đã nói với tôi.

- Chắc chắn ở điện Tiểu Bourbon, - Gervaise đáp lại chẳng kém gay gắt, - vì thầy quản sự của đức hồng y đã tặng các vị khách như sau: mười hai chai nửa lít rượu quế trắng, hồng và đỏ; hăm bốn hộp bánh hạnh nhân kẹp Lyon nướng vàng, cũng từng ấy bánh cuốn thừng mỗi chiếc hai cân, và sáu thùng nhỏ rượu nho xứ Beaune, trắng và hồng, thứ rượu nho ngon nhất hiện có. Chắc như vậy đủ rõ ràng rồi. Tôi được biết là nhờ nhà tôi làm chỉ huy đại đội ở tòa án Parloir-aux-Bourgeoi, sáng nay, ông ta có so sánh các sứ thần xứ Flandre với các sứ thần của Prêtre-Jean và của Hoàng đế xứ Trébisonde đã từ miền Lưỡng hà tới Paris dưới triều tiên đế, tai họ đeo vòng.

- Rõ ràng họ dự tiệc tại tòa đô chính, - bà Oudarde cãi lại, dửng dưng trước mọi lời phân bày đó, - chưa bao giờ lại lắm thịt và kẹo đến thế.

- Tôi nói để chị biết chính Le Sec, tuần cảnh thành phố, đã hầu bàn cho họ tại điện Tiểu Bourbon, đúng là chị nhầm mất rồi.

- Tôi đã bảo ở tòa đô chính kia mà!

- Chị ơi, ở điện Tiểu Bourbon kia! Chính người ta đã dùng đèn chiếu để soi sáng chữ Hy vọng ghi trên cổng lớn.

- Ở tòa đô chính! Ở tòa đô chính! Chả thế mà có cả Husson le Voir thổi sáo!

- Tôi đã bảo không phải!

- Còn tôi bảo đúng thế!

- Nhất định không phải!

Bà béo Oudarde sắp đáp lại và vụ cãi vã chưa chừng dẫn tới chỗ túm tóc nhau, nếu Mahiette không đột nhiên reo lên:

- Xem kìa, một bọn người đang tụ tập ở đầu cầu đằng kia! Họ xúm lại xem cái gì ở giữa đám ấy.

- Đúng thế, tôi nghe có tiếng trống, - Gervaise nói. - Có lẽ con bé Esmeralda đang làm trò với con dê. Mau lên, Mahiette! Đi nhanh lên, kéo theo cả cháu nhỏ nữa. Chị lên đây để thăm cảnh lạ Paris. Hôm qua chị đã thấy các sứ thần Flandre; hôm nay phải xem con bé Ai Cập.

- Con bé Ai Cập! - Mahiette thốt lên, bỗng quay gót trở lại, nắm chặt lấy cánh tay thằng con. - Lạy Chúa phù hộ! Nó ăn cắp con tôi mất! - Eustache, lại đây.

Rồi bà chạy dọc bờ sông về phía quảng trường Grève, tới khi bỏ lại chiếc cầu khá xa phía sau. Còn đứa bé bị lôi xềnh xệch, ngã khuỵu xuống; bà thở hổn hển, dừng lại. Oudarde và Gervaise chạy theo tới nơi.

- Con bé Ai Cập đó mà ăn cắp con chị ư? - Gervaise nói. - Chị bày đặt chuyện gì lạ lùng thế.

Mahiette lắc đầu, vẻ lo lắng.

- Điều lạ lùng là mụ tu kín dòng Túi cũng nghĩ hệt như vậy về bọn đàn bà Ai Cập, - Oudarde nhận xét.

- Mụ tu kín dòng Túi là ai vậy? - Mahiette hỏi.

- Ủa! - Oudarde nói, - dì phước Gudule chứ ai.

- Nhưng dì phước Gudule là ai mới được chứ? - Mahiette hỏi.

- Chị đúng là người ở Reims, cho nên mới không biết chuyện đó! - Oudarde đáp. - Đó là mụ tu kín ở Hang chuột.

- Thế à! Hóa ra chính cái mụ khốn khổ ta đem bánh này lại cho ư? - Mahiette hỏi.

Oudarde gật đầu, nói:

- Đúng thế. Lát nữa chị sẽ thấy mụ đó sau cửa sổ trông ra quảng trường Grève. Mụ ta cũng nhìn nhận giống chị về lũ lang thang Ai Cập thường đánh trống và xem bói cho dân chúng. Không hiểu sao mụ đó lại ghê sợ bọn zingari và bọn Ai Cập đến thế. Còn chị, Mahiette, tại sao thoạt trông thấy họ, chị đã bỏ chạy ngay?

- Ôi! - Mahiette nói, hai tay giữ lấy cái đầu tròn xoe của thằng bé, - tại tôi không muốn gặp phải cái cảnh đã xảy ra cho Paquette la Chantefleurie.

- Chà! Chị Mahiette ơi, chuyện này chị phải kể cho chúng tôi nghe mới được, - Gervaise nắm cánh tay bà ta nói.

- Tôi xin kể ngay, - Mahiette đáp, - đúng là tại chị ở Paris nên không biết chuyện đó! Xin nói để các chị biết - nhưng ta vừa đi vừa nói chuyện cũng được - Paquette la Chantefleurie là cô gái xinh đẹp mười tám tuổi, cũng như tôi lúc đó, tức cách đây mười tám năm, mà cũng lỗi ở cô ta nếu bây giờ cô ta không như tôi, được trở thành bà mẹ béo tốt, tươi tắn, ba mươi sáu tuổi, có chồng, có con trai. Vả lại, ngay hồi cô ta mới mười bốn tuổi, cũng đã lỡ mất rồi! Cô ta vốn là con gái của Guybertaut, làm nghề hát rong dưới thuyền ở Reims, ông ta cũng chính là người từng hát trước mặt vua Charles VII hôm lễ đăng quang, khi nhà vua xuôi thuyền trên sông Velse, từ Sillery đến Muison, có cả lệnh bà Nữ đồng trinh trên thuyền ngự*. Paquette còn bé tí thì ông bố già chết; thế là chỉ còn lại bà mẹ, em gái ông Mathieu Pradon, thợ cả làm đồ đồng, gò xoong nồi ở Paris, tại đường Parin-Garlin, vừa chết hồi năm ngoái. Kể cô ta cũng thuộc gia đình khá giả đấy chứ. Bà mẹ là người tử tế nhưng chẳng may chỉ dạy cho Paquette biết chút nghề thêu rua kim tuyến và làm đồ chơi trẻ con, cứ thế cô gái lớn bổng lên và vẫn rất nghèo. Hai mẹ con ở Reims, bên bờ sông, tại phố Folle-Peine. Xin lưu ý điểm này: tôi cho đó là điều làm Paquette khốn khổ. Năm 61, năm làm lễ đăng quang của vua Louis XI mà Chúa vẫn phù hộ đến nay, Paquette xinh đẹp, vui tươi đến nỗi ai ai cũng gọi là Chantefleurie*. - Tội nghiệp cô gái! - Cô có hàm răng đẹp, nên thích cười để khoe. Thế mà con gái hay cười sớm muộn rồi sẽ khóc; hàm răng đẹp làm hại đôi mắt đẹp. Đó chính là cô Chantefleurie. Cô ta và bà mẹ sinh sống rất chật vật. Từ khi ông chồng hát rong chết, cả hai mẹ con đều khốn đốn. Nghề thêu kim tuyến chỉ kiếm được mỗi tuần chưa đầy sáu denier, tức là không tới hai đồng liard-diều-hâu. Đâu còn thời buổi mà lão Guybertaut chỉ hát một bài trong riêng dịp lễ đăng quang cũng kiếm được mười hai xu tiền Paris? Một mùa đông - cũng vào năm 61 đó - hai mẹ con không còn lấy thanh củi, mẩu gỗ, mà trời rất lạnh, làm da dẻ cô gái Chantefleurie càng trắng đẹp hơn, khiến bọn đàn ông gọi cô là: Paquette! Nhiều kẻ còn gọi là cô Bạch Cúc! Thế là cô gái đâm sa đọa. - Eustache, ai bảo con cắn vào cái bánh như vậy! - Chúng tôi thấy ngay cô gái hư hỏng rồi, vào cái hôm chủ nhật, khi cô ta đến nhà thờ với chiếc thánh giá bằng vàng đeo trên cổ. - Mới mười bốn tuổi đầu! Các chị có thấy ghê không? - Thoạt đầu là vị tử tước trẻ Cormontreuil, có tòa gác chuông ở cách Reims ba phần tư dặm; rồi ông Henri de Triancourt, quan dạy ngựa hoàng gia; rồi kém hơn nữa là Chiart de Beaulion, cảnh lại vũ trang; rồi cứ thế sa sút tới Guery Aubergeon, hầu bản nhà vua; rồi Macé de Frépus, thợ cạo đức Thái tử; rồi Thévenin le Moine, đầu bếp hoàng cung, rồi cứ thế ngày càng già hơn và hèn kém hơn, cô ta rơi vào tay Guillaume Racine đần hát rong và Thierry de Mer, chủ nhà thổ. Tội nghiệp cho Chantefleurie, thế là cô ta bị chuyển tay đủ hạng người. Cô đã tiêu đến xu cuối cùng của đồng tiền vàng. Thế rồi ra sao, các chị có biết không? Tới lễ đăng quang, cũng vào năm 61 đó, chính cô ta phải đón tên trùm trác táng! - Trong vòng có một năm!

Bà Nữ đồng trinh: tức Jeanne d’Arc, nữ anh hùng cứu quốc người Pháp (1412-1431) bị quân xâm lược Anh thiêu sống tại Rouen.

tiếng Pháp: có nghĩa là ca hát nở hoa

Mahiette thở dài và lau giọt nước mắt ứa ra.

- Chuyện đó có gì lạ lắm đâu, - Gervaise nói,- mà chuyện cũng chẳng có ai là dân Ai Cập và trẻ con cả.

- Khoan đã! - Mahiette nói tiếp; - trẻ con ư, rồi cũng sẽ có một đứa đấy. - Năm 66, tính tới tháng này ngày lễ thánh bà Paule là mười sáu năm rồi, Paquette đẻ con gái. Cô gái khốn khổ rất vui sướng. Từ lâu cô ta vẫn mong có con. Bà mẹ, người hiền lành tử tế, bấy lâu chỉ biết nhắm mắt làm ngơ, bà mẹ đã chết. Paquette chẳng có ai trên đời để yêu thương, và cũng chẳng còn ai yêu thương cô. Trải năm năm sa đọa, Chantefleurie đã trở thành con người khốn khổ. Cô ta sống trơ trọi, trơ trọi giữa cuộc đời, bị dè bỉu, bêu riếu ngoài phố, bị cảnh binh đánh đập trẻ con rách rưới chế giễu. Rồi tuổi hai mươi tới: mà tuổi hai mươi đã là tuổi già đối với loại đàn bà giăng hoa. Cuộc sống phóng đãng bắt đầu không đem lại tiền bạc cho cô bằng nghề thêu tua kim tuyến ngày xưa; một vết nhăn xuất hiện là một đồng écu ra đi; mùa đông trở nên khắc nghiệt với cô, từ nay củi đốt trở nên hiếm hoi trong lò bếp và bánh mì hiếm hoi trong thùng bánh. Cô không thể làm lụng được nữa, vì càng dâm đãng càng lười biếng, cô còn khốn khổ hơn nữa vì càng lười biếng lại càng dâm đãng. - Ít nhất cũng bởi lẽ đó mà cha xứ ở Saint-Remy đã giải thích tại sao loại đàn bà đó thường rét hơn và đói hơn các bà nghèo khổ khác khi trở về già.

- Phải, - Gervaise nhận xét, - thế còn dân Ai Cập đâu?

- Khoan đã nào, Gervaise! - Oudarde nói, không đến nỗi quá sốt ruột. - Nếu mở đầu mà kể hết ngay, đoạn cuối còn gì nữa! Mahiette, xin chị cứ kể tiếp. Tội nghiệp cho cô Chantefleurie!

Mahiette kể tiếp:

- Thế là cô ta rất buồn rầu, rất khổ sở, nước mắt đầm đìa đến hóp má. Nhưng sống trong tủi hổ, phóng đãng, trơ trọi, hình như cô sẽ bớt tủi hổ, phóng đãng, trơi trọi, nếu trên đời còn có gì đó hoặc ai đó khiến cô có thể yêu thương và yêu thương lại cô gái. Muốn thế phải có đứa con, vì chỉ có đứa con mới đủ thơ ngây trong việc này. - Cô gái nhận ra điều đó sau khi thử yêu một tên ăn cắp, gã đàn ông duy nhất còn đoái hoài đến cô; nhưng chỉ ít lâu sau, cô nhận thấy cả tên ăn cắp cũng khinh rẻ cô.

- Đối với loại gái giang hồ, chỉ có tình nhân hoặc đứa con mới lấp đầy trái tim họ. Nếu không, họ sẽ rất khổ. Vì không có nổi tình nhân, cô chỉ còn thèm muốn có đứa con, và không ngớt cầu xin Chúa ban ơn, vì cô vẫn luôn luôn mộ đạo. Chúa lòng lành liền thương xót và ban cho cô đứa con gái. Thôi thì tha hồ khóc lóc, vuốt ve, hôn hít. Cô ta tự cho con bú, làm tã lót bằng chiếc khăn duy nhất trên giường, chẳng còn biết đói biết rét là gì. Nhờ đó cô đẹp trở lại. Gái già biến thành mẹ trẻ. Ong bướm trở lại dập dìu, khách làng chơi lại tới tìm kiếm Chantefleurie, món hàng của cô lại có kẻ ưa chuộng, và bấy nhiêu ghê tởm được cô ta biến thành tã lót, khăn mũ, yếm dãi, áo viền ren và mũ nhỏ xa tanh, cũng chẳng nghĩ tới chuyện sắm cho mình chiếc khăn khác. - Này cậu Eustache, tôi đã bảo không được ăn bánh kia mà - Chắc chắn con bé Agnès - đó là tên đứa trẻ, tên rửa tội, còn tên họ từ lâu cô Chantefleurie không còn nữa - chắc chắn con bé được quấn dải lụa và đồ thêu còn hơn cả công chúa xứ Dauphiné! Ngoài ra, con bé còn có đôi giầy nhỏ! Mà đến vua Louis XI chắc cũng chẳng có nổi một đôi tương tự! Chính tay người mẹ đã khâu và thêu đôi giày, dồn vào đó mọi khéo léo của thợ thêu kim tuyến và mọi chỉ vàng chỉ bạc của chiếc áo Đức mẹ đồng trinh. Đúng là đôi giày màu hồng xinh xắn chưa từng thấy. Nó dài không quá ngón tay cái tôi, và phải thấy đôi chân bé nhỏ của đứa trẻ rút ra khỏi giày, mới tin rằng nó có thể xỏ chân vào được. Quả tình hai bàn chân bé nhỏ thật nhỏ bé, xinh đẹp, đỏ hồng! Đỏ hồng hơn cả thứ vải xa tanh may giày! Chị Oudarde ạ, khi nào có con, chị sẽ thấy không gì đẹp bằng những bàn chân, bàn tay bé bỏng đó.

- Tôi không mong gì hơn, - bà Oudarde thở dài, nói.

- Hơn nữa, đứa con của Paquette không phải chỉ có đôi chân xinh xắn, - Mahiette kể tiếp. - Tôi đã trông thấy con bé hồi nó mới được bốn tháng. Thật dễ thương! Mắt nó to hơn miệng. Làn tóc tơ đen nhánh rất đáng yêu, đã quăn tít. Chỉ mười sáu tuổi, nó sẽ thành cô gái tóc huyền bảnh bao lắm! Mẹ nó mỗi ngày một thêm mê mẩn vì nó; nào vuốt ve, hôn hít, mơn trớn, tắm rửa, trang điểm, ngắm nghía nó mãi! Cô ta quay cuồng vì con, thầm cảm ơn Chúa. Nhất là đôi chân hồng hồng xinh xẻo, đúng là nỗi sững sờ triền miên, niềm vui sướng điên cuồng! Cô ta không rời môi hôn đôi chân con bé và không hiểu sao chân nó lại bé bỏng đến thế. Cô ta xỏ chân con vào đôi giày nhỏ, rồi rút ra, ngắm nghía, trầm trồ, soi qua ánh sáng, thương hại đôi chân đứa con chập chững bước đi trên giường và sẵn sàng suốt đời quỳ gối để mang giày và tháo giày cho hai bàn chân giống như chân của Chúa hài đồng.

- Chuyện hay lắm, nhưng chẳng thấy nhắc gì đến Ai Cập cả, - bà Gervaise khẽ nói.

- Thì đây, - Mahiette đáp. - Một hôm, có lũ người cưỡi ngựa trông thật kỳ dị kéo tới Reims. Đó là bọn người nghèo khổ và hành khất đi lang thang trong xứ, do các công tước và bá tước của họ lãnh đạo. Nước da họ ngăm đen, tóc quăn tít, tai đeo khuyên bạc. Đàn bà còn xấu hơn đàn ông. Mặt mày họ đen nhẻm và luôn luôn phơi trần, mình phủ mảnh vải xác xơ, vai buộc chiếc chăn cũ bằng bao tải, tóc tết đuôi ngựa. Đàn con chạy quẩn quanh chân họ làm khi cũng phát sợ. Đúng là đoàn người bị rút phép thông công. Bọn họ đi thẳng từ miền Ai Cập tới Reims, qua Ba Lan. Nghe đồn giáo hoàng đã rửa tội cho họ và bắt họ chuộc tội bằng cách bảy năm liền phải đi lang thang khắp nơi, không được ngủ trên giường. Cho nên họ mới mang tên kẻ chuộc tội và người họ hôi thối. Hình như trước kia họ là người Hồi giáo, cho nên họ mới tin thần Jupiter, và hễ gặp các tổng giám mục, giám mục và tu viện trưởng có đội mũ mang gậy là họ đòi mười đồng livre tiền Tour. Họ dám làm như vậy vì có sắc lệnh của giáo hoàng. Họ nhân danh vua xứ Alger và hoàng đế nước Đức để tới Reims xem bói. Các chị thừa biết như thế cũng đủ để họ bị cấm không được vào thành phố. Thế là cả bọn đành vui vẻ hạ trại ở gần cổng Braine, trên ngọn đồi có cối xay, cạnh dãy phố các mỏ phấn trắng cũ. Dân thành Reims liền lũ lượt kéo đi xem đoàn người đó. Họ xem tướng tay và nói toàn chuyện tương lai kỳ lạ. Họ dám tiên đoán Judas sẽ trở thành giáo hoàng. Trong khi đó, có tin đồn ghê gớm là họ chuyên bắt cóc trẻ con, cắt túi và ăn thịt người. Kẻ khôn ngoan bảo bọn dại dột: “Đừng tới đó”, nhưng lại lén lút đến một mình. Thật là một cuộc kích động. Vì rõ ràng họ nói những điều đến đức hồng y cũng phải kinh ngạc. Các bà mẹ hết sức hãnh diện về con cái, từ khi các mụ Ai Cập đọc chỉ tay của chúng thấy đủ mọi phép lạ, viết bằng chữ của kẻ vô thần và người Thổ Nhĩ Kỳ. Bà này có con làm hoàng đế, bà kia có con làm giáo hoàng, bà nọ có con làm đại úy. Cô gái tội nghiệp Chantefleurie cũng đâm tò mò. Cô muốn biết số mệnh con gái mình và liệu bé Agnès xinh xắn một ngày kia có trở thành hoàng hậu xứ Arménie hoặc cái gì khác không. Cô ta bèn bế con tới cho bọn Ai Cập; lũ đàn bà đó liền ngắm nghía con bé rồi vuốt ve, hôn hít nó bằng cái miệng đen ngòm, còn trầm trồ khen bàn tay xinh xắn của đứa nhỏ. Chao ôi! Người mẹ tha hồ vui sướng. Lũ chúng khen ngợi nhất là hai bàn chân xinh và đôi giày đẹp. Đứa bé chưa đầy một tuổi. Nó đã bập bẹ, cười với mẹ như con bé điên, bụ bẫm, mập mạp rồi hoa chân múa tay rất đáng yêu như tiên đồng trên thượng giới. Nó rất sợ bọn đàn bà Ai Cập, òa lên khóc. Nhưng người mẹ hôn con nhiều hơn và sung sướng ra về với lời tiên đoán tốt lành của bọn thầy bói nói về bé Agnès. Nó sẽ trở thành cô bé đẹp, hiền ngoan, một bà hoàng. Cô ta liền quay lại gian gác xép ở phố Folle-Peine, rất kiêu hãnh được bế về một bà hoàng. Hôm sau, nhân lúc con bé còn đang ngủ trên giường mẹ vì hai mẹ con nó ngủ chung với nhau, cô ta nhẹ nhàng để cửa hé mở rồi chạy đi kể cho bà láng giềng ở phố Séchesserie là sẽ có ngày con bé Agnès được mời ăn ở bàn tiệc của vua nước Anh và quận công Éthiopie, cùng vô khối chuyện hay ho khác. Khi quay về, không nghe thấy tiếng con khóc lúc lên thang gác, cô ta thầm nhủ: “May quá! Con bé vẫn ngủ”. Cô ta thấy cánh cửa mở rộng hơn lúc ra đi, nhưng người mẹ đáng thương vẫn bước vào và chạy lại giường... - đứa bé không còn đó, giường trống trơ. Không còn dấu vết gì của đứa trẻ, ngoại trừ một trong hai chiếc giày xinh đẹp. Cô ta lao ra khỏi phòng, nhảy bổ xuống cầu thang, đập đầu vào tường kêu gào: Con tôi đâu, ai bắt mất con tôi? Ai cướp mất con tôi? - Phố xá vắng tanh, căn nhà lại biệt tịch, không ai có thể chỉ cho biết điều gì. Cô ta đi khắp thành phố, lùng sục mọi ngõ ngách, suốt ngày chạy hết đó đây, điên dại, ngơ ngác, dữ tợn đánh hơi từng cửa ra vào lẫn cửa sổ như thú dữ mất con. Cô ta hớt hải, đầu tóc rối tung, trông dễ sợ, và trong khóe mắt ánh lên tia lửa làm khô hết nước mắt. Cô ta ngăn khách qua đường, đứng lên, lại kêu lên: “Con tôi! Con tôi! Con gái bé bỏng xinh đẹp của tôi đâu? Ai đem trả con tôi tôi sẽ hầu hạ, xin hầu hạ cả con chó của họ, nếu muốn ăn tim tôi cũng được”. Cô ta gặp cha xứ Saint-Remy, nói: Thưa cha, tôi xin dùng móng tay cày đất, nhưng hãy trả con cho tôi! - Chị Oudarde, nghe thật đau lòng; chính mắt tôi thấy một ông vốn tính sắt đá, ông biện lý Ponce Lacabre, cũng phải nhỏ nước mắt. - Ôi! Tội nghiệp cho người mẹ! - Buổi tối, cô ta về nhà. Khi cô vắng nhà, bà láng giềng thoáng thấy hai mụ Ai Cập ôm cái bọc trong tay lén lên gác, rồi đi xuống khép cửa lại và vội vã lẩn trốn. Họ đi khỏi rồi, người ta nghe thấy tiếng trẻ khóc trên buồng Paquette. Người mẹ cười vang, leo lên thang như mọc cánh, đâm sầm vào cửa như đạn đại bác, bước vào... - Oudarde ạ, quả thật là một vật ghê rợn. Đáng lẽ là con bé Agnès xinh đẹp, hồng hào, tươi tắn, một ân huệ của Chúa từ bi ban cho họ, thì lại là một thứ quái vật bé nhỏ, xấu xí, thọt chân, chột mắt, bất thành nhân, đang bò lê trên sàn kêu khóc. Cô ta kinh sợ lấy tay che mắt.

- Ôi! - Cô ta thầm nhủ, - không biết có phải bọn phù thủy đã hóa phép biến con ta thành quái vật khủng khiếp này chăng? - Mọi người vội mang đứa bé thọt đi nơi khác. Nếu không người mẹ phát điên lên mất. Đó là đứa con quái đản của mụ Ai Cập nào đó đi lại với quỷ sứ. Nó khoảng bốn tuổi, nói thứ tiếng không phải tiếng người; đó là những tiếng không thể gọi là tiếng nói. - Cô Chantefleurie chỉ còn biết ôm ấp chiếc giầy nhỏ, vật duy nhất còn lại của tất cả những gì yêu mến. Cô ta ngồi chết lặng hồi lâu, chẳng hề nói năng, than thở, tưởng như chết rồi. Đột nhiên, cô run bắn người lên, cuồng dại hôn hít kỷ vật rồi khóc òa nức nở như thể trái tim vừa tan nát. Thật tình tất cả chúng ta cũng phải khóc theo. Cô ta kêu lên: “Ôi! Con gái bé bỏng của mẹ! Con gái xinh đẹp của mẹ! Bây giờ con ở đâu?” - Nghe mà não lòng. Cứ nhớ tới tôi cũng ứa nước mắt. Các chị biết đấy, con cái là tủy là xương của chúng ta.

- Eustache tội nghiệp của mẹ! Con tôi xinh trai quá đi mất! Cháu nó ngoan lắm kia, các chị ạ! Hôm qua nó bảo tôi con muốn lớn lên làm hiến binh. Ôi! Eustache của mẹ! Nếu mẹ mà mất con...! - Cô Chantefleurie bỗng nhiên đứng dậy, chạy khắp thành Reims, gào lên: “Ở trại bọn Ai Cập! Ở trại bọn Ai Cập! Cảnh sát đâu, thiêu chết ngay bọn phù thủy!” - Bọn Ai Cập đi mất rồi. - Đêm tối đen. Không đuổi theo bọn họ được. Hôm sau, cách Reims hai dặm, trong rừng thạch thảo giữa Gueux và Tilloy, người ta tìm thấy dấu vết một đống lửa lớn, vài dải lụa của đứa con gái của Paquette, những giọt máu và phân dê. Đêm vừa qua lại đúng đêm thứ bảy. Chẳng còn gì phải nghi ngờ, đúng là bọn Ai Cập đã mở dạ hội trong rừng và đã ăn thịt con bé cùng với Diêm vương, như tụi Hồi giáo vẫn làm. Khi Chantefleurie được tin khủng khiếp đó, cô không khóc, chỉ mấp máy môi định nói mà không nói nỗi. Hôm sau, tóc cô ngả bạc. Hôm sau nữa, cô ta mất tích.

- Câu chuyện quả là kinh khủng, - Oudarde nói, - đến một gã xứ Bourguignon cũng phải khóc!

- Bây giờ tôi không còn lấy làm lạ là chị khiếp sợ bọn Ai Cập đến thế, - Gervaise tiếp lời.

- Lúc nãy, chị dắt Eustache chạy đi như vậy, xem ra rất phải, - Oudarde nói thêm, - vì bọn Ai Cập này cũng từ Ba Lan tới.

- Không phải đâu, - Gervaise nói. - Nghe nói họ từ Tây Ban Nha và Catalogne tới.

- Catalogne à? Có lẽ đúng. - Oudarde đáp. - Pologne, Catalogne, Valogne, tôi cứ lẫn lộn mãi ba tỉnh đó. Có điều chắc chắn họ đúng người Ai Cập.

- Và hẳn phải có răng khá dài để ăn thịt trẻ con, - Gervaise nói. - Tôi chẳng ngạc nhiên là con Esmeralda cũng ăn chút ít thịt trẻ con, tuy vẫn làm ra vẻ thanh cảnh. Con dê trắng của nó làm trò rất tinh quái, chắc phải có chuyện bậy bạ gì đó bên trong.

Mahiette lặng lẽ bước đi. Bà ta đang mải mê mơ tưởng, cơn mơ như nối tiếp câu chuyện đau lòng và chỉ chấm dứt sau khi truyền đi sự rung động, từ nhịp rung này tới nhịp rung khác, đến các thớ thịt cuối cùng trong tim. Nhưng Gervaise đã cất tiếng hỏi:

- Thế người ta không biết về sau Chantefleurie ra sao à?

Mahiette không đáp. Gervaise nhắc lại câu hỏi, lắc tay bà bạn và gọi tận tên. Mahiette như sực tỉnh khỏi cơn mơ.

- Chantefleurie về sau ra sao à? - Bà ta bất giác nhắc lại câu hỏi vừa vang ngân mơ hồ bên tai; rồi gắng chú ý tới ý nghĩa câu hỏi, bà nhanh nhảu nói: - Ồ! Chẳng ai biết nữa.

Ngừng một lát, Mahiette nói tiếp:

- Có người bảo trông thấy cô ta ra khỏi Reims vào lúc chạng vạng tối, qua cửa ô Fléchembault; có kẻ lại bảo là vào lúc tảng sáng, đằng cửa ô cũ Basée. Một người nghèo tìm thấy chiếc thánh giá bằng vàng của cô ta treo trên cây thánh giá bằng đá ở thửa đất vẫn họp hội chợ. Chính vật báu này đã làm hại đời cô ta vào năm 61. Đó là tặng vật của tử tước đẹp trai Cormontreuil, người tình đầu tiên. Paquette không bao giờ muốn rời nó, dù nghèo khốn đến đâu. Cô quý nó như đời mình. Cho nên khi thấy chiếc thánh giá bỏ đó, ai cũng nghĩ cô ta chết rồi. Tuy nhiên, nhiều người ở Cabaret-les-Vantes lại nói trông thấy cô ta đi chân không trên sỏi đá, ở con đường lên Paris. Nhưng nếu nói vậy, cô ta phải ra bằng cửa ô Velse, mà mọi cái đó lại không ăn nhập với nhau. Hoặc nói đúng hơn, tôi cũng tin quả thật cô ta đã đi ra bằng cửa ô Velse nhưng là đi ra khỏi thế giới này.

- Tôi không hiểu chị định nói gì, - Gervaise bảo.

- Velse là con sông, - Mahiette trả lời, mỉm cười buồn bã.

- Tội nghiệp cho Chantefleurie! Chết đuối ư? - Oudarde run rẩy hỏi.

- Chết đuối rồi! - Mahiette nhắc lại. - Khi vừa hát vừa thả con thuyền theo dòng nước trôi ngang dưới cầu Tinqueux, có ai dám nói với ông già Guybertaut là một ngày kia, Paquette, cô con gái thân yêu của ông, cũng sẽ đi ngang dưới cầu này, nhưng không tiếng ca mà cũng chẳng có thuyền!

- Thế còn chiếc giày nhỏ? - Gervaise hỏi.

- Cũng biến mất theo người mẹ! - Mahiette đáp.

- Tội nghiệp chiếc giày! - Oudarde nói.

Oudarde là một bà to béo và đa cảm, rất thích được cùng Mahiette than thở. Nhưng Gervaise tò mò hơn, vẫn muốn hỏi thêm.

- Còn con quái vật? - Bà ta đột nhiên hỏi Mahiette.

- Quái vật nào? - Mahiette hỏi lại.

- Con quái vật nhỏ Ai Cập mà bọn phù thủy để lại ở nhà Chantefleurie để đánh đổi lấy con bé ấy! Họ đã làm gì nó. Tôi chắc các bà cũng đem nó trôi sông nốt.

- Không đâu, - Mahiette đáp.

- Sao hả? Chắc đem thiêu sống phải không? Kể ra làm như vậy đúng hơn. Một đứa bé phù thủy.

- Không trôi sông mà cũng chẳng thiêu sống, chị Gervaise ạ. Đức tổng giám mục quan tâm đến đứa trẻ Ai Cập, đã trừ tà và ban phép lành cho nó, rồi gửi tới Paris để đặt lên chiếc giường gỗ ở nhà thờ Đức Bà làm đứa trẻ vô thừa nhận.

- Mấy ông giám mục đó thật lắm chuyện! - Gervaise làu bàu nói. - Vì họ thông thái nên họ toàn làm khác người. Này Oudarde, chị thấy chưa, ai lại đặt quỷ sứ vào chỗ trẻ vô thừa nhận bao giờ! Vì rõ ràng thằng bé quái vật là quỷ sứ rồi. - Này Mahiette, thế họ đã làm gì nó ở Paris? Tôi chắc chẳng có kẻ từ tâm nào nhận nuôi.

- Tôi không rõ, - bà dân thành Reims đáp. - Đúng vào dịp đó, chồng tôi mua được chân lục sự ở Beru, cách thành phố hai dặm, rồi chúng tôi cũng không để ý tới chuyện đó nữa; vả lại, trước mặt Beru có hai ngọn đồi Cecnay, che khuất cả tháp chuông nhà thờ lớn thành Reims.

Vừa đi vừa nói chuyện, ba bà thị dân đáng kính đã tới quảng trường Grève. Mải trò chuyện, các bà đi thẳng không dừng lại trước cuốn kinh công cộng ở tháp Roland, cứ vô tình bước tới giàn bêu tù mỗi lúc một đông người xúm quanh. Chắc hẳn cảnh tượng đang thu hút mắt mọi người lúc đó, làm ba bà quên bẵng mất Hang chuột cùng dự tính dừng lại đó, nếu chú bé mập mạp sáu tuổi Eustache, đang bị Mahiette lếch thếch kéo đi, không đột nhiên nhắc tới vật cầm tay:

- Mẹ ơi, - nó nói, như có linh tính báo cho biết đã đi qua Hang chuột, - bây giờ con ăn bánh được chứ?

Nếu Eustache khôn ngoan hơn, nghĩa là bớt tham ăn, nó sẽ đợi thêm, và chỉ lúc quay về đến nhà, ở Khu đại học, tại nhà thầy Andry Musnier, phố Madame-la-Valence, lúc đã được hai nhánh sông Seine và năm chiếc cầu ở Khu thành cũ ngăn cách Hang chuột với chiếc bánh, tới lúc đó nó hãy rụt rè đưa ra câu nói:

- Mẹ ơi, bây giờ con ăn bánh được chứ?

Cũng câu hỏi đó, trót dại dột đưa ra lúc bấy giờ, làm Mahiette sực nhớ, kêu lên:

- Thôi chết, ta quên mất bà tu kín rồi! Chị chỉ cho tôi Hang chuột, để tôi mang bánh lại.

- Được thôi, - Oudarde nói. - Đây là chuyện làm phúc.

Đó là điều Eustache không tính tới.

- Thì đây, bánh đây này! - Nó nói, lần lượt nhún hai vai tới tận tai, trong trường hợp này, là dấu hiệu giận dỗi ghê gớm.

Ba bà quay lại, khi tới gần ngôi nhà ở tháp Roland, Oudarde bảo hai bà kia:

- Cả ba chúng ta không nên cùng một lúc nhìn vào hang, e làm bà tu kín dòng Túi sợ hãi. Hai bà hãy giả vờ đọc kinh Dominus* trong cuốn kinh, để tôi ngó vào cửa sổ một tí. Bà tu kín có hơi quen tôi. Khi nào tới được, tôi sẽ ra hiệu cho các chị.

Dominus: Chúa.

Bà ta một mình đi tới cửa sổ. Lúc nhòm vào, nét mặt bà lộ vẻ vô cùng thương hại, khuôn mặt vui tươi, cởi mở, đột nhiên biến đổi hẳn sắc thái như từ dưới ánh nắng đi vào ánh trăng. Mắt bà rớm lệ, miệng mếu máo như sắp khóc. Lát sau, bà đặt ngón tay lên môi, ra hiệu cho Mahiette lại gần mà xem.

Mahiette xúc động, lặng lẽ, rón rén lại gần, như tới bên giường người hấp hối.

Quả thật là cảnh tượng buồn thảm đang diễn ra trước mắt hai người, khi họ im lìm, nín thở, nhìn qua cửa sổ chấn song của Hang chuột.

Căn phòng chật hẹp, chiều ngang rộng hơn chiều sâu, trần hình cung nhọn, nhìn bên trong khá giống chóp mũ lễ lớn của giám mục. Trên nền đá lát trống trơn, ở một góc, có người đàn bà đang ngồi, đúng ra là ngồi xổm. cằm tì lên đầu gối, hai cánh tay khoanh lại ghì chặt lấy ngực. Bà ta ngồi co quắp, mình khoác bao tải nâu hằn nếp rộng, phủ kín toàn thân, tóc dài chớm bạc xõa xuống trước mặt, chảy dài xuống tận chân; thoạt nhìn, hình thù bà ta trông thật kỳ dị, cắt trên nền tối gian phòng thành thứ hình tam giác đen sạm mà tia sáng chiếu qua cửa sổ in rõ thành hai màu, một tối một sáng: Đó là thứ bóng ma nửa sáng nửa tối, như thường thấy trong mộng và trong tác phẩm kỳ quái của Goya, mờ nhạt, bất động, rùng rợn, ngồi xổm trên mộ hoặc tựa lưng vào cửa sắt ngục tối. Nó không ra đàn bà, không ra đàn ông, cũng chẳng phải người sống, chẳng có hình khối xác định: chỉ là một hình thù; một thứ ảo ảnh hỗn hợp cả cái thật lẫn cái hư, như bóng tối và ánh sáng. Dưới làn tóc buông xõa tới đất, thấp thoáng khuôn mặt trông nghiêng hốc hác và nghiêm nghị; manh áo dài để lộ đầu bàn chân không, bíu lấy nền đá cứng lạnh. Chút hình hài lấp ló sau cái vỏ tang tóc khiến ta rùng mình.

Hình thù như gắn liền với nền đá lát có vẻ không cử động, không ý nghĩ, không hơi thở. Sau bao tải mong manh, giữa tháng giêng, nằm sóng soài không chăn đệm trên nền đá cứng, chẳng đốt lửa, trong bóng tối ngục kín có khung cửa sổ chéo chỉ để lọt từ bên ngoài vào gió lạnh chứ không bao giờ có ánh nắng, hình thù như không khổ sở, thậm chí không cảm xúc. Có thể nói nó hóa đá cùng ngục tối, hóa băng cùng thời tiết. Đôi tay chắp lại, cặp mắt đăm đăm. Thoạt nhìn tưởng đó là bóng ma, nhìn lại, tưởng đó là pho tượng.

Tuy nhiên, cặp môi xanh xám thỉnh thoảng hé mở lại thở phào và run lên, nhưng cũng khô héo và tự động như lá lay trước gió.

Tuy nhiên từ cặp mắt ảm đạm bật ra tia nhìn, một tia nhìn khó tả, tia nhìn sâu thẳm, rùng rợn, sững sờ, luôn nhìn chằm chằm vào góc phòng mà ta đứng ngoài không trông thấy; một tia nhìn như thu hút mọi ý tưởng đen tối của linh hồn đau khổ đó vào một vật gì bí hiểm.

Đó là con người mang tên tu kín do nơi ở, và dòng Túi do khoác bao tải.

Gervaise cũng tới đứng cạnh Mahiette và Oudarde, cho nên cả ba cùng nhìn qua cửa sổ. Đầu họ ngăn bớt ánh sáng lọt vào phòng; vậy mà con người khốn khổ hình như cũng chẳng để ý gì tới ba người che khuất cửa.

Oudarde khẽ bảo:

- Đừng quấy rầy bà ta, bà ta đang say mê cầu nguyện.

Nhưng Mahiette mỗi lúc một lo ngại thêm, ngắm nhìn cái đầu hốc hác, héo úa, rối bù và cặp mắt đẫm lệ. Bà thầm thì:

- Kể cũng lạ thật.

Bà lách đầu qua chấn song cửa và nhìn được vào tận góc phòng, nơi cặp mắt con người khốn khổ vẫn đăm đăm dán vào.

Khi rút đầu ra, khuôn mặt bà đầm đìa nước mắt. Bà hỏi Oudarde:

- Chị bảo tên người đàn bà này là gì?

Oudarde trả lời:

- Chúng tôi gọi là dì phước Gudule.

- Còn tôi, - Mahiette nói, - tôi gọi là Paquette la Chantefleurie.

Rồi đặt ngón tay lên miệng, bà ra hiệu cho Oudarde đang kinh ngạc, hãy thò đầu qua cửa sổ mà xem.

Oudarde nhìn vào và thấy ở góc phòng, nơi con mắt bà tu kín đang âm thầm mê mẩn ngó nhìn, một chiếc giày nhỏ bằng vải sa tanh hồng thêu đủ thứ kim tuyến và ngân tuyến.

Sau Oudarde đến lượt Gervaise nhìn vào, thế là cả ba bà cùng ngắm nhìn bà mẹ đau khổ rồi òa lên khóc.

Tuy nhiên bà tu kín vẫn không hề để ý tới mọi cái nhìn lẫn tiếng khóc. Hai bàn tay bà vẫn chắp lại, cặp môi nín câm, đôi mắt đăm đăm và đối với những ai biết chuyện, nhìn thấy chiếc giày xinh xắn nọ, hẳn phải tan nát cõi lòng.

Cả ba bà chưa nói lời nào: họ không dám, dù chỉ nói thầm. Sự im lặng to lớn, nỗi đau khổ to lớn, niềm lãng quên to lớn mà tất cả đều biến mất, ngoại trừ một vật, làm ba người có cảm tưởng đứng trước chính diện của một ngày lễ Phục sinh hoặc Giáng sinh. Họ nín lặng, trầm ngâm, sẵn sàng quỳ xuống cầu nguyện. Họ thấy như vừa bước vào giáo đường đúng ngày Bóng tối.

Cuối cùng, Gervaise, người tò mò nhất do đó ít xúc động nhất, gắng gợi chuyện bà tu kín:

- Dì phước ơi! Dì phước Gudule ơi!

Bà gọi đi gọi lại tới ba lần, mỗi lần mỗi to hơn. Bà tu kín không nhúc nhích. Không một lời, không ngước nhìn, không hơi thở, không dấu hiệu sống.

Đến lượt Oudarde gọi dịu dàng và âu yếm hơn:

- Dì phước ơi! Dì phước Thánh bà Gudule ơi!

Vẫn im lặng và bất động như cũ. Gervaise thốt lên:

- Cái bà này thật kỳ quặc! Giá đem súng thần công tới bắn bên tai cũng chưa chắc bà ta động lòng!

- Có khi bà ta điếc. - Oudarde thở dài nói.

- Không chừng mù nữa, - Gervaise thêm.

- Mà có khi chết rồi, - Mahiette tiếp lời.

Có điều chắc chắn nếu linh hồn chưa rời thể xác bất động, ngủ yên, hôn mê đó, ít nhất nó cũng đã rút lui và ẩn trốn tận nơi sâu thẳm mà giác quan bên ngoài không thâm nhập tới được.

Oudarde bảo:

- Thôi đành để lại chiếc bánh bên cửa sổ. Khéo không thằng nhãi nào lại lấy mất. Làm thế nào đánh thức được bà ta bây giờ?

Eustache từ nãy đến giờ mải xem con chó lớn kéo chiếc xe nhỏ vừa đi ngang qua, bỗng nhận thấy ba bà dẫn nó đi đang nhìn gì qua cửa sổ, riêng nó cũng tò mò, trèo lên một mốc đá, kiễng chân và áp khuôn mặt tròn xoe, đỏ hồng vào khung cửa, kêu lên:

- Mẹ ơi, con cũng nhìn thấy!

Nghe thấy tiếng trẻ trong trẻo, tươi mát, lanh lảnh, bà tu kín bỗng giật mình. Bà quay đầu lại, cử chỉ cứng nhắc và đột ngột như lò xo thép, hai bàn tay dài trơ xương gạt mớ tóc rũ xuống trán rồi chằm chằm nhìn đứa trẻ bằng cặp mắt kinh ngạc, chua chát, tuyệt vọng. Tia mắt chỉ thoáng qua như ánh chớp. Bà giấu mặt vào đầu gối, đột nhiên kêu lên, tiếng nói khàn khàn như xé rách lồng ngực mà thoát ra:

- Trời đất ơi! Ít nhất cũng đừng đem con của người khác đến trêu ta!

- Chào bác ạ! - Đứa trẻ nghiêm trang nói.

Nhưng phút xúc động hầu như làm bà tu kín sực tỉnh. Toàn thân run rẩy từ đầu đến chân, răng đánh lập cập, đầu hơi ngẩng lên, hai khuỷu tay kẹp lấy hông, tay nắm lấy chân như để sưởi ấm, bà nói:

- Ôi! Rét quá!

- Tội nghiệp, bà có cần chút lửa sưởi không? - Oudarde thương xót, hỏi.

Bà ta lắc đầu từ chối, Oudarde chìa cái chai, nói:

- Này, có chút rượu quế đây, uống cho ấm bụng. Bà uống đi.

Bà ta lại lắc đầu, nhìn Oudarde chằm chằm và đáp:

- Cho tôi ngụm nước.

- Không, bà ạ, nước không phải là thức uống tháng giêng, - Oudarde nài ép. - Nên uống chút rượu quế, rồi ăn chiếc bánh rán men bột ngô chúng tôi làm riêng cho bà đây.

Bà ta gạt chiếc bánh Mahiette đưa ra và bảo:

- Cho tôi bánh mì đen.

- Này bà, - đến lượt Gervaise cũng động lòng từ thiện, cởi chiếc áo len ngắn, nói - chiếc áo ngoài này ấm hơn cái của bà. Bà hãy choàng thêm lên vai.

Bà ta từ chối chiếc áo cũng như chai rượu và chiếc bánh, và đáp:

- Cho tôi cái bao tải.

- Thế bà không thấy hôm qua chả là ngày hội sao? - Bà Oudarde tốt bụng nài ép.

- Tôi biết chứ, - bà tu kín nói. - Đã hai hôm nay, cái vò của tôi hết sạch nước rồi.

Bà nín lặng giây lát rồi nói tiếp:

- Vì ngày hội nên họ quên tôi. Thế là phải. Tại sao lại bắt thiên hạ nhớ đến tôi, khi tôi chẳng nghĩ đến họ? Than tắt thì tro lạnh.

Rồi như mệt vì nói nhiều, bà gục đầu xuống gối. Bà Oudarde đơn giản và nhân từ tưởng câu nói cuối cùng của bà ta vẫn là than thở mình bị lạnh, nên ngây thơ đáp:

- Thế bà có cần chút lửa sưởi không?

- Lửa ư? - Bà tu kín hỏi lại, giọng kỳ lạ, thế bà có đốt được chút lửa để sưởi cho cả con bé tội nghiệp từ mười lăm năm nay vẫn nằm dưới lòng đất không?

Tay chân run lên, giọng vang động, mắt lấp lánh, bà quỳ lên. Bỗng bà giơ bàn tay trắng gầy chỉ đứa bé đang nhìn mình ngơ ngác và thét lên:

- Hãy dắt đứa bé kia đi! Con mụ Ai Cập sắp tới đấy!

Thế rồi bà ta ngã sấp mặt xuống đất, trán đập xuống sàn, như tiếng đá đụng phải đá. Ba bà kia tưởng bà ta chết mất. Nhưng lát sau, bà cựa quậy và họ thấy bà bò lê bằng đầu gối và khuỷu tay tới góc phòng có chiếc giày nhỏ. Thế là họ không dám nhìn vào, không trông thấy gì nữa, nhưng nghe rõ trăm ngàn chiếc hôn và tiếng thở dài lẫn tiếng kêu xé ruột cùng tiếng thình thịch như đập đầu vào tường. Rồi sau một tiếng đập, mạnh đến nỗi cả ba cùng lảo đảo, họ không nghe thấy gì nữa, Gervaise đánh bạo thò đầu vào cửa sổ, nói:

- Bà ta tự tử chết rồi chăng? Dì phước ơi, dì phước Gudule!

- Dì phước Gudule ơi! - Oudarde gọi theo.

- Ôi! Trời ơi! Bà ta không cựa quậy nữa! - Gervaise nói, - hay bà ta chết rồi? - Gudule! Gudule!

Mahiette từ nãy nghẹn thở không cất nổi lời, cũng cố gắng bảo:

- Khoan đã! - Rồi bà nhòm qua cửa sổ, gọi - Paquette, Paquette la Chantefleurie.

Đứa trẻ dại dột thổi vào ngòi pháo làm nó nổ trúng mắt cũng không hoảng sợ bàng Mahiette trước hậu quả của cái tên gọi được đột ngột réo lên trong căn phòng dì phước Gudule.

Bà tu kín run rẩy toàn thân, đứng thẳng trên hai bàn chân trần, mắt tóe lửa nhảy bổ lại cửa sổ, làm Mahiette, Oudarde và cả bà kia lẫn đứa trẻ cùng lùi lại tới lan can bến sông.

Trong khi đó, khuôn mặt thê thảm của bà tu kín dán chặt lấy dãy chấn song cửa sổ. Bà cười ghê rợn, kêu lên:

- Ồ! Ồ! Hóa ra con mụ Ai Cập gọi ta!

Vừa lúc đó, cảnh tượng đang diễn ra trên giàn bêu tù liền thu hút cặp mắt hốt hoảng của bà ta. Trán nhăn lại hãi hùng, bà giơ hai cánh tay trơ xương ra ngoài cửa sổ, rồi giọng rên rỉ thét lên:

- Hóa ra vẫn là mày, đứa con gái Ai Cập kia! Đồ mẹ mìn dỗ trẻ, mày gọi tao đó ư! Này quân kia! Tao nguyền rủa mày! Đồ chết tiệt, chết tiệt! Chết tiệt!

Ca —★— Nhà Thờ Đức Bà Paris Văn học Kinh điển ebook©MotSAch TVE-4u©VCTVEGROUP —★— Nhà Xuất Bản Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh 2000
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.