Nhà Thờ Đức Bà Paris

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 110 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Iii Immanis Pecoris Custos Immanior Ipse*
Iii Immanis Pecoris Custos Immanior Ipse*

❊ ❊ ❊

Đến năm 1482, Quasimodo thế là đã lớn. Từ vài năm nay, nó trở thành gã kéo chuông của nhà thờ Đức Bà, nhờ công cha nuôi Claude Frollo, ông này đã làm tới phó chủ giáo ở Josas, nhờ ơn bề trên là ngài Louis de Beaumont, giữ chức giám mục Paris vào năm 1472, sau khi Guillaume Chartier từ trần, nhờ ở quan thầy là Olivier Con Hoẵng, đội ơn Chúa vốn là thợ cạo của vua Louis XI.

Một bầy súc vật kỳ quái, kẻ chăn dắt lại còn kỳ quái hơn.

Thế là Quasimodo trở thành người kéo chuông của nhà thờ Đức Bà.

Thời gian trôi qua đã tạo nên mối dây hết sức mật thiết nối liền gã kéo chuông với nhà thờ. Vĩnh viễn bị ngăn cách với thế giới bên ngoài bởi hai tai họa là sinh ra vô thừa nhận và hình thù quái dị, từ nhỏ bị giam hãm trong hai vòng tròn không thể vượt qua đó, gã khốn khổ đã quen không nhìn thấy gì hết trong đời sống ở bên ngoài dãy tường nhà thờ luôn trùm bóng râm che chở nó. Tùy theo mỗi tuổi nó lớn lên và trưởng thành, nhà thờ Đức Bà đối với nó lần lượt là vỏ trứng, cái tổ, căn nhà, tổ quốc, vũ trụ.

Chắc chắn đã có một thứ hòa hợp bí hiểm và kiên quyết giữa con người đó cùng tòa nhà thờ. Hồi còn bé tí nó đã lê la vặn vẹo và nhảy chồm chỗm dưới vòm mái âm u, với khuôn mặt người và tay chân thú vật, nó giống con vật bò sát tự nhiên trên nền đá lát ẩm và u tối, mà những đỉnh cột kiểu roman hắt bóng xuống thành bao hình thù kỳ quái.

Sau đó, khi lần đầu nó bất giác níu lấy sợi dây thừng trên tháp, rồi đánh đu lên và làm rung chuông, Claude, ông bố nuôi, thấy việc đó giống như kết quả của một đứa trẻ đã biết mở miệng và tập nói.

Cứ thế, dần dà, nó luôn luôn phát triển theo ý hướng của giáo đường, nó sống ở đó, ngủ tại đó, hầu như không bao giờ ra ngoài, suốt ngày chịu đựng một áp lực bí hiểm, nó trở nên giống hệt tòa nhà thờ, gắn chặt vào đó, và có thể nói dính liền như một bộ phận của tòa nhà. Xin phép được dùng hình ảnh là các góc lồi của nó khớp với các góc lõm của nhà thờ và nó không chỉ là kẻ trú ngụ, mà nó là nội dung tự nhiên của tòa nhà. Hầu như có thể nói, nó khuôn theo hình dáng tòa nhà, như con ốc sên uốn theo hình cái vỏ. Đó là nơi trú ẩn, cái hang lỗ, cái vỏ của nó. Giữa nó và ngôi nhà thờ cổ có một mối đồng cảm tự nhiên rất sâu sắc, với bao tương quan từ lực, bao tương quan vật chất, khiến nó dính chặt vào nhà thờ như con rùa dính chặt vào mai. Tòa thánh đường gồ ghề là vỏ cứng của nó.

Tưởng cũng không lưu ý trước bạn đọc là đừng nên hiểu theo nghĩa đen chữ các hình ảnh mà tác giả buộc phải dùng ở đây, để diễn tả sự ngẫu hợp kỳ lạ, cân xứng, tức khắc, hầu như đồng nhất giữa con người và tòa nhà. Cũng chẳng cần nói tới mức độ hiểu biết kỹ càng của nó đối với toàn bộ ngôi nhà thờ, trải qua một thời gian chung sống lâu dài và thân thiết như vậy. Chỗ ở này là riêng của nó. Không có ngóc ngách nào Quasimodo không chui vào, chẳng có nơi cao tít nào nó chưa leo tới. Đã nhiều lần, nó trèo lên mặt tiền nhiều tầng mà chỉ cần bám vào các mấu điêu khắc nhô ra. Các tháp chuông mà người ta thường thấy nó bám ở bên ngoài, trèo lên như con thằn lằn leo tường thẳng đứng, hai tháp chuông sóng đôi khổng lồ, rất cao, rất nguy hiểm và đáng sợ, chẳng hề làm nó chóng mặt ghê hãi, lẩy bẩy choáng váng; cứ trông các tòa tháp thật ngoan ngoãn dưới bàn tay nó, rất dễ leo trèo, ta có cảm tưởng nó đã chế ngự được tòa tháp. Nhảy nhót, leo trèo, nô giỡn mãi như vậy giữa các vực thẳm của tòa giáo đường khổng lồ, nó hầu như biến thành khỉ và sơn dương, như trẻ con vùng biển Calabrai biết bơi trước khi biết đi, còn nhỏ xíu đã đùa với sóng biển.

Hơn nữa, không chỉ thân thể, mà cả tinh thần của nó hình như cũng được cấu tạo rập khuôn theo nhà thờ. Tâm hồn nó ở vào trạng thái nào, uốn theo nếp quen nào, biểu lộ dưới dạng thức nào qua cái vỏ dị dạng của cuộc sống bán khai, đó là điều rất khó khẳng định. Quasimodo sinh ra đã chột mắt, gù lưng, khoèo chân, Claude Frollo đã kiên nhẫn gắng công gắng sức mới dạy được nó biết nói. Nhưng oan nghiệt vẫn bám chặt lấy đứa con hoang tội nghiệp. Kéo chuông tại nhà thờ Đức Bà từ năm mười bốn tuổi, nó bị thêm một tật nguyền mới giáng xuống, để hoàn tất nỗi đau khổ; tiếng chuông đã làm thủng màng tai, nó bị điếc. Cánh cửa duy nhất mà tạo hóa vẫn còn mở rộng để nó tiếp xúc với ngoại giới, đột nhiên đóng lại vĩnh viễn.

Cánh cửa đóng lại ngăn chặn nốt tia ánh sáng và vui sướng duy nhất còn len lỏi được vào tâm hồn Quasimodo. Tâm hồn đó liền rơi vào đêm tối dày đặc. Nỗi buồn, cũng như tật nguyền của gã khốn khổ, thế là trọn vẹn, không sao chữa nổi. Hơn nữa, tật điếc còn làm cho nó hầu như câm. Vì, để khỏi làm trò cười cho kẻ khác, từ lúc biết mình bị điếc, nó kiên quyết nín lặng, chỉ thỉnh thoảng hé miệng khi có độc một mình. Nó cố tình không nói, làm Claude Frollo mất bao công phu mới khiến nó mở mồm. Do đó dẫn tới tình trạng mỗi khi bắt buộc phải cất lời, miệng lưỡi nó thật lóng ngóng, vụng về, như cái cửa đã gỉ mất bản lề.

Nếu bây giờ ta thử len lỏi vào tâm hồn Quasimodo qua lần vỏ dày và cứng đó; nếu ta dò mỗi chiều sâu của cơ cấu hư hỏng đó; nếu ta có dịp soi đuốc ngó qua các bộ phận đục mờ đó, khám phá phần bên trong tăm tối của sinh vật mờ đục đó, soi sáng các ngõ ngách u ám, các hẻm cụt phi lý và đột nhiên rọi một ánh sáng chói lọi lên linh hồn bị trói buộc dưới đáy cái hang động đó, chắc chúng ta sẽ thấy linh hồn khốn khổ này ở trong một tình trạng nghèo nàn, cằn cỗi và còi cọc như tội nhân ở nhà tù Venice, gục xuống chết giả trong cái hộp bằng đá quá thấp và quá hẹp.

Chắc chắn tinh thần cũng ốm yếu trong một thân thể tàn tật. Quasimodo mơ hồ cảm thấy trong con người nó đang mù quáng chuyển động một linh hồn cấu tạo theo hình thể của nó. Cảm giác về mọi đối tượng bị bẻ quéo rất nhiều trước khi tới tư duy. Đầu óc nó là môi trường đặc biệt; các ý nghĩ xuyên qua đã thoát ra đều trở thành méo mó. Cảm nghĩ xuất phát từ sự bẻ queo như vậy, tất nhiên phải ngang ngược và sai lạc.

Từ đó nảy sinh trăm ngàn ảo tưởng thị giác, trăm ngàn phán đoán hàm hồ, trăm ngàn ý nghĩ lông bông lầm lạc, lúc điên dại, lúc ngu ngốc.

Hậu quả đầu tiên của cơ cấu tai hại này là làm rối loạn con mắt nhìn sự vật. Hầu như không có cảm quan thu nhận tức khắc nào cả. Thế giới bên ngoài, đối với nó, hình như xa xôi hơn nhiều so với mọi người.

Hậu quả thứ hai của nỗi bất hạnh là nó trở thành độc ác.

Thật vậy, nó độc ác vì nó man rợ; nó man rợ vì nó xấu xí. Trong bản chất nó, cũng có sự sắp đặt hợp lý, như ở chúng ta.

Sức lực nó phát triển đến kỳ lạ là một nguyên nhân nữa của tính độc ác. Malus puer robustus*, như triết gia Hobbe từng nói.

Đứa trẻ khỏe mạnh thường độc ác.

Tuy nhiên, cứ công bằng mà nói, có lẽ tính độc ác vốn không phải bẩm sinh ở nó. Từ bước chân đầu tiên đi vào giữa mọi người, nó đã cảm thấy, rồi nhìn thấy, mình bị chửi mắng, hành hạ, xua đuổi. Lời nói của người đời với nó bao giờ cũng chỉ là chế giễu hoặc nguyền rủa. Lớn lên, nó chỉ thấy toàn thù hằn vây bọc chung quanh. Nó chấp nhận. Nó thu thập sự độc ác của mọi người. Nó nhặt lấy thứ vũ khí mà họ đã đả thương nó.

Tóm lại, nó chỉ miễn cưỡng quay mặt lại tiếp xúc với mọi người. Tòa nhà thờ là đủ với nó rồi. Nhà thờ đầy rẫy tượng đá, nào vua chúa, thần thánh, linh mục, ít nhất cũng không cười vào mũi nó và chỉ nhìn nó bằng cặp mắt bình thản và ân cần. Các tượng khác, tượng quái vật và quỷ sứ cũng chẳng thù hằn gì Quasimodo. Về mặt này, nó giống hệt lũ đó. Chúng chế giễu bọn người khác thì đúng hơn. Thần thánh là bạn và ban phước lành cho nó; quái vật cũng là bạn và chở che nó. Cho nên, nó thường than thở rất lâu với các bạn đó. Cho nên, đôi khi nó ngồi xổm hàng giờ liền trước một pho tượng, một mình trò chuyện với tượng. Nếu có ai chợt đến, nó bỏ chạy như kẻ tình nhân bị bắt gặp đang dạo khúc tình ca.

Nó thấy nhà thờ không chỉ là xã hội, mà còn là vũ trụ, còn là toàn bộ thiên nhiên. Nó không mơ ước rặng cây bên đường nào khác ngoài các khung cửa kính luôn luôn vẽ hoa, không mơ bóng râm nào khác ngoài vòm lá bằng đá đầy chim chóc, xum xuê tỏa rộng trên đỉnh dãy cột kiểu Saxons, không mơ núi non nào khác ngoài dãy tháp khổng lồ của nhà thờ, không mơ biển cả nào khác ngoài Paris đang rì rầm dưới chân tòa tháp.

Cái nó yêu thương nhất trong tòa nhà mẫu tử, cái làm thức tỉnh tâm hồn nó và mở rộng đôi cánh tội nghiệp mà tâm hồn vẫn giữ gìn khép nép khổ sở trong hang động, cái làm nó đôi khi sung sướng, đó là các quả chuông. Nó yêu mến, vuốt ve, trò chuyện, thông cảm với chúng. Nó yêu thương tất cả, từ chuông nhỏ trên tháp nhọn tới chuông lớn trên cổng chính. Gác chuông nhỏ, cũng như hai tòa tháp, đối với nó là ba cái lồng lớn nhốt bầy chim do nó nuôi và chỉ hót cho nó nghe. Mặc dù chính các chuông đó đã làm nó điếc, nhưng bà mẹ thường lại yêu hơn đứa con nào từng làm khổ mình nhất.

Quả thực bây giờ nó chỉ còn nghe được các tiếng chuông thôi. Với tư cách đó, quả chuông lớn được nó yêu thương hơn cả. Nó thích nhất quả chuông đó trong đám con gái ồn áo, tung tăng quanh nó những ngày hội. Quả chuông lớn mang tên Marie. Nó chỉ có một mình trong tòa tháp phía nam cùng cô em Jacqueline nhỏ bé hơn, nhốt trong cái lồng nhỏ bé hơn cạnh đó. Chuông sở dĩ mang tên Jacqueline, vì đó là tên bà vợ của Jean de Montagu, người đã cúng chuông cho nhà thờ, nhưng không vì thế mà tránh khỏi rơi đầu ở Montfaucon. Trong tháp thứ hai có sáu chuông khác, và cuối cùng còn sáu chuông nhỏ nhất ở trên gác chuông nhỏ cùng quả chuông gỗ, chỉ đánh lên từ chiều thứ năm giải tội tới sáng ngày trước lễ Phục sinh. Như vậy Quasimodo có một hậu cung mười lăm quả chuông, nhưng chuông lớn Marie được sủng ái nhất.

Khó tưởng tượng nổi niềm vui của nó vào những ngày chuông gióng vang lừng. Lúc phó chủ giáo thả nó ra và bảo: Đi đi! Nó liền leo lên thang cuốn các gác chuông, còn nhanh hơn kẻ khác chạy xuống. Nó hổn ha hổn hển lao vào gian phòng chót vót treo chiếc chuông lớn, nó kính cẩn và yêu thương ngắm nhìn quả chuông một lát; rồi nó dịu dàng trò chuyện với chuông, đưa tay vuốt ve như với con tuấn mã sắp chạy chặng đường dài. Nó than vãn cho sự vất vả sắp tới của chuông. Xong những vuốt ve ban đầu, nó bảo bọn phụ việc đứng ở tầng dưới tòa tháp bắt đầu. Bọn này đu mình vào dây chuông, ống cuốn dây kêu rít và cái vỏ kim khí khổng lồ từ từ chuyển động. Quasimodo hồi hộp nhìn theo. Tiếng va chạm đầu tiên giữa quả lắc và vỏ đồng làm rung chuyển cả giá gỗ treo chuông. Quasimodo run rẩy cùng chuông. A ha! Nó reo lên, cười vang khoái trá. Rồi nhịp chuông mau hơn, đà chuông càng bay bổng hơn, con mắt Quasimodo càng mở to hơn, lóe ánh lân tinh và lửa đỏ. Cuối cùng, chuông bắt đầu đổ hồi rộn rã, cả tòa tháp rung lên, cùng với kèo gỗ, lá chì, đá tảng, tất cả cùng lúc gầm vang, từ cột móng tới vòm mái hình cỏ ba lá. Quasimodo liền sùi hết bọt mép, đi đi lại lại, từ chân tới đầu cùng run rẩy theo tòa tháp Quả chuông mặc sức hùng hổ, lần lượt há mõm đồng với hai vách tháp, phả ra luồng gió bão táp cách xa bốn dặm còn nghe thấy. Quasimodo đứng trước cái mõm há hốc đó; nó thụp xuống, rướn lên theo nhịp chuông qua lại, nó hít thở luồng gió cuốn tung, lần lượt hết ngó xuống quảng trường sâu thẳm đông người ở dưới chân hắn hai trăm bộ, lại nhìn chiếc lưỡi đồng khổng lồ từng giây tới thét vào tai nó. Đó là lời nói duy nhất nó nghe được, tiếng động duy nhất làm xáo động sự im lặng mênh mông trong nó. Người nó nở nang trong tiếng chuông như con chim tắm nắng. Đột nhiên, tiếng chuông cuồng loạn nhập vào nó; mắt nó ánh lên kỳ dị; nó đợi tiếng chuông ập tới như con nhện chờ ruồi, rồi bất thần lao mình nhảy bổ tới. Thế là, treo mình trên vực thẳm, lao theo nhịp chuông đu bổng tít, nó nắm lấy hai tai con quái vật bằng đồng, đầu gối kẹp chặt, gót chân thúc như thúc ngựa. Đem hết áp lực và sức nặng thân mình làm tăng thêm đà chuông rung cuồng nộ. Trong khi đó, tòa tháp lay động, còn nó thét lên, nghiến răng kèn kẹt, mái tóc đỏ hoe dựng đứng, ngực thở phì phò như bễ lò rèn, mắt tóe lửa, quả chuông quái gở đang cười hổn hển hí lên và lúc đó, không còn là hồi chuông nhà thờ Đức Bà, không còn là Quasimodo nữa, chỉ còn là một giấc mơ, một cơn lốc, một trận bão; là choáng váng cưỡi lên tiếng động, là linh hồn bám trên lưng ngựa bay; là quái vật kỳ dị nửa người nửa chuông; là một Astolphe* kinh khủng phóng trên con thần mã kỳ diệu bằng đồng và sống động.

Hoàng tử trong thần thoại Anh, một hiệp sĩ của truyện Roland nổi giận của Lodovico Ariosto. Một tiên nữ tặng chàng chiếc kèn săn “tiếng kêu đinh tai nhức óc không một sinh vật nào chịu nổi”.

Sự hiện diện của con người kỳ quái này thổi khắp giáo đường một luồng sinh khí lạ lùng. Cứ theo lời đồn mê tín phóng đại của dân chúng, tưởng như chính nó toát ra một luồng khí thần bí làm sống dậy mọi khối đá của giáo đường và làm rung động các hầm sâu của ngôi nhà thờ cổ. Chỉ cần biết có nó ở đó là tưởng như trông thấy trăm ngàn pho tượng trên hành lang và cổng chính đang sống và hoạt động. Mà quả thực, tòa nhà thờ giống như một sinh vật ngoan ngoãn, biết nghe lời nó; tòa nhà đợi lệnh nó mới cất to tiếng; Quasimodo như ông thần bếp ám ảnh và ngự trị khắp ngôi nhà. Có thể nói chính nó khiến tòa nhà đồ sộ hô hấp. Đúng là nó có mặt khắp nơi, nó phân thân ra khắp các xó xĩnh trong nhà. Lúc thì mọi người kinh hoàng nhìn thấy chót vót trên nóc tháp một gã lùn kỳ quái đang leo trèo, bò ngoằn ngoèo bằng tứ chi, luồn ra bên ngoài tụt xuống vực thẳm, đu từ mô đá này sang mô đá khác và chui tọt vào lục lọi bên trong một cây san hô bằng đá tạc; đó là Quasimodo đi kiếm tổ quạ. Lúc lại đụng phải một thứ quái vật sống, ngồi xổm và cau có trong một góc thánh đường tối om; đó là Quasimodo đang tư lự. Khi chợt thấy dưới gác chuông một cái đầu to tướng và một mớ tay chân lủng củng đang hùng hổ đánh đu ở đầu sợi dây thừng; đó là Quasimodo kéo chuông vào buổi lễ chầu hoặc buổi lễ văn. Ban đêm, thường thấy một bóng ma quái đản thất thểu trên dãy lan can mỏng manh trổ hình thêu ren, chạy viền nóc tháp và bao quanh hậu cung thánh đường; lại vẫn thằng gù nhà thờ Đức Bà. Thế là theo lời các bà ở quanh khu đó, khắp tòa nhà thờ bỗng có vẻ kỳ quái, dị thường, khủng khiếp; đây đó hiện lên những mắt mở trừng, mồm há hốc; rồi tiếng chó sủa, nào mãng xà, kỳ lân bằng đá vươn cổ há mõm suốt ngày đêm canh gác quanh tòa nhà thờ khổng lồ, nếu lại là đêm Giáng sinh, trong khi quả chuông lớn như rên rỉ kêu gọi tín đồ tới dự buổi lễ rực sáng nửa đêm, mặt tiền âm u của nhà thờ bỗng bao phủ một không khí khiến ta có cảm tưởng chiếc cổng lớn đang nuốt đám đông, còn ở cửa hoa thị đang nhìn họ. Mà mọi cái đó đều do sự có mặt của Quasimodo. Nếu ở Ai Cập, người ta đã coi nó là thần linh của ngôi đền; thời trung cổ cho nó là quỷ sứ; thực ra nó là linh hồn nhà thờ Đức Bà.

Đến độ mà những ai từng biết có Quasimodo đã sống ở đó, sẽ thấy nhà thờ Đức Bà, giờ đây sao mà hoang vắng, thê lương, chết chóc. Như có cái gì đó đã tiêu vong. Thân xác đồ sộ nay trống rỗng, chỉ còn bộ xương; linh hồn rời đi rồi, chỉ còn lại vị trí cũ của nó, có thế thôi. Như chiếc sọ người, trên đó vẫn còn hai lỗ của đôi mắt, nhưng đã mất vẻ nhìn.

Ca —★— Nhà Thờ Đức Bà Paris Văn học Kinh điển ebook©MotSAch TVE-4u©VCTVEGROUP —★— Nhà Xuất Bản Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh 2000
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.