Nhà Thờ Đức Bà Paris

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 61 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Vi Ba Trái Tim Đàn Ông Cấu Tạo Khác Nhau
Vi Ba Trái Tim Đàn Ông Cấu Tạo Khác Nhau

❊ ❊ ❊

Trong khi đó Phoebus không chết. Loại người này sống dai lắm. Khi thầy Philippe Lheulier, tham tụng đặc biệt hoàng gia, nói với cô gái tội nghiệp Esmeralda: Hắn sắp chết, đó là do lầm lẫn hoặc đùa cợt. Khi phó chủ giáo nhắc lại với kẻ tử tù: Hắn đã chết, sự thực ông ta không biết gì hết, nhưng ông tin như vậy, ông hy vọng, ông chẳng hề nghi ngờ, ông đoán chắc thế. Thật quá khổ tâm cho ông nếu để người đàn bà ông yêu được tin tốt lành về kẻ tình địch. Ai đứng vào địa vị ông cũng làm như vậy.

Không phải vết thương của Phoebus không nặng, chỉ có điều nó không nặng như phó chủ giáo khoe khoang. Thầy lang mà bọn lính tuần cảnh ngay lúc đầu khiêng chàng tới, suốt tám ngày liền đã lo cho tính mệnh chàng, thậm chí còn nói bằng tiếng Latinh bảo cho chàng biết như vậy. Tuy nhiên tuổi trẻ đã thắng, rồi như chuyện thường xảy ra, bất kể mọi thứ dự đoán và chẩn bệnh, thiên nhiên đã tinh nghịch đi cứu sống con bệnh ngay trước mũi thầy thuốc. Ngay khi còn nằm liệt trên tấm phản ở nhà thầy lang, chàng đã chịu đựng những cuộc thẩm vấn đầu tiên của Philippe Lheulier và các điều tra viên của giáo hội pháp viện, nên chàng rất bực mình. Cho nên, một sáng đẹp trời, thấy mình khá hơn, chàng liền để lại cặp đinh thúc ngựa bằng vàng để thế cho tiền thuốc men, rồi chuồn thẳng. Vả lại, việc này cũng không hề cản trở vụ án tiến hành. Công lý thời đó rất ít quan tâm tới sự rõ ràng và minh bạch của các vụ hình sự tố tụng. Chỉ cần bị cáo bị treo cổ, thế là đủ lắm rồi. Các thẩm phán lại có tạm đủ chứng cớ để buộc tội Esmeralda. Họ tưởng Phoebus chết rồi, thế là xong.

Về phần Phoebus, chàng cũng chẳng chạy trốn đi đâu xa. Chàng chỉ việc quay về đơn vị, đóng tại Queue-en-Brie, ở Ile-de-france, cách Paris vài trạm đường.

Dù sao chàng không hề muốn đích thân phải ra hầu tòa trong vụ án này. Chàng mơ hồ cảm thấy sẽ rất lố bịch. Trong thâm tâm, chàng chẳng hiểu đầu đuôi câu chuyện ra sao. Vốn không mộ đạo mà còn mê tín như mọi người lính chỉ biết làm lính thôi, khi tự hỏi về cuộc phiêu lưu vừa qua, chàng luôn nghi ngại về con dê cái, về tình trạng kỳ quặc của cuộc gặp gỡ với Esmeralda, về cung cách không kém kỳ lạ lúc cô gái lộ vẻ yêu chàng, về tư cách Ai Cập của cô, cuối cùng về con ma đội lốt thầy tu. Chàng thoáng thấy trong chuyện này nhiều ma thuật hơn tình yêu, chắc nó là con phù thủy, có khi quỷ sứ nữa; cuối cùng, đó là vở hài kịch, hoặc nói theo ngôn ngữ thời đó, một vở mystère rất tồi tệ mà chàng sắm một vai khá vụng về, vai trò chuyên ăn đòn và chịu chế giễu. Đại úy đâm ra tiu nghỉu, chàng cảm thấy hổ thẹn như nhà thơ ngụ ngôn La Fontaine đã định nghĩa rất hay:

Hổ thẹn như cáo mắc bẫy gà*.

Ngụ ngôn Cáo và Cò (I, 18) của La Fontaine. (Misaki)

Vả lại, chàng cũng hy vọng vụ này sẽ không vỡ lở, một khi chàng vắng mặt, tên tuổi sẽ ít bị nhắc tới và cuối cùng sẽ không lọt ra ngoài phiên tòa ở viện Tournell. Về điều này chàng không hề lầm, hồi đó chưa có tờ báo Tin tức pháp đình, và chẳng tuần lễ nào trôi qua và chẳng có kẻ làm bạc giả bị luộc, hoặc phù thủy bị treo cổ, hoặc kẻ ma giáo bị hỏa thiêu ở một trong số vô vàn tòa án tại Paris, đâm ra mọi người rất quen nhìn thấy ở khắp các ngã ba, mụ nữ thần Thémis phong kiến già nua, xắn tay áo lộ hai cánh tay trần, đang thi hành nhiệm vụ bằng cái cào cời lửa, cái thang treo cổ, cái giàn bêu tù, đến nỗi hầu như không ai thèm để ý tới nữa. Giới thượng lưu thời đó hầu như không ai thèm biết đến tên kẻ tội đồ bị dẫn đi qua góc phố, chỉ còn đám dân đen thưởng thức món ăn thô tục này. Hành hình là chuyện thường xảy ra trên đường phố, như cái nồi hầm của chủ quán ăn hoặc lò sát sinh của đồ tể. Đao phủ cũng chỉ là gã hàng thịt nặng tay hơn kẻ khác.

Cho nên Phoebus đã nhanh chóng yên tâm về con mẹ mìn Esmeralda, hoặc Similar như chàng quen gọi, về nhát dao găm của cô Bohémienne hoặc con ma khoác áo thầy tu (chàng bất cần đó là ai) và về kết quả vụ án. Nhưng tim chàng vừa trống rỗng về phía đó, hình ảnh Fleur-de-Lys liền trở lại. Trái tim đại úy Phoebus, như khoa vật lý hồi đó, rất sợ thể chân không.

Hơn nữa đời sống ở Queue-en-Brie rất vô vị, đó là một làng gồm toàn thợ đóng móng ngựa và gái chăn bò bàn tay nứt nẻ, một dãy dài nhà cửa lụp xụp và lều tranh viền hai bên con đường cái lớn khoảng nửa dặm, quả đúng cái đuôi* như tên gọi.

Queue (Queue-en-Brie): là cái đuôi.

Fleur-de-Lys là mối tình kề cuối của chàng, một cô gái xinh đẹp, món hồi môn đáng yêu; cho nên một sáng đẹp trời, đã hoàn toàn bình phục và tiên liệu sau hai tháng, vụ án cô Bohémienne chắc hẳn xong xuôi và bị quên lãng rồi, chàng kỵ sĩ si tình liền thúc ngựa phì phò tới trước cổng nhà Gondelaurier.

Chàng không chú ý tới đám người khá đông đang tụ tập ở quảng trường Sait nhà thờ Đức Bà, phía bên ngoài cổng; chàng chỉ nhớ đang tháng năm, chắc chắn có rước hoặc lễ lạt gì đây, lễ Chúa giáng lâm chẳng hạn, nên chàng buộc ngựa vào cái vòng ở ngoài cửa, rồi vui vẻ lên nhà vị hôn thê xinh đẹp.

Cô ta đang ngồi một mình với mẹ.

Fleur-de-Lys vẫn buồn về chuyện cô gái phù thủy, con dê và những chữ cái khốn kiếp của cô ta, cùng sự vắng mặt lâu ngày của Phoebus. Tuy nhiên, khi thấy viên đại úy của mình bước vào, thấy chàng mặt mũi rất tươi tỉnh, nhung phục mới tinh, thắt lưng bóng loáng và vẻ mặt si mê, cô liền đỏ mặt sung sướng. Bản thân cô tiểu thư quý phái cũng xinh đẹp hơn mọi lúc. Mái tóc hung tuyệt đẹp kết bím thật khéo, cô mặc toàn hàng màu xanh da trời rất hợp với nước da trắng, cách làm dáng này học được ở Colombe, và con mắt đắm chìm trong sầu mộng yêu đương càng tôn thêm vẻ đẹp.

Phoebus lâu ngày chỉ gặp toàn lũ gái điếm ở Queue-en-Brie, quả tình chưa thấy ai đẹp, nên mê luôn Fleur-de-Lys do đó vị sĩ quan của chúng ta có điệu bộ hết sức vồ vập và lịch thiệp, khiến hai bên lập tức làm lành với nhau. Cả bà Gondelaurier, lúc nào cũng lên mặt bà mẹ, ngồi chễm chệ trong ghế bành lớn, cũng không nỡ mắng mỏ chàng. Còn lời trách móc của Fleur-de-Lys kết thúc bằng giọng tỉ tê âu yếm.

Cô gái ngồi cạnh cửa sổ, vẫn thêu tiếp cái hàng Neptunus. Viên đại úy đứng dựa vào lưng ghế, và cô khẽ nỉ non trách chàng:

- Anh tồi lắm nhé, đi đâu suốt hai tháng nay không hề thấy mặt?

- Anh xin thú thực, - Phoebus đáp, hơi lúng túng trước câu hỏi, - em đẹp đến nỗi tổng giám mục cũng phải mê.

Cô không thể không mỉm cười.

- Thôi đi, thôi đi, xin anh hãy để yên cho sắc đẹp của em mà trả lời đi. Đẹp gì mà đẹp kia chứ!

- Cô em thân mến ạ, chả là anh bị cấm trại.

- Nhưng thưa anh, cấm trại ở đâu? Mà tại sao anh không đến từ biệt em?

- Ở Queue-en-Brie.

Phoebus mừng vì câu hỏi thứ nhất giúp chàng tránh được câu thứ hai.

- Thưa anh, chỗ đó cũng gần đây thôi. Tại sao anh chẳng đến thăm em lần nào cả?

Tới đấy, Phoebus quả thật rất lúng túng:

- Chả là... chuyện công vụ... với lại, cô em xinh đẹp ơi, anh bị ốm.

- Ốm ư! - Cô thốt lên lo sợ.

- Phải... anh bị thương.

- Bị thương ư!

Cô bé tội nghiệp sợ hết hồn.

- Ồ! Em có việc gì mà hoảng sợ như vậy, - Phoebus nhởn nhơ nói, - có làm sao đâu. Hai bên xích mích rồi đấu gươm, có gì đáng làm em phải bận tâm đâu?

- Không đáng làm em phải bận tâm ư? - Fleur-de-Lys thốt lên, ngước cặp mắt đẹp đẫm lệ. - Ồ! Nói vậy là anh chưa nói đúng điều anh nghĩ. Đấu gươm ra sao? Em muốn biết rõ.

- Cô em xinh đẹp thân mến ơi! Chả là anh cãi nhau với Mahé Fédy, em biết hắn chứ? Viên trung úy ở Saint-Germain-en-Laye ấy mà, rồi mỗi người xẻo của nhau một miếng da. Có thế thôi.

Viên đại úy dối trá thừa biết các chuyện dính dáng đến danh dự bao giờ cũng làm nổi bật người đàn ông trước mắt đàn bà. Quả nhiên, Fleur-de-Lys nhìn thẳng vào mắt chàng, run lên vì sợ hãi, sung sướng và cảm phục. Tuy nhiên, cô vẫn chưa hoàn toàn yên tâm. Cô nói:

- Anh Phoebus ơi, chỉ cần anh khỏi hẳn là được rồi! Em không quen cái ông Mahé Fédy đó, nhưng chắc là người xấu. Thế vì đâu mà xảy ra xích mích?

Tới đây, Phoebus vốn rất nghèo óc tưởng tượng sáng tạo, không còn biết xoay sở ra sao về vụ oanh liệt đó.

- Ồ! Anh cũng chẳng để ý đến nữa... chuyện vặt ấy mà, chuyện ngựa nghẽo, cãi cọ! - Cô em xinh đẹp ơi, chuyện gì mà ồn ào thế nhỉ?

Chàng lại gần cửa sổ.

- Trời ơi! Này cô em xinh đẹp, ngoài quảng trường đông nghịt người?

- Em cũng không biết nữa, - Fleur-de-Lys nói, - hình như có con phù thủy sáng nay đến chuộc tội trước nhà thờ rồi sau sẽ bị treo cổ.

Viên đại úy đinh ninh vụ Esmeralda đã xong xuôi nên chẳng hề xúc động trước câu nói của Fleur-de-Lys.

Tuy nhiên chàng cũng hỏi một hai câu:

- Con phù thủy đó tên là gì?

- Em cũng không biết, - cô đáp.

- Thế họ nói nó phạm tội gì?

Một lần nữa cô lại nhún đôi vai trắng nõn:

- Em không biết.

- Ôi, Lạy Chúa Jésus! - Bà mẹ nói, dạo này lắm phù thủy quá, thành ra người ta hỏa thiêu chúng mà hình như cũng chẳng thèm biết đến tên chúng nữa. Nếu muốn biết thì chả khác gì tìm biết tên mỗi đám mây trên trời. Dù sao ta vẫn có thể yên tâm. Chúa lòng lành có sổ sách hẳn hoi. - Nói tới đây, bà mệnh phụ đứng dậy, bước tới cửa sổ và bảo:

- Lạy Chúa! Phoebus, cậu nói đúng. Dân chúng mới đông làm sao. Trời ơi! Họ trèo cả lên mái nhà. - Phoebus, cậu biết không, cảnh này làm tôi nhớ đến hồi còn trẻ. Hồi vua Charles VII vào thành Paris, dân chúng cũng đông như thế này - tôi cũng không còn nhớ vào năm nào nữa. Khi tôi kể cho cậu nghe chuyện đó, có đúng là cậu thấy nó xưa cũ rồi, còn tôi lại thấy tươi trẻ. Ồ! Dân chúng hồi đó đẹp đẽ hơn bây giờ nhiều. Họ leo lên cả lan can cổng Saint-Antoine. Nhà vua và hoàng hậu cưỡi chung con ngựa, theo sau là các lãnh chúa cũng cưỡi ngựa với phu nhân. Tôi nhớ ai nấy đều cười rũ ra, vì đi cạnh Amanyon de Garlande, người ngắn có một mẩu, là ngài Matefelon, một hiệp sĩ thân hình đồ sộ, từng giết hàng đống quân Anh. Trông đẹp thật. Một đám rước đủ hết mọi mặt quý tộc nước Pháp, với cờ hiệu đỏ rợp trời. Có người mang cờ đuôi nheo, có người mang cờ hiệu. Tôi quên tiệt rồi! Đức ông Calan mang cờ đuôi nheo; Jean de Châteaumorant mang cờ hiệu; đức ông Coucy mang cờ hiệu, rực rỡ không có cái nào bằng, trừ lá cờ của công tước Bourbon... - Chao ôi! Thật buồn khi nghĩ lại mọi cái đó xưa kia đều có mà nay mất hết!

Cặp tình nhân chẳng buồn nghe chuyện của bà mệnh phụ đáng kính. Phoebus tới tỳ khuỷu tay vào lưng ghế tựa của vị hôn thê, một vị trí thú vị mà con mắt phóng đãng của chàng nhìn thấu mọi hở hang nơi cổ áo của Fleur-de-Lys. Cái cổ áo phanh ra thật đúng lúc, để chàng nhìn thấy bao món ngon lành, chúng còn khiến chàng phỏng đoán bao món khác, làm Phoebus choáng váng trước làn da óng mịn như sa tanh, phải thầm nhủ:

- Không thể yêu ai khác ngoài người có nước da trắng!

Cả hai nín lặng. Cô gái thỉnh thoảng ngước cặp mắt say đắm và dịu dàng nhìn chàng, mái tóc họ đan vào nhau dưới ánh nắng xuân. Bỗng Fleur-de-Lys khẽ nói:

- Phoebus, chỉ còn ba tháng nữa chúng ta cưới nhau, anh hãy thề với em là anh chưa từng yêu ai ngoài em.

- Hỡi thiên thần xinh đẹp, anh xin thề với em như vậy. - Phoebus đáp, con mắt đắm đuối kèm theo giọng nói thành thực để thuyết phục Fleur-de-Lys. Lúc đó, có lẽ chính chàng cũng tin lời mình nói.

Trong lúc đó, hoan hỉ thấy cặp trai gái đính hôn đã gắn bó mặn mà với nhau, bà mẹ hiền vừa ra khỏi phòng để làm vài việc vặt gia đình. Phoebus nhận thấy thế và cảnh vắng vẻ làm viên đại úy phiêu lưu đâm táo bạo hẳn lên, đầu óc liền nảy ra lắm ý định rất kỳ quặc. Fleur-de-Lys yêu chàng, chàng là vị hôn phu của cô, chỉ có mình cô với chàng lúc này, sự ham muốn cô gái từ lâu bừng dậy trong lòng chàng, không phải bằng niềm tươi mát mà bằng tất cả sự cuồng nhiệt; dù sao, chẳng phải tội lỗi gì ghê gớm nếu chàng ăn thử chút lúa non; không hiểu các ý tưởng đó có xuất hiện trong đầu chàng không, nhưng có điều chắc chắn Fleur-de-Lys đột nhiên hoảng sợ trước ánh mắt chàng. Cô nhìn quanh và không thấy mẹ đâu.

- Trời ơi, em nóng quá! - Fleur-de-Lys nói, mặt đỏ bừng, vẻ e ngại.

- Có lẽ cũng sắp giữa trưa rồi, - Phoebus đáp. - Nắng gay gắt. Cứ hạ rèm xuống vậy.

- Không, không, - cô gái tội nghiệp kêu lên, - trái lại em đang cần có gió.

Rồi như con nai tơ đánh hơi thấy mùi chó săn, cô đứng dậy, chạy ra cửa sổ, mở rộng cửa và bước vội ra bao lơn.

Phoebus theo sau, vẻ hơi bực tức.

Quảng trường Sait nhà thờ Đức Bà ở trước mặt bao lơn, như ta đã biết, lúc đó đang diễn ra một cảnh tượng rùng rợn và kỳ lạ, đột nhiên làm thay đổi tính chất lo sợ của cô Fleur-de-Lys nhút nhát.

Một đám đông bát ngát, tràn ra khắp phố chung quanh, chiếm hết cả khu vực chính của quảng trường.

Bức tường thấp, ngang tầm tay với, bao quanh sân trước nhà thờ, sẽ không đủ ngăn đám đông tràn vào, nếu đã không được chắn thêm một hàng rào dày đặc các lính kích thủ và pháo thủ, tay cầm súng. Nhờ một rừng giáo mác và súng ống đó, sân trước nhà thờ mới quang đãng. Một toán lính kích thủ mang huy hiệu của giám mục canh giữ lối vào. Các cửa lớn nhà thờ đều khép chặt, trái ngược hẳn với vô số cửa sổ các nhà trên quảng trường mở toang tới sát đầu hồi, đang ló ra hàng ngàn cái đầu chen chúc, trông tựa hồ đống đạn trái phá trong trại pháo binh.

Bề mặt của đám đông xám bẩn như đất. Cảnh tượng họ đang chờ xem, rõ ràng thuộc loại có đặc điểm gì gạn lọc và kêu gọi các thành phần uế tạp nhất trong dân chúng kéo tới. Không gì ghê tởm bằng tiếng ồn ào vẳng lên từ đám đông lúc nhúc những mũ vải vàng và đầu tóc rối bù này. Trong đám đông, tiếng cười nhiều hơn tiếng thét, đàn bà nhiều hơn đàn ông.

Thỉnh thoảng từ đám đông ồn ào lại thét lên một tiếng kêu the thé và vang động

- Ôi Mahiet Baliffre! Họ sắp treo cổ nó ở đó à?

- Đồ ngu! Ở đây, nó chỉ mặc áo lót để tạ tội thôi! Chúa ơn phước sẽ khạc tiếng Latinh vào mặt nó. Việc này bao giờ cũng làm ở đây vào giữa trưa. Nếu mày muốn xem treo cổ thì tới quảng trường Grève.

- Ta sẽ tới sau.

- Này chị Boucandry, có phải nó khước từ cha rửa tội phải không?

- Hình như thế, chị Bechaigne ạ.

- Chị xem đấy, thật đồ vô thần.

- Thưa ông, đây là tục lệ. Để thi hành bản án, pháp quan tại Pháp quy định phải giao can phạm đã xử xong cho đô trưởng Paris, nếu đó là dân thường, hoặc cho giáo hội pháp quan tòa giám mục, nếu là dân đạo.

- Xin cảm ơn ông.

- Ôi! Lạy Chúa! - Fleur-de-Lys thốt lên, - tội nghiệp cho nó.

Ý nghĩ đó nhuốm đầy đau thương trong cặp mắt cô đang nhìn đám đông. Viên đại úy đang bận tâm tới cô nhiều hơn đám dân đê tiện, âu yếm vê dải thắt lưng sau lưng cô gái. Cô quay lại van vỉ và tươi cười:

- Đừng thế, Phoebus, buông em ra! Nếu mẹ vào mẹ trông thấy tay anh đấy!

Vừa lúc đó, chuông đồng hồ nhà thờ Đức Bà thong thả điểm đúng ngọ. Đám đông thở phào thành tiếng rì rầm mãn nguyện. Âm vang cuối cùng của tiếng chuông thứ mười hai vừa tắt, đầu người đã nhấp nhô như sóng trào dưới gió, rồi tiếng reo ầm ầm vang lên từ lòng đường, cửa sổ và mái nhà:

- Kia rồi!

Fleur-de-Lys lấy tay bịt mắt để khỏi trông thấy. Phoebus bảo:

- Em yêu, ta trở vào trong nhà nhé?

- Không, - cô đáp, rồi cặp mắt vừa nhắm lại vì sợ hãi, đã mở ra vì tò mò.

Một chiếc xe chuyên chở tử tù do con ngựa cầm càng to khỏe thuộc giống Normandy kéo, vây quanh là đội kỵ binh mặc đồng phục tím thêu thập tự trắng, đang từ phố Saint-Pierre-aux-Boeuf chạy ra quảng trường. Lính tuần cảnh vụt roi da tới tấp để mở đường cho xe đi qua đám đông. Cạnh xe, vài quan chức pháp đình và cảnh sát, cưỡi ngựa đi kèm, trông nhận ra ngay nhờ bộ quần áo thâm và cách cưỡi ngựa vụng về của họ. Thầy Jacques Charmolue hiên ngang dẫn đầu.

Trong chiếc xe định mệnh, một cô gái ngồi, tay trói quặt sau lưng, không có linh mục bên cạnh. Cô mặc áo lót, mái tóc đen dài (theo lục lệ thời đó, tóc chỉ cắt ở dưới chân đài treo cổ) xõa xuống ngực và đôi vai trần.

Qua làn tóc uốn lượn, láng bóng hơn lông quạ, lộ ra sợi dây thừng to xám, sần sùi, thắt nút ngoằn ngoèo, làm xây xát cả đôi xương quai xanh mỏng mảnh và nó quấn quanh cổ xinh đẹp của cô gái tội nghiệp như con giun quanh bông hoa. Dưới sợi thừng lấp lánh túi bùa con đính hạt cườm xanh biếc, chắc người ta để nó lại cho cô vì đối với người sắp chết, không ai nỡ từ chối điều gì. Người xem đứng trên cửa sổ, có thể nhìn thấy trên sàn xe, đôi cẳng chân cô gái gắng co lại để che giấu, theo bản năng cuối cùng của phụ nữ. Cạnh bàn chân, con dê nhỏ bị trói gô. Tội nhân dùng răng cắn giữ chiếc áo lót tuột nút. Tựa hồ trong cảnh khốn khổ, cô vẫn còn hổ thẹn vì bị phơi trần trước con mắt mọi người. Chao ôi! Tính hổ thẹn đâu phải để dành cho những lúc đang run rẩy như vậy.

Fleur-de-Lys vội bảo viên đại úy:

- Lạy Chúa! Ông anh tuấn tú ơi, hãy xem kìa! Đúng là con bé Bohémienne đê tiện với con dê!

Cô nói rồi quay lại nhìn Phoebus. Chàng đang đăm đăm nhìn chiếc xe. Mặt chàng tái nhợt.

- Con bé Bohémienne với con dê nào kia? - Chàng ấp úng hỏi.

- Ô hay! Thế anh quên rồi sao?... - Fleur-de-Lys hỏi lại.

Phoebus ngắt lời:

- Anh không hiểu em định nói gì.

Chàng bước đi toan quay vào nhà. Nhưng cơn ghen của Fleur-de-Lys, dạo trước từng sôi sục cũng vì cô gái Ai Cập này, lại vừa nổi dậy, nên cô nhìn chàng bằng cặp mắt soi mói và nghi hoặc. Lúc đó cô mơ hồ sực nhớ có nghe đồn một viên đại úy dính dáng vào vụ án phù thủy. Cô bảo Phoebus:

- Anh làm sao vậy? Hình như cô gái này làm anh bối rối.

Phoebus gượng cười:

- Anh ấy à? Đời nào kia chứ? À mà đúng thế!

- Nếu vậy anh cứ ở lại xem cho đến hết, - cô dõng dạc nói.

Viên đại úy khốn khổ đành đứng lại. Có điều chàng hơi yên tâm là tội nhân không hề ngước mắt khỏi sàn xe. Quả đúng Esmeralda không sai. Tới chặng đường cuối cùng của nỗi ô nhục và đau khổ, cô vẫn xinh đẹp, cặp mắt đen to càng có vẻ to hơn vì đôi má gầy hóp, khuôn mặt xanh xao trông nghiêng càng thanh khiết và cao cả. Cô giống với chính cô xưa kia, như Đức mẹ đồng trinh trong tranh của Masaccio, giống Đức mẹ đồng trinh trong tranh của Raphaël: yếu ớt, mảnh mai hơn, gầy gò hơn.

Tóm lại, toàn thân cô toát lên vẻ gì đó bơ phờ và trừ nỗi e thẹn, cô đành buông lơi phó mặc, vì đã bị kinh hoàng cùng tuyệt vọng vùi dập tả tơi. Người cô nảy lên theo từng nhịp xe xóc mạnh như một vật đã chết hoặc gãy mục. Cái nhìn lờ đờ, điên dại. Trong khóe mắt còn ngấn lệ, nhưng nó bất động và có thể nói đông cứng rồi.

Trong khi đó, đoàn người ngựa bi thảm diễu qua đám đông, giữa tiếng reo hò vui vẻ và thái độ hiếu kỳ. Dù sao, để làm tròn vai trò sứ giả trung thực, chúng tôi cần phải nói rất nhiều người thấy cô gái xinh đẹp và đau khổ như vậy, đã mủi lòng thương hại, kể cả kẻ cứng rắn nhất. Chiếc xe chạy vào sân trước nhà thờ.

Tới trước cổng chính, xe dừng lại. Đoàn hộ tống phân tán đội hình sang hai bên. Đám đông im lặng và giữa bầu không khí im lặng đầy trang nghiêm và lo âu hai cánh cổng lớn như tự động quay trên bản lề, kêu cót két tựa tiếng sáo. Lúc đó, mọi người liền nhìn thấy suốt tận cùng gian nhà thờ sâu thẳm, tối om, treo màn tang, le lói dăm ngọn nến chiếu sáng xa xa trên bàn thờ lớn, mở ngoác ra như miệng hang giữa quảng trường chói chang ánh nắng. Tít trong cùng, nơi hậu cung u tối, thấp thoáng chiếc thánh giá to tướng thêu ngân tuyến trên nền dạ thâm, treo rủ từ vòm mái xuống sát đất, toàn gian chính diện không một bóng người. Tuy nhiên, trong gian thánh ca xa xa, thấp thoáng động đậy dăm cái đầu linh mục và đúng lúc cửa lớn mở toang, từ nhà thờ cũng vẳng ra một giọng hát trầm, vang động và đều đều, như ném từng hơi thở xuống đầu tội nhân với các đoạn thánh kinh thảm thiết.

“... Non timebo millia populi

circumdantis me; exsurge,

Domine; salvum me fac,

Deus!*

Ta sẽ không hề sợ hàng ngàn con người đang vây quanh ta; hỡi Thượng đế, hãy đứng dậy, lạy Chúa, hãy cứu vớt con!

“... Salvum me fac, Deus, quoniam

intraverunt aquae usque ad

animam meam.*

Lạy Chúa, hãy cứu vớt con, vì nước ngấm tận linh hồn con rồi.

“... Infixus sum in limo profundi; et

non est substantia!”*

Ta đã lún sâu xuống lớp bùn đáy vực; và chẳng có điểm tựa nào cho ta.

Đồng thời một giọng khác, tách khỏi ban thánh ca, tấu lên từ bậc cao của bàn thờ lớn bài kinh dâng rượu bánh buồn bã:

Qui verbum meum audit, et credit ei qui misit me, habet vitam aeternam et in judicium non venit; sed transit a morte in vitam.”*

Qui verbum meum... morte in vitam: Kẻ nào nghe lời ta và tin vào người đã gửi đến cho ta, sẽ sống vĩnh cửu và không hề phải tới nơi xét xử; nhưng hắn từ cõi chết chuyển sang cõi sống.

Bài thánh ca mà vài lão già lẩn khuất trong bóng tối hát lên từ xa cho cô gái xinh đẹp, một con người đầy thanh xuân và sinh lực đang tắm trong khí ấm mùa xuân ve vuốt, trong ánh nắng chan hòa, đó là lễ cầu hồn người chết.

Dân chúng trầm mặc đứng nghe.

Cô gái khốn khổ, ngơ ngác, như phóng tầm mắt và suy tư vào trong thâm cung u tối nhà thờ. Đôi môi trắng nhợt mấp máy như cầu nguyện, và khi gã phụ việc đao phủ lại gần để đỡ cô xuống xe, hắn nghe thấy cô thầm nhắc cái tên: Phoebus.

Họ cởi trói tay cô, cô xuống xe cùng con dê cũng được cởi trói, đang kêu be be vui sướng thấy được tự do, rồi dẫn cô đi chân không trên lòng đường đá lát rắn đanh tới chân bậc thềm cổng chính. Sợi thừng quàng trên cổ kéo lê sau cô. Tựa con rắn theo sau.

Lúc đó, tiếng hát liền ngừng bặt trong nhà thờ. Một cây thập tự lớn nạm vàng và một hàng nến bắt đầu di động trong bóng tối. Tiếng giáo mác bọn quân hầu trang phục sặc sỡ kêu loảng xoảng, rồi lát sau, một đám rước dài các linh mục mặc áo lễ và trợ tế mặc áo thụng, vừa tụng kinh vừa nghiêm trang tiến lại gần tội nhân, dàn ra trước mắt cô cùng đám đông. Nhưng con mắt cô dừng lại trước người đi đầu, ngay sau người vác thánh giá. Cô rùng mình khẽ kêu lên:

- Ôi! Lại vẫn lão linh mục!

Quả đúng phó chủ giáo. Bên trái ông là người phụ hát kinh, còn bên phải là người hát chính cầm gậy hành lễ. Ông bước, đầu ngửa ra sau, cặp mắt đăm đăm và mở to, lớn tiếng hát:

De ventre inferi clamavi, et

exaudisti vocem meam.

Et projecisti me in profundum in

corde maris, et flumen

circumdedit me.*

Từ lòng địa ngục, ta kêu tên và người đã nghe thấy tiếng gọi của ta - Và ngươi đã vứt ta xuống vực thẳm giữa lòng biển cả, rồi sóng nước bao quanh ta.

Lúc ông bước ra ngoài trời, dưới vòm cổng cao hình cung nhọn, mặc áo lễ rộng thêu ngân tuyến thánh giá đen, mặt ông tái nhợt đến nỗi trong dân chúng, nhiều người cho đó là một giám mục bằng cẩm thạch, thường quỳ trên các tấm mộ bia gian hát kinh, đã đứng dậy và tới đón ở cửa một cô gái sắp chết.

Cô gái cũng không kém tái nhợt và không khác pho tượng, cô lơ đãng biết người ta vừa đưa cho mình cầm lấy cây nến nặng màu vàng thắp sáng; cô chẳng buồn nghe cái giọng the thé của viên lục sự đang đọc nội dung thảm khốc của bản tạ tội; khi họ bảo hãy trả lời Amen, cô liền đáp Amen. Cô chỉ lấy lại chút hồn vía và sức lực, khi thấy linh mục ra hiệu cho bọn lính gác lùi xa và một mình bước lại gần cô.

Lúc đó, cô liền thấy máu sôi sục trong đầu và chút ít phẫn nộ còn lại chợt bùng lên trong linh hồn đã tê cứng và giá lạnh.

Phó chủ giáo thong thả tiến lại gần. Ngay phút cuối cùng này, cô vẫn thấy ông liếc con mắt long lanh dâm dục, ghen tuông và thèm muốn lên tấm thân trần của cô. Rồi ông lớn tiếng hỏi:

- Hỡi cô gái, cô đã xin lỗi Chúa về những tội lỗi và lầm lạc của mình chưa?

Ông ghé sát tai cô và hỏi thêm (công chúng lại tưởng ông lắng nghe lời thú tội cuối cùng của cô):

- Em có bằng lòng yêu ta không? Ta vẫn còn có thể cứu được em?

Cô chằm chằm nhìn ông:

- Cút đi, đồ quỷ dữ! Nếu không tao sẽ tố cáo.

Ông mỉm cười ghê rợn:

- Không ai tin em đâu. - Chỉ tổ kèm thêm một ô nhục vào tội ác. - Trả lời nhanh lên! Em có bằng lòng yêu ta không?

Đúng lúc đó, ông phó chủ giáo khốn nạn bất giác ngẩng đầu và trông thấy ở đầu kia quảng trường, trên bao lơn nhà Gondelaurier, viên đại úy đứng cạnh Fleur-de-Lys. Ông lảo đảo, đưa tay che mắt, nhìn lại lần nữa, khẽ nguyền rủa và mặt ông co rúm lại.

- Thôi! Ngươi hãy chết đi! - Ông nghiến răng nói. - Ngươi sẽ không là của ai hết.

Ông liền giơ tay trước mặt cô gái Ai Cập, cất giọng bi ai kêu lên:

- I nunc, anima anceps, et sit tibi Deus misericors!*

Hỡi linh hồn bất định, bây giờ hãy đi đi, và cầu Chúa từ bi thương xót ngươi.

Đó là thành ngữ khủng khiếp vẫn quen bế mạc các buổi lễ ảm đạm này. Đó là hiệu lệnh ước định giữa linh mục với đao phủ.

Dân chúng quỳ xuống.

- Kyrie Eleison, - các linh mục đứng dưới vòm cửa lớn nói.

- Kyrie Eleison,* - đám đông nhắc lại, tiếng rì rầm chạy lan trên đầu mọi người như sóng vỗ mặt biển động.

Lạy Chúa, hãy thương xót chúng con.

- Amen, - phó chủ giáo nói.

Rồi ông quay lưng lại tội nhân, đầu gục xuống ngực hai bàn tay chắp lại, cùng bước tới chỗ đoàn linh mục, và lát sau, ông mất hút cùng thánh giá, ngọn nến, áo lễ, dưới vòm cột âm u nhà thờ; còn giọng ông âm vang tắt dần từng nấc nơi ban thánh ca đang hát khúc ca tuyệt vọng:

- ... Omnes gurgites tui et fluctus tui super me transierunt!*

Mọi gió xoáy, sóng dâng của ngươi đều tràn qua ta.

Đồng thời tiếng cán giáo bịt sắt của bọn quân hầu gõ từng nhịp vang dội cũng mất dần ở giữa các hàng cột nơi chính diện, nghe như tiếng chuông đồng hồ đổ hồi báo hiệu giờ cuối cùng của kẻ tử tù đã tới.

Lúc đó, các cánh cửa nhà thờ Đức Bà vẫn mở toang, cho thấy bên trong vắng ngắt, hoang vu, tang tóc, không nến thắp mà cũng không tiếng người.

Cô gái tù đứng yên tại chỗ, đợi người ta lôi đi. Một lính tuần cảnh cầm roi phải tới nhắc thầy Charmolue chuyện đó, ông này suốt buổi lễ còn mải ngắm nghía bức phù điêu ngoài cổng lớn, mà có người bảo nó mô tả vụ hiến tế Abraham, kẻ lại nói đó là vụ thực hành điểm kim, mặt trời mọc được biểu hiện bằng thiên đồng, ngọn lửa bằng bó củi, thợ điểm kim bằng Abraham.

Cũng khá vất vả mới kéo ông ra khỏi sự ngắm nghía đó, nhưng rồi ông cũng quay lại, và theo cánh tay ông ra hiệu, hai người mặc áo vàng, các trợ thủ của đao phủ, lại gần cô gái Ai Cập để trói tay.

Lúc bước lên chiếc xe định mệnh để tới trạm dừng cuối cùng, cô gái khốn khổ bỗng nhiên như đau đớn luyến tiếc cuộc đời. Cô ngước cặp mắt đỏ ngầu và khô cạn lên cao, nhìn mặt trời, nhìn đám mây bạc đây đó đứt đoạn các hành thang, hình tam giác xanh lơ, rồi cô lại cúi nhìn quanh, nhìn mặt đất, đám đông, nhà cửa... Đột nhiên, đang lúc người mặc áo vàng trói hai khuỷu tay, cô thét lên tiếng kêu ghê gớm, tiếng kêu vui sướng. Trên bao lơn đằng kia, nơi góc quảng trường, cô vừa nhìn thấy chàng, đúng chàng, người bạn tình, vị chúa tể của cô, Phoebus, một biểu hiện khác của cuộc đời cô! Thẩm phán đã nói dối! Linh mục đã nói dối! Đúng chàng, cô không thể nhầm được, chàng đứng kia, tuấn tú, tráng kiện, mặc nhung phục chói ngời, đầu cắm lông chim, gươm đeo ngang sườn!

- Phoebus! Phoebus của em! - Cô thét lên.

Và cô toan dang đôi cánh tay run rẩy sướng vui về phía chàng, nhưng tay bị trói rồi.

Cô gái liền thấy viên đại úy cau mày, một cô gái đẹp đứng tựa vào Phoebus nhìn chàng bằng cặp mắt tức giận và bĩu môi khinh bỉ, rồi Phoebus nói gì đó cô không nghe thấy được, và hai người vội lui vào sau cánh cửa kính bao lơn đang khép lại.

- Phoebus! - Cô kêu lên thất thanh, - anh có tin là như vậy không?

Một ý nghĩ kinh khủng chợt đến với cô. Cô sực nhớ mình bị kết tội giết một người là Phoebus de Châteauper.

Cô từng chịu hết thảy cho tới lúc đó. Nhưng đòn sau cùng này nặng quá. Cô ngã lăn ra ngất lịm trên mặt đường.

- Nào, khiêng nó lên xe rồi làm cho xong đi! - Charmolue nói.

Chưa ai chú ý nhìn thấy trong hành lang các tượng đức vua tạc ngay trên vòm cổng lớn, một khán giả kỳ lạ từ nãy đến giờ vẫn quan sát hết sức lạnh lùng, cổ vươn dài, khuôn mặt méo mó, nếu không mặc quần áo nửa đỏ nửa tím thì mọi người đã tưởng đó là một trong dãy quái vật bằng đá từ sáu trăm năm nay vẫn há mõm tuôn nước xuống các ống máng dài của nhà thờ. Khán giả đó không bỏ qua tí gì về cảnh tượng diễn ra từ giữa trưa ở trước cổng nhà thờ Đức Bà. Và ngay lúc đầu, khi không ai nghĩ tới chuyện theo dõi, hắn đã buộc chặt vào cột nhỏ trên hành lang một sợi dây thừng to có mấu, một đầu rủ lòng thòng chấm bậc thềm. Xong xuôi, hắn lặng lẽ đứng nhìn, thỉnh thoảng lại huýt sáo khi con sáo bay qua. Đột nhiên, đúng lúc các trợ thủ của đao phủ sắp sửa thi hành mệnh lệnh thản nhiên của Charmolue, hắn liền trèo qua lan can hành lang, dùng tay, chân, đầu gối bám lấy sợi thừng, rồi thấy hắn tụt xuống theo mặt tiền nhà thờ, như giọt nước mưa chảy dọc tấm kính, chạy vụt tới bên hai tên đao phủ, nhanh như con mèo từ mái nhảy xuống, đấm gục bọn chúng bằng hai quả tống thôi sơn, một tay nhấc cô gái Ai Cập như trẻ con nhấc búp bê, rồi nhảy vọt một cái vào tận trong nhà thờ, vừa nâng cô gái cao quá đầu vừa thét vang:

- Tị nạn!

Sự việc xảy ra nhanh đến nỗi, nếu là ban đêm, ta có thể thấy hết như dưới ánh sáng một tia chớp giật.

- Tị nạn! Tị nạn! - Đám đông hò theo và ngàn vạn tiếng vỗ tay làm con mắt độc nhỡn của Quasimodo lóe lên vui sướng và kiêu hãnh.

Cô gái tù bị lay động liền thức tỉnh. Cô ngước mi mắt nhìn Quasimodo rồi lập tức nhắm nghiền, như khiếp sợ kẻ cứu mình.

Charmolue cùng bọn đao phủ, cùng đoàn phòng vệ, đều chưng hửng. Đúng thế, trong khu vực nhà thờ Đức Bà, kẻ tử tù trở nên bất khả xâm phạm. Nhà thờ là nơi ẩn náu. Mọi công lý loài người đều chấm dứt trên ngưỡng cửa.

Quasimodo dừng lại trước cổng lớn. Hai bàn chân nó to bè đứng trên nền đá nhà thờ cũng vững chắc như đôi trụ cột nặng nề kiểu roman. Cái đầu to, rậm tóc, rụt xuống giữa đôi vai như đầu sư tử, vốn cũng có bờm và không có cổ. Nó nâng cô gái toàn thân run rẩy, lơ lửng trên đôi tay chai sạn, như nâng tấm vải trắng; nhưng nó nâng cô hết sức gượng nhẹ, tưởng chừng chỉ sợ làm cô tan vỡ hoặc khô héo. Tựa hồ nó biết đây là một vật mỏng manh, hoàn mỹ và quý báu, giành cho các bàn tay khác, chứ không phải cho tay nó. Đôi lúc, nó có vẻ không dám đụng vào người cô, dù bằng hơi thở. Rồi đột nhiên, nó ghì chặt cô trong vòng tay, trên lồng ngực gồ ghề, như tài sản, như kho tàng, như bà mẹ ôm giữ đứa con; con mắt quỷ sứ của nó cúi nhìn cô, chan chứa yêu thương, đau khổ và tội nghiệp, rồi đột rhiên ngước lên lóe sáng. Thế là phụ nữ kẻ cười người khóc, đám đông giậm chân vỗ tay thích thú, vì lúc đó Quasimodo quả thực đẹp. Đứa con mồ côi, đứa trẻ nhặt được, đồ bỏ đi, chính nó, đúng là đẹp thực, nó cảm thấy mình cao cả và dũng mãnh, nó nhìn thẳng vào cái xã hội từng gạt bỏ nó, mà nó ngang nhiên can thiệp vào, nhìn thẳng vào cái công lý loài người đang nắm giữ con mồi mà nay nó đã giành lại, tất cả bầy hổ đói nay đành chẳng có gì để nhai, bọn sai nha, thẩm phán, đao phủ, tất cả lực lượng của nhà vua vừa bị nó đập tan, nó, một kẻ hèn hạ, nhưng mang sức mạnh của Chúa.

Vả lại, việc một con người dị dạng bảo hộ một con người khốn khổ, một kẻ tử tù được Quasimodo cứu vớt thật là cảm động. Đó là hai nỗi đau khổ cùng cực của thiên nhiên và xã hội đã gặp nhau và giúp đỡ nhau.

Nhưng sau vài phút đắc thắng, Quasimodo đã vụt biến vào trong nhà thờ cùng gánh nặng trên tay. Dân chúng vốn ưa thích mọi hành động hào hiệp, đưa mắt dõi theo hắn dưới vòm giáo đường u tối, luyến tiếc sao hắn sớm lẩn tránh sự hoan hô.

Đột nhiên, mọi người lại thấy hắn xuất hiện ở một đầu hành lang đặt tượng các vua Pháp, hắn chạy vụt như thằng điên, hai tay nâng cao chiến lợi phẩm và kêu lên:

- Tị nạn!

Đám đông lại hoan hô rầm trời. Chạy hết hành lang, nó chui tọt vào phía trong nhà thờ. Lát sau, nó lại xuất hiện trên sân thượng, vẫn ôm cô gái Ai Cập trên tay, vẫn chạy như điên, vẫn la hét:

- Tị nạn!

Đám đông lại hoan hô. Sau cùng, nó xuất hiện lần thứ ba trên đỉnh tháp chuông nhỏ, ở đó, nó như muốn kiêu hãnh đưa ra cho cả thành phố xem con người nó vừa cứu thoát, và cái giọng oang oang, cái giọng rất ít ai được nghe và chính nó không bao giờ nghe thấy, cuồng nhiệt cất lên ba lần, thấu tận mây xanh:

- Tị nạn! Tị nạn! Tị nạn!

- Noël! Noël! Dân chúng phía dưới cũng reo lên và tiếng hoan hô vang dội vẳng sang tận bờ sông bên kia, làm kinh ngạc đám đông ở quảng trường Grève cùng mụ tu kín vẫn đang chờ đợi, mắt dán vào đài treo cổ.

Ca —★— Nhà Thờ Đức Bà Paris Văn học Kinh điển ebook©MotSAch TVE-4u©VCTVEGROUP —★— Nhà Xuất Bản Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh 2000
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.