Nhà Thờ Đức Bà Paris

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ii Cái Này Sẽ Giết Cái Kia
Ii Cái Này Sẽ Giết Cái Kia

❊ ❊ ❊

Bạn đọc gái sẽ thứ lỗi cho tác giả phải ngừng lại giây lát ở đây, để tìm xem tư tưởng nào đã ẩn náu dưới lời lẽ bí hiểm của phó chủ giáo: Cái này sẽ giết cái kia. Cuốn sách sẽ giết tòa nhà.

Theo ý chúng tôi, tư tưởng đó có hai mặt. Trước hết, đó là một tư tưởng của linh mục. Là sự sợ hãi của giáo quyền trước một động lực mới, nghề in... Là nỗi kinh hoàng và choáng váng của kẻ phụng sự đền miếu trước máy in chói sáng của Gutenberg. Là tòa giảng và sách chép tay, lời nói miệng và lời viết ra hoảng sợ trước lời nói đem in; đại khái giống nỗi khiếp hãi của con chim tước trông thấy thiên thần Légion xòe ra sáu triệu cánh. Là tiếng kêu của nhà tiên tri sớm nghe thấy xào xạc và nhung nhúc đám nhân loại được giải phóng, trông thấy trong tương lai trí tuệ sẽ hủy hoại đức tin, dư luận sẽ hạ bệ tín ngưỡng, thế giới lay chuyển La Mã. Là dự đoán của triết gia trông thấy tư tưởng con người bốc hơi bởi máy in, bay thoát khỏi chiếc bình thần học. Là nỗi kinh sợ của người lính khi xem xét chiếc đầu cừu phá thành bằng đồng và nói: tòa tháp sẽ sụp đổ. Như thế có nghĩa một lực lượng sắp thay thế một lực lượng khác. Như thế có nghĩa: Máy in sẽ giết nhà thờ.

Nhưng đằng sau tư tưởng đó, có lẽ là tư tưởng khởi đầu và đơn giản nhất, theo ý chúng tôi, còn một tư tưởng khác, mới hơn, một hệ luận của tư tưởng thứ nhất, khó nhận thấy nhưng dễ bài bác, một quan điểm cũng triết học tương tự, không phải riêng của linh mục, mà của nhà bác học và nghệ sĩ. Đó là mối linh cảm khi thấy tư tưởng con người đã thay đổi hình thái, cũng sẽ thay đổi luôn cả cách thức biểu hiện, thấy ý tưởng căn bản của mỗi thế hệ sẽ không còn viết ra với cùng một chất liệu và cùng một phương thức, thấy cuốn sách bằng đá, vốn rất vững chắc và lâu bền, sẽ nhường chỗ cho cuốn sách bằng giấy, còn vững chắc và lâu bền hơn. Theo tương quan đó, công thức mơ hồ của phó chủ giáo mang ý nghĩa thứ hai; nó có nghĩa một nghệ thuật sắp hạ bệ một nghệ thuật khác. Nó muốn nói: ấn loát sẽ giết kiến trúc.

Thật vậy, từ khởi thủy cho đến thế kỷ mười lăm theo công nguyên, kiến trúc là cuốn sách lớn của nhân loại, biểu hiện chủ yếu của con người ở mọi trạng thái phát triển khác nhau, về mặt năng lực cũng như trí tuệ.

Khi trí nhớ của các chủng tộc đầu tiên cảm thấy quá chồng chất, khi hành lý kỉ niệm của nhân loại trở nên quá nặng và lộn xộn làm cho lời nói trần trụi và biết bay có nguy cơ rơi vãi dọc đường, người ta bèn ghi nó lên mặt đất bằng cách dễ thấy, bền bỉ và tự nhiên nhất. Người ta ghi ấn mỗi tập quán bằng một đền đài.

Các đền đài đầu tiên chỉ là những tảng đá tầm thường mà sắt chưa đụng tới, như lời Moïse nói. Kiến trúc cũng bắt đầu như mọi thứ văn tự. Đầu tiên là vần chữ cái. Người ta dựng đứng một tảng đá, thế là có một chữ, và mỗi chữ là một tượng hình, và trên mỗi tượng hình có một nhóm ý tưởng như cái chóp trên đầu cột. Các chủng tộc đầu tiên đã làm như vậy, ở khắp nơi, cùng một lúc, trên toàn thế giới. Các tảng đá dựng đứng của giống người Celtes cũng tìm thấy ở Sibérie châu Á, ở đồng cỏ châu Mỹ.

Về sau, người ta góp thành từ. Đá chồng chất lên đá, người ta ghép các vần đá lại, ngôn từ tìm các cách sắp xếp. Các huyệt đá nằm, đá đứng của người Celtes, gò nấm của người Étrusque, mộ đá của người Do Thái đều là những từ. Có một số, nhất là gò nấm, là danh từ riêng. Kể cả đôi khi, sẵn có nhiều đá và bãi biển rộng, người ta viết thành câu. Vùng đá chồng chất mênh mông ở Karnac là cả một công thức đầy đủ rồi.

Cuối cùng họ viết thành sách. Tập quán đã sản sinh các biểu tượng, rồi biến mất sau biểu tượng như thân cây biến mất dưới vòm lá; mọi biểu tượng mà nhân loại tin tưởng đó, ngày càng nhiều lên, tăng thêm, giao hòa, phức tạp hơn mãi; các đền đài đầu tiên không còn đủ chứa đựng hết; các đền đài đó mới chỉ diễn đạt được tập tục cổ sơ, cũng còn đơn giản, trần trụi và nằm sát mặt đất như các kiến trúc thôi. Biểu tượng cần triển khai trong đền đài. Lúc đó, kiến trúc phát triển cùng với tư tưởng nhân loại; nó trở thành khổng lồ, mọc nghìn đầu, nghìn tay, và cố định dưới một dạng thức vĩnh cửu, trông thấy được, sờ mó được, tất cả cái biểu tượng phiêu diêu đó. Trong khi Dédale, vốn là sức lực, thì đo lường, trong khi Orphée, vốn là trí tuệ, lại ca hát, thì cây cột là một chữ, vòm cung là một vần, kim tự tháp là một từ, chúng cùng lúc chuyển động theo định luật kỷ hà và định luật thi ca, chúng quy tụ, kết hợp, pha trộn, thăng giáng, chất chồng trên mặt đất, ngất nghểu giữa trời cao, tới khi chúng tuân theo tư tưởng tổng quát của thời đại đọc cho mà viết nên các cuốn sách tuyệt diệu, cũng tức là các đền đài miếu mạo tuyệt vời: Chùa Eklinga, miếu Rhamseïon của Ai Cập, đền Solomon.

Tư tưởng mẹ, ngôn từ, không phải chỉ có trong nội dung của mọi đền đài, mà còn ở hình thức. Chẳng hạn ngôi đền Solomon không chỉ đơn giản là tờ bìa bọc cuốn kinh thánh, mà chính là cuốn kinh thánh đích thân. Trên mỗi bức tường, đồng tâm của tòa đền, các tu sĩ có thể đọc thấy ngôn từ được diễn tả và biểu lộ trước mắt, do đó họ theo dõi được các biến đổi từ điện này sang điện khác, tới khi nắm được nó trong các khám thờ cuối cùng dưới hình thức cụ thể nhất, cũng lại là kiến trúc: tráp đựng Pháp điển. Như vậy là ngôn từ chứa đựng trong đền đài, nhưng hình ảnh lại ở vỏ ngoài, như khuôn mặt người trên quan tài một xác ướp.

Không chỉ riêng hình khối của kiến trúc mà cả địa thế chọn lựa để xây cũng bộc lộ tư tưởng tiêu biểu cho nó. Tùy theo biểu tượng định diễn đạt cần tráng lệ hoặc âm u. Hy Lạp dựng trên đỉnh núi một ngôi đền hài hòa đẹp mắt, Ấn Độ khoét sâu lòng núi để chạm trổ các chùa hình thù kỳ dị dưới hang, có từng dãy voi đá hoa cương khổng lồ chống đỡ.

Như vậy, trong vòng sáu ngàn năm đầu của thế giới, từ ngôi chùa lâu đời nhất ở Hindoustan tới nhà thờ Cologne, kiến trúc đã là thứ văn tự vĩ đại của nhân loại. Mà điều đó đúng đến nỗi không chỉ các biểu tượng tôn giáo, mà mọi tư tưởng nhân loại đều có trang riêng trong cuốn sách vĩ đại đó và có tòa kiến trúc riêng.

Mọi nền văn minh đều bắt đầu bằng thần quyền và kết thúc bằng dân chủ. Quy luật tự do tiếp theo nền nhất thống được viết trong kiến trúc. Bởi vì, xin nhấn mạnh vào điểm này, đừng tưởng rằng công cuộc xây cất chỉ có khả năng xây dựng đền miếu, chỉ thể hiện các huyền thoại và sự tượng trưng giáo quyền, chỉ ghi chép các biểu đồ bí hiểm của định luật bằng những tượng hình trên trang sách đá. Nếu như vậy, vì trong mọi xã hội loài người đều có lúc biểu tượng thần thánh bị hư mòn và tiêu ma trước tư tưởng tự do, lúc con người lẩn tránh tu sĩ, lúc sự phát triển của triết học và thiết chế gặm nhấm bộ mặt của tôn giáo, nếu như vậy thì kiến trúc sẽ không thể diễn đạt nổi tình trạng tinh thần mới của con người, các trang sách, đã đặc chữ mặt này, sẽ trống không mặt kia, tác phẩm sẽ bị sai lệch, cuốn sách sẽ thiếu sót. Nhưng không phải thế.

Có thể lấy thời trung cổ làm ví dụ, vì nó gần ta hơn nên dễ nhìn rõ hơn. Suốt thời kỳ đầu, trong khi chế độ giáo quyền tổ chức châu Âu, trong khi Vatican tập hợp và sắp xếp quanh mình các thành phần của một La Mã dựng lên bằng thứ La Mã đổ vỡ nằm xung quanh điện Capitole, trong khi Cơ đốc giáo đi tìm, giữa đống hoang tàn của nền văn minh trước đó, mọi tầng lớp của xã hội và xây dựng lại bằng tàn tích đó một thế giới với trật tự mới, lấy giáo quyền làm nền tảng, trước hết người ta nghe thấy âm vang từ đám hỗn độn đó, rồi dần dần trông thấy dưới hấp lực của Cơ đốc giáo, dưới bàn tay các man tộc, từ đống hoang tàn các kiến trúc đã chết, Hy Lạp và La Mã, xuất hiện nền kiến trúc bí hiểm roman, chị em với các kiến trúc thần linh ở Ai Cập và Ấn Độ, biểu tượng bất hủ của Cơ đốc giáo thuần nhất, tượng hình bất diệt của nền thống nhất giáo hoàng. Đúng là toàn bộ tư tưởng hồi đó được viết trong phong cách roman âm u. Ở khắp nơi, và toát ra uy quyền, nhất thống, thâm nghiêm, chuyên chế, tức giáo hoàng Grégoire VII; khắp nơi là linh mục, không hề có người thường; khắp nơi là đẳng cấp, không hề có dân chúng. Nhưng rồi cuộc thập tự chinh xảy ra. Đó là phong trào dân chúng rộng lớn; và bất kể phong trào dân chúng rộng lớn nào, dù nguyên nhân và mục đích ra sao, cũng đều luôn toát lên tinh thần tự do từ lớp cặn lắng cuối cùng. Cái mới liền xuất hiện. Thế là mở đầu thời kỳ bão tố của loạn Jacqueries, loạn Pragueries và loạn Liên đoàn. Quyền hành lung lay, nền nhất thống rạn nứt. Chế độ phong kiến yêu cầu được chia sẻ với chế độ giáo quyền và trong khi chờ đợi, dân chúng chắc chắn sẽ nổi dậy và sẽ chiếm phần béo bở nhất, như thường lệ. Quia nominor leo*. Do đó quyền lãnh chúa trồi lên dưới giáo quyền, quyền công xã trồi lên dưới quyền lãnh chúa. Bộ mặt châu Âu thay đổi. Thế là bộ mặt kiến trúc cũng thay đổi theo. Cũng như nền văn minh, nó giở sang trang, và tinh thần mới của thời đại thấy kiến trúc sẵn sàng viết theo lời nó đọc. Kiến trúc từ các cuộc thập tự chinh trở về với hình cung nhọn, như các dân tộc trở về với nền tự do. Thành ra, trong khi La Mã dần dần tan rã, nền kiến trúc roman cũng chết theo. Tượng hình rời bỏ giáo đường để tái tô điểm cho các huy hiệu trên vọng lâu, nâng cao uy danh chế độ phong kiến. Ngay cả giáo đường, tòa nhà xưa kia nặng nề giáo lý như vậy bây giờ cũng bị xâm chiếm bởi thị dân, công xã, tự do, cũng thoát khỏi linh mục và rơi vào tay nghệ sĩ. Nghệ sĩ, tùy ý xây dựng nhà thờ. Vĩnh biệt những huyền bí, huyền thoại, quy tắc. Bây giờ là phóng túng và tùy hứng. Miễn sao linh mục có giáo đường và bàn thờ, thế là được. Còn bốn bức tường thuộc về nghệ sĩ. Cuốn sách kiến trúc không thuộc về giáo quyền, tín ngưỡng La Mã nữa; bây giờ là của tưởng tượng, thi ca, dân chúng. Từ đó dẫn tới vô vàn biến đổi nhanh chóng của nền kiến trúc chỉ mới có ba thế kỷ, đó là những biến đổi thật rõ rệt sau sự bất động trí tuệ của nền kiến trúc roman đã có tới sáu, bảy thế kỷ. Trong khi đó, nghệ thuật tiến những bước khổng lồ. Thiên tài và tính độc đáo của nhân dân làm công việc xưa kia của giám mục. Mỗi chủng tộc đi ngang qua đều ghi lại dòng chữ riêng lên cuốn sách; nó xóa bỏ các tượng hình roman cổ lỗ trên mặt tiền nhà thờ, và nhiều lắm cũng chỉ thấy giáo lý ngoi lên đây đó dưới biểu tượng mới vừa được thiết lập. Tấm thảm che của dân chúng chỉ cho phép thấy thấp thoáng bộ xương tôn giáo.

“Bởi vì ta tên là sư tử” (một câu thơ của nhà thơ ngụ ngôn Latinh Perdre).

Thật khó tưởng tượng nổi sự phóng túng hồi đó của kiến trúc sư, ngay cả đối với giáo hội. Đó là các nóc cột quấn quýt những nam nữ tu sĩ lõa lồ ăn nằm với nhau, như ở gian phòng Lò sưởi trong Tòa pháp đình tại Paris. Đó là cuộc phiêu lưu của Nóe được chạm trổ đầy đủ rõ ràng như dưới cổng lớn nhà thờ ở Bourges. Đó là lão tu sĩ say khướt có cặp tai lừa, tay cầm chén rượu, đang cười vào mũi cả một tập thể, như trên bồn rửa tay trong tu viện ở Bocherville. Vào thời đó, đối với tư tưởng viết bằng đá, có một đặc quyền hoàn toàn so sánh được với quyền tự do báo chí hiện nay. Đó là quyền tự do kiến trúc.

Nền tự do đó đi rất xa. Đôi khi, một cánh cổng, một mặt tiền, một nhà thờ nguyên vẹn dám biểu lộ một ý nghĩa tượng trưng hoàn toàn xa lạ với tín ngưỡng, hoặc thậm chí thù nghịch với giáo hội. Từ thế kỷ mười ba với Guillaume de Paris, còn Nicolas Flamel vào thế kỷ mười lăm, cả hai đều viết những trang phản loạn: Saint-Jacques de La Boucherie đúng là một nhà thờ chống đối.

Lúc bấy giờ tư tưởng chỉ tự do bằng cách đó cho nên chỉ được viết hoàn toàn trọn vẹn trên các cuốn sách đó, mang tên đền đài. Không có hình thức đền đài, tư tưởng sẽ bị bàn tay đao phủ đưa ra đốt giữa nơi công chúng dưới hình thức sách chép tay, nếu nó khờ dại làm liều như vậy. Tư tưởng kiểu cổng nhà thờ hẳn đã chứng kiến cuộc xử giảo tư tưởng kiểu sách. Vì chỉ còn con đường đó, tức xây dựng, cho nên muốn ló mặt, tư tưởng từ khắp nơi liền đổ xô tới. Do đó mới có số lượng khổng lồ những nhà thờ trải khắp châu Âu, số lượng to tát đến nỗi khó lòng tin, ngay khi đã kiểm tra rồi. Mọi lực lượng vật chất, lực lượng tinh thần trong xã hội đều quy tụ vào một điểm: kiến trúc. Vì vậy vin cớ xây dựng nhà thờ Chúa, nghệ thuật phát triển theo quy mô rực rỡ.

Hồi đó, ai sinh ra là thi sĩ đều trở thành kiến trúc sư. Tài năng rải rác trong đám đông, bị dồn ép khắp nơi dưới chế độ phong kiến như dưới mai rùa kết bằng các tấm khiên đồng, chỉ còn lối thoát về phía kiến trúc, tài năng đó đổ dồn vào nghệ thuật này và trường ca Iliad liền mang hình thức giáo đường. Mọi nghệ thuật khác đều vâng lời và phục tùng môn kiến trúc. Đó là những người thợ của công trình lớn. Kiến trúc sư, thi sĩ, vị chủ nhân đã thâu tóm trong tay môn điêu khắc để chạm trổ các mặt tiền, môn hội họa để tô điểm các kính cửa, môn âm nhạc để rung chuông và thổi gió vào đại phong cầm. Ngay cả nền thi ca đích thực tội nghiệp, vẫn khăng khăng sống vất vưởng trong sách chép tay, nếu muốn tồn tại cũng buộc phải tới nép mình trong đền đài dưới hình thức bài ngợi ca hoặc tản văn; dù sao cũng vẫn như vai trò của bi kịch Eschyle trong ngày hội lễ giáo quyền ở Hy Lạp, hoặc tích sang thế kỷ trong đền Solomon.

Như vậy, cho tới thời Gutenberg, kiến trúc là thứ văn tự chủ yếu, văn tự phổ biến. Cuốn sách bằng đá bắt đầu từ phương Đông, tiếp tục qua thời cổ đại Hy Lạp và La Mã, được thời trung cổ viết nốt trang cuối cùng. Dù sao, hiện tượng nền kiến trúc bình dân tiếp theo nền kiến trúc đẳng cấp, mà ta vừa nhận thấy ở thời trung cổ, còn nảy sinh, cùng với mọi trào lưu tương tự trong trí tuệ con người, vào các thời đại lớn khác của lịch sử. Cho nên, chỉ xin sơ lược nêu ra ở đây một quy luật, cần được phát triển trong nhiều cuốn sách; vào thời tiền Đông phương, cái nôi của những thời cổ đại, sau nền kiến trúc Ấn Độ là nền kiến trúc Phénicie, bà mẹ phương phi của nền kiến trúc Ai Cập; vào thời cổ đại, sau nền kiến trúc Ai Cập mà kiểu cách và đền đài khổng lồ chỉ là một biến thể, là nền kiến trúc Hy Lạp, mà kiểu cách La Mã chỉ là một tiếp nối được chất nặng thêm vòm mái kiểu Carthaginoi; vào thời hiện đại, sau nền kiến trúc roman là nền kiến trúc Gothic. Và nếu tách đôi tính cách của ba loại đó, người ta sẽ tìm thấy trên ba cô chị, tức các nền kiến trúc Ấn Độ, Ai Cập, roman cùng một biểu tượng; đó là thần quyền, đẳng cấp, nhất thống, giáo điều, huyền thoại, Chúa; còn đối với ba cô em, tức các nền kiến trúc Phénicie, Hy Lạp, Gothic, bất kể sự khác biệt về hình thức gắn liền với bản chất, cũng vẫn chung một ý nghĩa, đó là tự do, dân chúng, con người.

Dù gọi là tăng thống, pháp sư hoặc giáo hoàng, trong các đền đài Ấn Độ, Ai Cập hoặc roman, bao giờ cũng có bóng dáng tu sĩ, toàn tu sĩ thôi. Trong các kiến trúc của dân chúng lại không như vậy. Nó phong phú hơn và bớt thiêng liêng. Trong kiến trúc Phénicie, có bóng dáng nhà buôn; trong kiến trúc Hy Lạp, có người cộng hòa; trong kiến trúc Gothic, có thị dân.

Tính cách chung của mọi nền kiến trúc thần quyền là sự bất biến, thù ghét tiến bộ, gìn giữ đường nét cổ truyền, thường xuyên gò ép mọi hình thức của con người và thiên nhiên vào thói bất thường không hiểu nổi của biểu tượng. Đó là những cuốn sách tối tăm chỉ riêng kẻ sành sỏi mới đọc nổi. Vả lại, mọi hình thức, cả hình thức dị dạng cũng mang một ý nghĩa, khiến nó trở nên bất khả xâm phạm. Đừng đòi hỏi các công trình xây dựng Ấn Độ, Ai Cập, roman phải sửa đổi đường nét hoặc cải tiến hình thù. Mọi sự hoàn thiện đều trở thành báng bổ. Trong các nền kiến trúc đó, hình như thói giáo điều cứng nhắc lan tràn trên đá thành một sự hóa đá thứ hai. - Ngược lại, tính cách chung của mọi xây dựng bình dân là sự đa dạng, tiến bộ, độc đáo phong phú, thường xuyên năng động. Các kiến trúc đó đã khá tách rời tôn giáo để nghĩ tới cái đẹp, để trang hoàng, không ngừng tu sửa các tượng và hoa văn tô điểm bên ngoài. Nó hợp với thời đại. Nó mang nhân tính để luôn luôn kết hợp với biểu tượng thần thánh, mà nó vẫn còn dựa vào để sáng tạo. Kết quả là các đền đài dễ thâm nhập trước mọi linh hồn, mọi trí tuệ, mọi tưởng tượng, tuy vẫn còn tượng trưng nhưng dễ hiểu như thiên nhiên. Giữa kiến trúc thần quyền và nền kiến trúc này, có sự khác biệt của ngôn ngữ thần thánh so với ngôn ngữ dung tục, của tượng hình so với nghệ thuật, của Solomon so với Phidias.

Nếu tóm tắt hết sức sơ lược những gì tác giả đã trình bày tới đây, bỏ qua trăm ngàn chứng cứ lẫn trăm ngàn chi tiết bất đồng, ta có kết luận như sau: Cho tới thế kỷ mười lăm, kiến trúc là cuốn sổ đăng bạ chủ yếu của nhân loại trong khoảng thời gian này, không có tư tưởng nào phức tạp lại xuất hiện trên thế giới mà không biến thành kiến trúc, mọi tư tưởng bình dân cũng như mọi quy tắc tôn giáo đều có đền đài riêng; tóm lại nhân loại không nghĩ ra được điều gì quan trọng mà lại không viết bằng đá. Tại sao vậy? Vì mọi tư tưởng, dù tôn giáo, dù triết học, đều mong muốn tồn tại, vì một tư tưởng đã khuấy động một thế hệ vẫn muốn khuấy động nhiều thế hệ khác và lưu lại dấu vết. Thế mà sự bất tử của sách viết tay lại mỏng manh xiết bao! Còn đền đài là cuốn sách chắc chắn, bền vững và lâu dài hơn nhiều! Muốn tiêu diệt ngôn ngữ viết chỉ cần bó đuốc và tên tàn bạo. Còn muốn phá hủy ngôn ngữ - kiến trúc, phải có cách mạng xã hội, cách mạng trần gian. Bọn man di đã xéo qua điện Colisée, trận hồng thủy có lẽ đã tràn ngập dãy Kim tự tháp.

Tới thế kỷ mười lăm, mọi sự đều thay đổi.

Tư tưởng con người tìm ra một phương tiện để tồn tại không những bền vững và lâu dài hơn kiến trúc, mà còn đơn giản và dễ dàng hơn. Kiến trúc bị phế truất. Thay vào chữ bằng đá của Orphée là chữ bằng chì của Gutenberg.

Cuốn sách sẽ giết tòa nhà.

Việc phát minh ra nghề in là biến cố lớn nhất trong lịch sử. Đó là cuộc cách mạng mẹ. Đó là phương thức diễn đạt của nhân loại đang đổi mới hoàn toàn, đó là tư tưởng con người đang cởi bỏ một hình thức để khoác một hình thức khác, đó là cuộc lột xác trọn vẹn và dứt khoát của con rắn tượng trưng, tiêu biểu cho trí tuệ, kể từ thời Adam.

Dưới hình thức ấn loát, tư tưởng càng bất tử hơn bao giờ; nó là thứ bốc hơi, không nắm bắt được không hủy diệt nổi. Nó hòa vào không khí. Vào thời kỳ của kiến trúc, tư tưởng biến thành ngọn núi và dũng mãnh chiếm đoạt một thế kỷ và một địa điểm. Bây giờ nó biến thành đàn chim tung bay khắp bốn phương và đồng thời chiếm lĩnh mọi điểm không trung và không gian.

Tác giả xin nhắc lại, ai mà không thấy, bằng cách đó, tư tưởng càng trở nên bất hủ? Vốn đã rắn chắc, nó còn trở thành trường tồn. Nó chuyển từ hữu hạn sang bất diệt. Người ta có thể phá hủy một khối lượng, như làm thế nào tiêu trừ nổi sự biến hóa? Nếu xảy ra nạn hồng thủy, ngọn núi sẽ chìm từ lâu dưới làn sóng nhưng chim vẫn bay, và chỉ cần chiếc thuyền nổi trên mặt nước tai họa, chim sẽ đậu xuống, cùng nổi trôi với thuyền, cùng chứng kiến nước rút, còn thế giới mới, thoát khỏi cảnh hoang tàn, lúc tỉnh dậy, sẽ thấy tư tưởng của thế giới bị chìm ngập, đang chắp cánh và sống động, bay lượn ngay trên đầu.

Rồi khi nhận thấy phương thức diễn đạt đó không những bền vững nhất, mà còn đơn giản, tiện lợi, phổ cập hơn với mọi người, khi nghĩ phương thức đó không lôi theo hành lý cồng kềnh và không lỉnh kỉnh những đồ nghề nặng nề, khi so sánh tư tưởng buộc phải biến thể thành đền đài, phải huy động đến bốn, năm ngành nghệ thuật khác và hàng tấn vàng, rồi cả một núi đá, một rừng kèo cột, hàng đoàn thợ thuyền, khi so sánh nó với tư tưởng viết thành sách, chỉ cần ít ngày, ít mực và cây bút, tại sao còn ngạc nhiên là trí tuệ con người đã rời bỏ kiến trúc để chuyển sang ấn loát? Hãy đột nhiên cắt ngang dòng nước nguồn của con sông bằng một dòng kênh đào dưới mực nước, con sông sẽ thoát khỏi dòng.

Cho nên, các bạn đã thấy từ ngày phát minh nghề in, môn kiến trúc cứ khô héo dần, gầy mòn và xơ xác. Ta thấy rõ ràng nước đang rút, nhựa sống đang biến mất, tư tưởng các thời đại và các dân tộc rời bỏ kiến trúc. Sự nguội lạnh còn rất ít nhận thấy vào thế kỷ mười lăm, hồi đó máy in còn quá yếu kém, cho nên nhiều lắm mới chỉ bòn rút được chút sinh lực thừa thãi của môn kiến trúc hùng mạnh. Nhưng từ thế kỷ mười sáu, bệnh tình khoa kiến trúc đã rõ ràng; nó không chủ yếu biểu hiện xã hội nữa; nó thảm hại biến thành nghệ thuật cổ điển; từ tính chất Gauloise, châu Âu, bản xứ, nó trở thành Hy La, từ chân thực và hiện đại, nó trở thành giả cổ đại. Chính sự suy đồi này được mệnh danh là Phục hưng. Tuy nhiên, đây là suy đồi tráng lệ, vì tài trí Gothic cổ xưa, vầng thái dương lặn sau cỗ máy in vĩ đại ở Mayence còn chiếu rọi chùm tia nắng cuối cùng thêm một thời gian nữa, vào đống chồng chất lai căng những vòm mái kiểu Latinh và hàng cột kiểu Corinthienne.

Chúng ta đã lầm tưởng mặt trời lặn là rạng đông.

Trong khi đó, lúc kiến trúc chỉ còn là một nghệ thuật như mọi nghệ thuật, lúc đó không còn là nghệ thuật toàn diện, nghệ thuật bá chủ, nghệ thuật độc tài, thì nó cũng chẳng còn đủ sức cầm giữ các nghệ thuật khác. Nhưng nghệ thuật này bèn tự giải phóng, bẻ gãy cái ách của kiến trúc, rồi mỗi ngành đi mỗi ngả. Mỗi ngành đều thủ lợi sau vụ ly hôn. Sự cách biệt làm lớn mạnh tất cả. Điêu khắc trở thành tạc tượng, vẽ tranh trở thành hội họa, hát bè trở thành âm nhạc. Như thế một đế quốc tan rã khi Hoàng đế Alexandre của nó chết và các phiên trấn liền trở thành vương quốc.

Từ đó mới có Raphaël, Michel-Ange, Jean Goujon, Palestrina, những huy hoàng của thế kỷ mười sáu chói lọi.

Đồng thời với nghệ thuật, tư tưởng tự giải phóng khắp nơi. Nhóm tà giáo thời trung cổ đã đục khoét sâu rộng vào lý thuyết công giáo. Thế kỷ mười sáu phá vỡ sự thống nhất tôn giáo. Trước nghề in, phong trào cải cách tôn giáo mới chỉ là vết nứt rạn, nghề in biến nó thành cách mạng. Cứ bỏ nghề in đi, tà giáo sẽ bực tức. Dù là định mệnh hay ơn phước Gutenberg cứ là người mở đường cho Luther.

Trong lúc đó, khi mặt trời trung cổ đã lặn hẳn, khi tài năng Gothic đã vĩnh viễn tắt ngấm nơi chân trời nghệ thuật, môn kiến trúc cũng ngày một lu mờ, phai nhạt, chết mòn. Cuốn sách in, con mọt đục phá tòa nhà, hút kiệt và nuốt chửng nó. Môn kiến trúc xác xơ dần, trụi hết lá, gầy đi trông thấy. Nó hóa ra ti tiện, nghèo nàn, vô dụng. Nó chẳng còn gợi nổi nghĩa gì nữa, ngay cả kỷ niệm về nghệ thuật một thời đã qua. Còn trơ trọi một mình, bị các nghệ thuật khác bỏ rơi, vì tư tưởng loài người đã bỏ rơi nó, kiến trúc chỉ lôi cuốn được thợ thuyền chứ không phải nghệ sĩ. Kính cửa thường thay cho kính cửa màu. Thợ đẽo đá thế chân nhà điêu khắc. Vĩnh biệt mọi nhựa sống, mọi tính độc đáo, mọi sinh lực và trí tuệ. Nó sống lê lết từ cóp nhặt này sang cóp nhặt khác, như mụ ăn mày thiểu não nơi xưởng họa. Michel-Ange, ngay từ thế kỷ mười sáu hình như đã cảm thấy nó sắp chết, từng nảy ra ý định cuối cùng, một ý định tuyệt vọng. Vị khổng lồ của nghệ thuật đó chồng chất điện Panthéon lên trên điện Parthénon, và tạo nên nhà thờ Saint-Pierre de Rome. Một tác phẩm lớn xứng đáng là sáng tạo duy nhất, sáng tạo độc đáo cuối cùng của nền kiến trúc, chữ ký của một nghệ sĩ vĩ đại bên dưới cuốn sổ đăng bạ khổng lồ bằng đá đang khép lại. Michel-Ange chết đi, nên kiến trúc thảm hại sống sót lay lắt trong tình cảnh bóng ma và bóng tối, liệu còn làm được gì nữa? Nó giữ rịt lấy nhà thờ Saint-Pierre de Rome để sao chép, để nhại lại. Đó là cái tật. Quả thật tội nghiệp. Mỗi thế kỷ đều có một thứ Saint-Pierre de Rome riêng; thế kỷ mười sáu có nhà thờ Val-de-Grâce, thế kỷ mười tám có nhà thờ Sainte-Geneviève. Mỗi đất nước đều có một thứ Saint-Pierre de Rome riêng. Luân Đôn có cái của nó. Pétersbourg cũng có cái của nó. Paris có hai hoặc ba cái. Di chúc vô nghĩa, trò lẩn thẩn dối giá của một nghệ thuật lớn đã suy tàn, đang trở lại thành trẻ con trước khi chết.

Nếu không bàn tới các đền đài tiêu biểu như ta vừa nhắc tới mà chỉ nhận định tình hình chung của nghệ thuật từ thế kỷ mười sáu tới thế kỷ mười tám, ta sẽ thấy cùng một hiện tượng thoái hóa và hao tổn như vậy. Từ François II, hình thức kiến trúc của tòa nhà cứ mờ nhạt dần và để mặc cho hình thức kỷ hà nổi lên, như bộ xương người ốm gầy mòn. Đường nét đẹp của nghệ thuật nhường chỗ cho đường nét lạnh lùng và khắc khổ của người đo đạc. Đền đài chẳng còn là đền đài, chỉ là khối đa diện. Tuy nhiên, kiến trúc vẫn lo lắng che giấu sự trơ trẽn đó. Đây là đầu hồi Hy Lạp sáp nhập vào đầu hồi La Mã và ngược lại. Vẫn điện Panthéon, đặt vào điện Parthénon, một thứ Saint-Pierre de Rome. Kia là dãy nhà gạch thời Henri IV với góc nhà bằng đá; rồi quảng trường Hoàng cung, quảng trường Thái tử. Đây dãy nhà thời Louis XIII, nặng nề, to bè, thấp lùn, co quắp, mang vòm mái như chiếc lưng gù. Kia kiến trúc thời Mazarine, mô phỏng xấu xí kiểu Ý thời Tứ quốc. Đây cung điện thời Louis IV, một thứ doanh trại dài ngoẵng dành cho đình thần, cứng nhắc, lạnh lẽo, buồn chán. Cuối cùng kia là thời Louis XV với lá diếp quăn và sợi bún, cùng đủ thức nốt ruồi, đủ loại u bướu làm biến dạng thứ kiến trúc già cỗi lỗi thời, móm mém và đỏm dáng. Từ François II tới Louis XV, căn bệnh tăng theo cấp số nhân. Nghệ thuật chỉ còn da bọc xương. Nó hấp hối thảm hại.

Trong khi đó, nghề in ra sao? Tất cả sức sống đang rời bỏ kiến trúc đều đến với nó. Kiến trúc càng suy sụp, ấn loát càng phình ra và lớn lên. Vốn liếng sức lực mà tư tưởng con người dùng vào việc xây nhà, từ nay để in sách. Cho nên, ngay từ thế kỷ mười lăm, nghề in lớn lên ngang tầm với nền kiến trúc suy tàn, tranh chấp rồi giết chết nó. Sang thế kỷ mười bảy nghề in đã tạm thời làm chúa tể, đủ đắc thắng, đủ vững vàng thắng lợi để tưng bừng khoản đãi thế giới một thế kỷ văn học lớn. Tới thế kỷ mười tám, nghỉ ngơi đã lâu dưới triều vua Louis XIV, nghề in lại cầm lấy thanh kiếm cũ của Luther, đem trang bị cho Voltaire, rồi sôi sục chạy đi đánh phá châu Âu cổ xưa mà biểu tượng kiến trúc đã bị máy in giết chết. Vào lúc thế kỷ mười tám sắp kết thúc, nghề in đã tiêu diệt hết. Qua thế kỷ mười chín, nó sẽ xây dựng lại.

Và bây giờ thử hỏi trong hai nghệ thuật đó, ngành nào thực sự tiêu biểu cho tư tưởng nhân loại từ ba thế kỷ nay? Nghệ thuật nào diễn đạt được tư tưởng đó? Nghệ thuật nào bộc lộ được, không chỉ các cố tật văn chương và kinh viện, mà cả trào lưu rộng rãi, sâu xa, phổ cập của tư tưởng đó? Nghệ thuật nào thường xuyên bao trùm không đứt đoạn và không khiếm khuyết lên trên nhân loại đang tiến bước như con quái vật nghìn chân? Kiến trúc hay ấn loát?

Đó là ấn loát. Xin đừng nhầm lẫn, kiến trúc đã chết, chết hẳn rồi, do sách in giết chết, bị giết vì không lâu bền bằng, bị giết vì giá đắt hơn. Mỗi nhà thờ là một tỉ bạc. Giờ đây thử tưởng tượng phải bỏ ra bao nhiêu vốn liếng để viết lại cuốn sách kiến trúc; để lại tung ra mặt đất hàng ngàn đền đài nhung nhúc; để quay lại với thời kỳ nhan nhản những đền đài, đến nỗi theo lời một nhân chứng được nhìn tận mắt, có thể nói thế giới khi vùng dậy đã “trút bỏ quần áo cũ để mặc tấm áo trắng toàn nhà thờ”. Erat enim ut si mundus, ipse excutiendo semet, rejecta vetustate, candidam ecclesiarum vestem indueret. (GLABER RADULPHUS)*.

Câu này đã được tác giả dịch ra bằng câu kề ngay ở trên.

Glaber Radulphus sinh ra ở Orange (Pháp) vào cuối thế kỷ X, chết năm 1050, là tác giả tập Biên niên sử gồm năm cuốn ghi lại sự việc các năm từ 900 đến 1046.

Cuốn sách làm xong rất nhanh, giá rẻ, mà có thể đi rất xa! Làm sao lại ngạc nhiên là toàn bộ tư tưởng nhân loại đã chảy theo triền dốc đó? Như vậy không phải bảo rằng kiến trúc không còn có ở đây đó một đền đài đẹp đẽ, một tác phẩm riêng rẽ. Dưới triều đại ấn loát, thỉnh thoảng vẫn có, chẳng hạn một cột trụ do cả một quân đội xây bằng súng đại bác đúc lại, như dưới triều đại kiến trúc vẫn có những trường ca Iliad và Romanceros, des Mahabâhrata và Niebelungen, do cả một dân tộc làm nên bằng các sử thi chồng chất đúc thành. Một kiến trúc sư thiên tài có thể tạo ra bất ngờ lớn vào thế kỷ hai mươi, như Dante từng tạo ra vào thế kỷ mười ba. Nhưng kiến trúc sẽ không còn là nghệ thuật xã hội, cộng đồng, thống trị. Bài thơ lớn, đền đài lớn, tác phẩm lớn của nhân loại sẽ không còn được xây cất, mà sẽ được in ra.

Và từ nay, nếu ngẫu nhiên môn kiến trúc có hồi phục thì cũng sẽ thôi ngự trị. Kiến trúc sẽ chịu đựng luật lệ của văn chương như ngày xưa văn chương từng chấp nhận luật lệ của kiến trúc. Vị trí tương ứng của hai ngành nghệ thuật sẽ đảo ngược. Có điều chắc chắn trong thời đại kiến trúc, thi ca, đành rằng hiếm hoi, vẫn giống các đền đài. Ở Ấn Độ, Vyasa cũng rậm rạp, kỳ lạ, khó hiểu như ngôi chùa, ở phương Đông Ai Cập, thi ca cũng như đền đài, có đường nét vĩ đại và bình dị; ở Hy Lạp cổ, đó là vẻ đẹp, vẻ an nhàn, bình thản; ở châu Âu Cơ đốc giáo, là vẻ uy nghiêm công giáo, vẻ thơ ngây bình dân, những cây cỏ xum xuê và xanh tốt của thời kỳ đổi mới. Kinh thánh giống kim tự tháp, trường ca Iliad giống điện Parthénon, nhà thơ Homère giống nhà điêu khắc Phidias. Dante ở thế kỷ mười ba, đó là nhà thờ roman cuối cùng; Shakespeare ở thế kỷ mười sáu, đó là giáo đường Gothic cuối cùng.

Như vậy, để tóm tắt một cách không tránh khỏi thiếu sót và vá víu những điều tác giả đã trình bày cho tới nay, nhân loại có hai cuốn sách, hai sổ đăng bạ, hai chúc thư, đó là kiến trúc và ấn loát, cuốn kinh thánh bằng đá và cuốn kinh thánh bằng giấy. Có lẽ, lúc ngắm hai cuốn kinh thánh đó mở rộng trước những thế kỷ, người ta có thể nuối tiếc vẻ hùng vĩ hiển nhiên của văn tự bằng đá, các chữ cái khổng lồ hiện thành cột trụ, cổng tháp, đài bia, một loạt núi non nhân tạo bao phủ thế giới và quá khứ. Từ kim tự tháp cho tới gác chuông, từ Chéops đến Strasbourg. Phải đọc lại quá khứ trên các trang đá hoa. Phải chiêm ngưỡng và luôn luôn lần giở những trang sách viết bằng kiến trúc; nhưng không nên phủ nhận sự vĩ đại của các đền đài do ấn loát đến lượt dựng lên.

Đền đài này thật đồ sộ. Tôi không nhớ nhà thống kê nào đã tính nếu đem chồng lên nhau tất cả sách in máy từ thời Gutenberg người ta sẽ lấp đầy khoảng cách từ trái đất đến mặt trăng, nhưng chúng tôi không định nói đến thứ hùng vĩ đó. Tuy nhiên, khi tìm các thu lượm trong tư tưởng mình một hình ảnh tổng quát về toàn bộ sản phẩm ấn loát có tới ngày nay, phải chăng cái toàn bộ đó cũng xuất hiện trước mắt ta như một kiến trúc mênh mông dựa trên toàn thế giới, được nhân loại không ngớt bồi đắp, có cái đỉnh khổng lồ khuất trong làn sương dày đặc của tương lai? Đó là tổ kiến của trí tuệ. Đó là tổ ong, nơi mọi trí tưởng tượng, như đàn ong vàng óng, đem mật tới. Đền đài có ngàn tầng lầu. Đây đó, ta thấy mở vào cầu thang các hang động âm u của khoa học, chúng cắt ngang giữa lòng tòa nhà. Trên khắp bề mặt tòa đền, nghệ thuật đã chan hòa rực rỡ chói mắt đủ loại hoa văn, các cửa sổ hoa thị và đường viền đen. Ở đó, mỗi tác phẩm cá nhân, dù bất thường và riêng biệt đến đâu, cũng có vị trí và sự nổi bật của nó. Sự hài hòa được kết hợp bằng cái toàn thể. Từ nhà thờ lớn của Shakespeare tới ngôi đền của Byron, hàng ngàn chuông nhỏ, hỗn độn trà trộn tại nơi trung tâm của tư tưởng toàn cầu. Dưới nền nhà, người ta viết lại vài danh vị cũ của nhân loại mà kiến trúc không ghi nhận. Bên trái cửa vào, người ta gắn tấm phù điêu cổ bằng đá hoa trắng của Homère, còn bên phải là cuốn kinh thánh bằng nhiều thứ tiếng đang ngẩng cao bảy cái đầu. Con giao long Romancero giương vây phía xa xa, cùng vài hình thù lai căng khác nhau là các kinh Védas và Niebelungen. Tóm lại, tòa đền kỳ diệu đó vẫn chưa hoàn thành. Máy in, cỗ máy khổng lồ đó, không ngừng hút hết nhựa sống của trí tuệ trong xã hội, cũng liên tục nhả ra các vật liệu mới để tiến hành sự nghiệp. Toàn thể nhân loại đang trên giàn giáo. Mỗi trí tuệ là một thợ nề. Kẻ yếu kém nhất cũng biết bịt lỗ hổng hoặc đặt viên đá. Nhà văn Rétif de la Bretonne xách tới một gùi gạch vôi vụn. Ngày nào cũng có tầng lầu mới xây lên. Ngoài sự đóng góp độc đáo và cá nhân của mỗi nhà văn, lại còn những công cuộc tập thể. Thế kỷ mười tám cung cấp bộ Bách khoa toàn thư, cuộc cách mạng cung cấp tờ báo Tân văn. Tất nhiên, đó cũng là một kiến trúc cứ lớn dần và chồng lên nhau theo đường xoáy ốc bất tận; ở đó cũng có sự pha trộn ngôn ngữ, sự hoạt động liên tục, lao động không mỏi, đóng góp cật lực của toàn thể nhân loại, nơi trú ẩn hứa hẹn của trí tuệ chống lại nạn hồng thủy mới, chống lại cuộc tràn ngập của man di. Đó là tòa tháp Babel thứ hai của nhân loại.

Ca —★— Nhà Thờ Đức Bà Paris Văn học Kinh điển ebook©MotSAch TVE-4u©VCTVEGROUP —★— Nhà Xuất Bản Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh 2000
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.