Nhà Thờ Đức Bà Paris

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 110 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Iv Người Bạn Vụng Về
Iv Người Bạn Vụng Về

❊ ❊ ❊

Cũng đêm đó, Quasimodo không ngủ. Nó vừa đi tuần lần cuối trong nhà thờ. Lúc đóng cửa, nó không nhận thấy phó chủ giáo tới gần và tỏ vẻ bực mình khi thấy nó cài then và khóa cẩn thận bộ gióng sắt lớn, khiến cánh cửa to rộng vững chắc như tường thành. Đức cha Claude còn có vẻ bận rộn hơn thường lệ. Vả lại, từ sau vụ xảy ra ban đêm trong căn phòng, ông luôn hành hạ Quasimodo, nhưng, tha hồ bạc đãi nó, thậm chí đôi khi còn đánh đập nữa, vẫn không gì lay chuyển nổi thái độ phục tùng, nhẫn nại, chịu đựng hết lòng của gã kéo chuông trung thành. Phó chủ giáo làm gì, nó cũng chịu đựng hết, dù chửi mắng, hăm dọa, đánh đập, nó không hé một câu trách móc, không thốt nửa lời thở than. Cùng lắm nó chỉ lo ngại nhìn theo khi đức cha Claude leo thang lên tháp, nhưng chính phó chủ giáo cũng tránh mặt cô gái Ai Cập.

Vậy đêm đó, sau khi liếc nhìn dãy chuông tội nghiệp bị bỏ rơi bấy lâu, nào Jacqueline, nào Marie, nào Thibauld, Quasimodo leo lên tận đỉnh ngọn tháp phía bắc, rồi từ đó, đứng ngắm nhìn Paris, sau khi đặt chiếc đèn lồng mờ đóng kín trên mái nhà bằng chì. Như đã nói ở trên, đêm đó rất tối trời. Paris hồi đó hầu như không có đèn đường, trông như một đống lộn xộn các khối đen, đây đó cắt ngang bởi con sông Seine trắng đục lượn vòng, Quasimodo chỉ trông thấy ánh đèn ở cửa sổ một nhà xa xa, mà hình thù mơ hồ và tối sẫm nổi bật trên dãy mái, về phía cổng Saint-Antoine. Ở đó cũng còn người đang thức.

Trong khi con mắt độc nhỡn thẫn thờ nhìn phía chân trời mù sương và tối đêm, gã kéo chuông bỗng cảm thấy thâm tâm lo ngại một cách khó nói. Từ vài hôm nay nó vẫn đề phòng. Nó luôn thấy lảng vảng quanh nhà thờ những bọn đàn ông mặt mũi hằm hè đang chăm chú theo dõi chỗ tị nạn của cô gái. Nó nghĩ có lẽ họ mưu mô để làm hại cô gái ẩn náu khốn khổ. Nó tưởng đâu dân chúng cũng thù ghét cô như thù ghét nó và rất có thể sắp xảy ra chuyện gì. Cho nên nó đứng trên tháp chuông, canh gác, mơ màng trong xó mộng mơ, như Rabelai từng nói, mắt hết nhìn căn buồng cô gái lại nhìn Paris, canh phòng cẩn mật như con chó ngoan, đầu óc đầy nghi ngại.

Đột nhiên, đang chăm chú theo dõi đô thành rộng lớn bằng con mắt mà tạo hóa, như muốn bù trừ, đã phú cho rất tinh tường, gần như thay thế được các giác quan khác bị thiếu ở Quasimodo, nó thấy tựa hồ hình bóng khúc bờ sông ở phố Hàng da cũ có gì khác lạ, nơi đó đang chuyển động, đường nét của dãy lan can nổi lên đen sẫm trên nền sông trắng mờ không thẳng tuột và bất động như trên các khúc bờ sông khác, mà uốn lượn trước mắt như sóng gợn mặt sông hoặc đầu người của đám đông đang đi.

Nó lấy làm kỳ lạ, bèn chăm chú hơn. Sự di chuyển như hướng về Khu thành cũ. Cũng không le lói chút ánh sáng nào. Các khối đó dừng lại một lát trên bờ sông, rồi dần dần chảy đi, như thể cái đám vừa đi ngang đó đang lao vào phía trong hòn đảo, rồi biến mất hẳn, và đường nét bờ sông trở lại thẳng tuột và bất động.

Đang lúc Quasimodo còn phân vân chưa hiểu, hắn lại thấy sự chuyển động hình như tái hiện trên phố Sait nhà thờ, chạy dài giữa Khu thành cũ, vuông góc với mặt tiền của nhà thờ Đức Bà. Sau cùng, tuy đêm tối mịt mù, hắn vẫn thấy được đoạn đầu của một đoàn người từ phố đó đổ ra, rồi phút chốc một đám đông mà trong đêm tối không thể phân biệt được gì hơn là một đám đông, tràn lan khắp quảng trường.

Cảnh tượng thật đáng sợ. Chắc hẳn đám rước kỳ quặc đó, tựa hồ rất chú ý lẩn lút trong đêm tối mịt, cũng gắng hết sức giữ im lặng. Tuy nhiên văng vẳng vẫn có tiếng động, dù chỉ tiếng bước chân. Nhưng tiếng động đó không thể lọt vào tai gã điếc và đám đông kịt mà nó chỉ trông thấy lờ mờ và chẳng nghe thấy gì hết, vẫn di động và tiến lại gần, khiến nó có cảm tưởng như đây là một đám đông các xác chết, câm lặng, không sờ mó nổi, mất hút trong sương khói. Nó tựa hồ thấy tiến lại một đám sương mù dày đặc người, thấy bóng đen động đậy trong bóng đêm.

Thế là nó đâm lo, đầu óc sực nghĩ đây là một âm mưu làm hại cô gái Ai Cập. Nó mơ hồ cảm thấy mình đang tiến gần tới một hoàn cảnh bạo động. Giữa lúc nguy kịch, nó hỏi ý kiến chính mình, bằng suy luận sáng suốt và khá nhanh chóng, không thể ngờ ở một đầu óc quá xộc xệch như vậy. Có cần đánh thức cô gái Ai Cập dậy không? Giúp cô trốn đi? Bằng cách nào? Đường phố đã kín người, nhà thờ lại tựa lưng ra sông. Không có thuyền! Hết lối thoát! - Chỉ còn cách liều mình đến chết ở trước cửa nhà thờ, ít nhất cũng chống cự tới lúc có người đến giải cứu, nếu may mà có được, và không phá giấc ngủ của Esmeralda. Cô gái khốn khổ vẫn sẽ tỉnh giấc khá sớm để mà chết. Quyết định xong như vậy, nó bắt đầu quan sát kẻ địch bình tĩnh hơn.

Đám đông như mỗi lúc một đông thêm trên phố Sait nhà thờ. Tuy nhiên, nó đoán đám đông rất ít làm ồn, vì các cửa sổ trên phố và quanh quảng trường vẫn đóng kín. Đột nhiên ánh lửa lóe lên, rồi phút chốc bảy tám cây đuốc được thắp sáng, chuyền đi trên đầu, ngọn lửa bùng cháy lay động trong bóng đêm. Thế là Quasimodo nhìn thấy rành rành trên phố Sait nhà thờ nhấp nhô một bầy khủng khiếp đàn ông đàn bà áo quần rách rưới, tay mang liềm hái, giáo mác, dao quắm, lấp loáng muôn ngàn mũi nhọn. Đây đó, những đinh ba đen sì làm thành những cặp sừng trên các mặt mũi gớm ghiếc. Nó loáng thoáng nhớ lại đám dân chúng này và hình như nhận ra những bộ mặt dăm tháng trước đây từng chào mừng nó, Cuồng đãng giáo hoàng. Một gã, tay cầm đuốc, tay cầm roi da, trèo lên cột mốc và có vẻ đang kêu gọi. Đồng thời, đội quân kỳ quái hơi di chuyển, như đang chiếm lĩnh các vị trí quanh nhà thờ. Quasimodo cầm đèn lồng và đi xuống sân thượng ở giữa các tháp, để nhìn gần hơn và tìm cách phòng ngự.

Clopin Trouillefou đi tới cổng lớn nhà thờ Đức Bà, quả nhiên hắn đang triển khai đội hình chiến đấu. Mặc dù không chờ đợi bất cứ sự kháng cự nào, với tư cách vị tư lệnh thận trọng, hắn muốn giữ vững trật tự để sẵn sàng đối phó khi cần thiết, chống lại một cuộc tấn công bất ngờ của lính tuần hoặc lính kích thủ. Cho nên hắn đã bố trí đội quân theo phương thức mà nhìn từ trên cao và từ xa, ta có thể nói đó là thế tam giác của trận Ecnome, thế đầu lợn của Alexandre hoặc thế cắm chốt nổi tiếng của Gustave-Adolphe. Cạnh đáy của tam giác đó dựa vào phía cuối quảng trường, có thể án ngữ phố Sait nhà thờ; một cạnh trông sang nhà thương, cạnh kia trông ra phố Saint-Pierre-aux-Boeuf. Clopin Trouillefou đứng ở góc đỉnh, cùng quận công Ai Cập, anh bạn Jehan và bọn ăn mày giả động kinh hung hăng nhất.

Ở các thành phố thời trung cổ, một hành động như vụ lũ ăn mày hiện giờ đang làm tại nhà thờ Đức Bà, không phải là chuyện quá hiếm. Cái bây giờ ta gọi là cảnh sát thời đó chưa có. Tại các đô thị đông dân, nhất là ở thủ đô, không hề có chính quyền trung ương, duy nhất, điều hòa. Chế độ phong kiến xây dựng một mớ hàng ngàn lãnh địa, chúng chia cắt đô thị thành biệt khu đủ mọi kiểu và đủ mọi cỡ. Từ đó hàng ngàn cảnh sát đối nghịch nhau, tức là chẳng có cảnh sát gì cả. Chẳng hạn, ở Paris, ngoại trừ một trăm bốn mươi mốt lãnh chúa cai quản khu đất tô, còn có hăm nhăm lãnh chúa cai quản pháp lý và đất thu tô, từ giám mục Paris sở hữu một trăm linh năm phố, tới tu viện trưởng nhà thờ Đức Bà des-Champs sở hữu bốn phố. Tất cả các nhà tư pháp phong kiến này chỉ thừa nhận trên danh nghĩa quyền lực bá chủ của nhà vua. Tất cả đều có quyền lực đối với đường sá trong lãnh địa. Tất cả đều làm chủ lãnh địa của mình. Vua Louis XI, người thợ không biết mệt từng phóng tay mở đầu sự phá hủy tòa lâu đài phong kiến, được Richelieu và Louis XIV tiếp tục duy trì sự có lợi cho quyền lực nhà vua và được Mirabeau hoàn thành sự có lợi cho dân chúng, vua Louis XI đã hết sức cố gắng chọc thủng hệ thống lãnh địa đang bao trùm lên Paris, mạnh mẽ tung ra một cách rất ngang ngược hai hoặc ba đạo dụ về cảnh sát tổng quản. Do đó, năm 1465, có lệnh cho dân chúng ban đêm phải thắp đèn trước cửa và nhốt chó, ai trái lệnh sẽ bị xử giảo; cũng năm đó, lệnh lại ban xuống là buổi tối, cấm mọi người mang dao găm hoặc vũ khí tấn công đi ra phố. Nhưng chỉ được ít lâu, mọi cố gắng về luật lệ thành phố đều rơi vào quên lãng. Thị dân để mặc gió thổi tắt đèn trên cửa sổ và chó cứ việc thả rông; xích sắt chỉ giăng ra khi có thiết quân luật; lệnh cấm đeo dao găm không đem tới thay đổi nào khác ngoài việc đổi tên phố Xẻo mõm thành phố Xẻo cổ, đúng là có tiến bộ rõ ràng. Nền móng xưa cũ của luật lệ phong kiến vẫn đứng vững; một mớ hỗn độn mênh mông các quyền pháp quan và quyền lãnh chúa chồng chéo nhau trên thành phố, vướng víu, lẫn lộn, xen kẽ lung tung, cái nọ chen lẫn cái kia; một rừng vô ích những tuần cảnh, phó tuần cảnh và phản tuần cảnh, để lọt lưới cả kẻ cướp vũ trang, bọn cưỡng đoạt lẫn lũ phản loạn. Trong cảnh hỗn độn này, chẳng phải là sự kiện kỳ lạ khi một bộ phận dân chúng kéo tới cướp phá một lâu đài, một dinh thự, một tòa nhà, trong các khu phố đông dân nhất. Trong số lớn trường hợp, các láng giềng chỉ can thiệp khi sự cướp phá lan tới nhà mình. Họ bịt tai trước tiếng súng, đóng kín cửa sổ, chặn kỹ cửa ra vào, để mặc cho vụ tranh chấp tự chấm dứt, có hoặc không có lính tuần cảnh xen vào, rồi sáng hôm sau, người người kháo khắp Paris:

- Đêm qua, Étienne Barbette bị cướp phá.

- Thống chế Clermont bị chúng tóm được, vv...

Cho nên, không chỉ riêng hoàng cung, điện Lourve, tòa Pháp đình, pháo đài Bastille, lâu đài Tournell, mà ngay cả các tư dinh bình thường của lãnh chúa, dinh Tiểu Bourbon, lâu đài Sens, lâu đài Angoulême vv... cũng đục lỗ châu mai ở tường và xây lỗ ném đá trên cổng. Các nhà thờ tự vệ bằng tư cách thánh thiện. Tuy nhiên cũng có cái được phòng thủ vững chắc, trong số đó không có nhà thờ Đức Bà. Tu viện trưởng ở Saint-Germain-des-Prés cũng đục lỗ châu mai như một nam tước và ông có sẵn đồng dùng đúc súng nhiều hơn để đúc chuông. Tới năm 1610, vẫn còn thấy pháo đài của tu viện đó. Bây giờ chỉ còn lại tòa nhà thờ.

Ta trở lại với nhà thờ Đức Bà.

Khi những chuẩn bị đầu tiên đã xong, và ta phải khen ngợi là kỷ luật hành khất khiến các mệnh lệnh của Clopin được thi hành lặng lẽ và hết sức chuẩn xác, vị chỉ huy xứng đáng của lũ cướp liền leo lên bờ tường thấp quanh sân nhà thờ, rồi cất giọng khàn khàn, cáu kỉnh, hắn quay mặt về phía nhà thờ, tay vung ngọn đuốc phần phật cháy sáng trong gió và luôn bị khói bốc lên che khuất, làm mặt tiền đỏ ối của tòa nhà thờ khi ẩn khi hiện trước mắt mọi người.

- Hỡi Louis de Beaumont, giám mục Paris, cố vấn tối cao pháp viện, hãy nghe đây, ta là Clopin Trouillefou, vua xứ Thunes, Khất cái đại vương Coësre, quốc vương dân tiếng lóng, giám mục bọn cuồng đãng, ta tuyên bố: - Cô em gái của ta, bị kết tội oan vì ma thuật, đang trú ẩn và được an toàn; nhưng pháp đình muốn bắt lại cô gái và người đã bằng lòng; do đó ngày mai, chúng sẽ treo cổ cô ta tại quảng trường Grève nếu Chúa và dân hành khất không có mặt lúc này. Vì vậy, hỡi giám mục, bọn ta kêu gọi ngươi. Nếu nhà thờ của ngươi thiêng liêng thì cô em chúng ta cũng bất khả xâm phạm, nếu cô em chúng ta không bất khả xâm phạm, thì nhà thờ của ngươi cũng chẳng thiêng liêng gì cả. Cho nên ta hạ lệnh cho ngươi phải trao trả cô gái, nếu ngươi muốn cứu vãn nhà thờ, bằng không ta vẫn giành lại cô gái mà còn cướp phá nhà thờ. Như thế càng hay. Để làm bằng cho lời ta vừa nói, ta cắm cờ hiệu tại đây, xin Chúa bảo vệ cho ngươi, hỡi giám mục thành Paris.

Chẳng may Quasimodo lại không nghe thấy những lời lẽ được tuyên bố một cách oai nghiêm, buồn bã và man rợ. Một gã ăn mày đưa cờ hiệu cho Clopin, hắn trịnh trọng cắm giữa hai phiến đá lát đường. Đó là cây đinh ba có xiên tảng thịt chết đuối đẫm máu.

Nói xong, vua xứ Thunes quay lại và đưa mắt nhìn đoàn quân, một đám đông hung dữ, mắt sáng quắc chẳng kém gì mũi giáo. Ngừng lại giây lát rồi hắn thét lên:

- Tiến lên, hỡi các con! Bắt tay vào việc đi, những kẻ sừng sỏ!

Ba chục gã đàn ông lực lưỡng, tay chân phục phịch, vẻ mặt thợ khóa, bước ra khỏi hàng, vai vác búa, kìm và gióng sắt. Họ tiến tới cửa chính nhà thờ, bước lên bậc thềm, rồi sau đó thấy cả bọn ngồi xổm dưới vòm tò vò, dùng kìm và đòn bẩy nậy cửa. Một đám ăn mày theo sau để giúp đỡ hoặc xem chơi. Mười bậc thềm trước cửa chính đông đặc người.

Nhưng cánh cửa vẫn khép chặt. Một gã nói:

- Ma quỷ! Cửa vững chắc và cứng đầu quá!

- Nó già quá, da thịt thành chai mất rồi, - gã khác nói.

- Cố gắng lên các bạn! - Clopin thúc giục. - Ta đặt cuộc cái đầu ta lấy chiếc giày là các bạn sắp phá được cửa, mang cô gái ra và dọn sạch tòa chính diện trước khi có gã phụ thủ nào thức dậy. Kìa! Xem chừng ổ khóa đã lung lay.

Clopin bị ngắt lời bởi tiếng ầm kinh khủng ngay lúc đó vang dội sau lưng. Hắn quay lại. Một xà gỗ rất lớn vừa từ trên trời rơi xuống, đè bẹp khoảng một tá ăn mày trên bực thềm nhà thờ, rồi văng ra mặt đường kêu vang như tiếng trái phá, rải rác còn làm gãy thêm chân tay bọn ăn mày, chúng đang kinh khủng thét lên và giãn ra. Trong chớp mắt, khu có tường rào trong sân nhà thờ đâm vắng ngắt. Đám sừng sỏ tuy được vòm cửa tò vò khoét sâu che chở, vẫn phải rời cửa. Chính Clopin cũng lùi lại khá xa nhà thờ. Jehan kêu lên:

- May quá mình lại thoát nạn! Ghê thật, nghe thấy cả tiếng gió rít! Nhưng Pierre l’Assommeur bị đè bẹp om xương!

Khó tả nổi sự ngạc nhiên lẫn nỗi hãi hùng rơi xuống đầu lũ cướp theo cây xà gỗ. Chúng ngước mắt lên trời đứng lặng hồi lâu, khiếp sợ khúc gỗ đó hơn hai vạn cung thủ ngự lâm.

- Ma quỷ! - Quận công Ai Cập làu bàu, - đúng là có hơi hướm ma thuật!

- Chính mặt trăng ném thanh củi đó xuống đầu mình, - Andry le Rouge nói.

- Nếu thế, mặt trăng là bạn thân của Đức Bà! - François Chanteprune nói.

- Kệ mẹ giáo hoàng! - Clopin thét lên, - chúng mày sao ngu thế!

Nhưng hắn không giải thích nổi tại sao khúc gỗ lại rơi như vậy.

Lúc đó, chẳng ai trông thấy gì trên mặt tiền nhà thờ, ánh đuốc không chiếu tới trên cao. Khúc gỗ nặng nằm lăn giữa nhà thờ và chỉ nghe thấy tiếng rên rỉ của những kẻ khốn nạn bị khúc gỗ giáng xuống đầu tiên, bụng đứt làm đôi trên cạnh đá bậc thềm.

Phút bàng hoàng đầu tiên qua đi, vua xứ Thunes cuối cùng tìm được câu giải thích tạm phù hợp với đồng bọn:

- Mõm Chúa! Bọn tu sĩ dám chống cự ư? Nếu thế phải phá sạch! Phá sạch!

- Phá sạch! - Đám đông giận dữ hò reo. Rồi cung nỏ, súng ống tua tủa bắn vào mặt tiền nhà thờ.

Nghe tiếng nổ, dân cư yên ổn ở các nhà xung quanh mới thức dậy, cửa sổ liền mở ra, và các đầu đội mũ ngủ cùng tay cầm đèn, hiện ra nơi khung cửa. Clopin thét lên:

- Bắn vào cửa sổ!

Các cửa sổ lập tức khép lại và bọn thị dân tội nghiệp vừa mới kịp hoảng hốt liếc nhìn cảnh tượng sáng bập bùng và ồn ào, đã sợ toát mồ hôi quay ngay vào với vợ, thầm hỏi không biết có phải đại hội phù thủy bây giờ họp ở giữa sân nhà thờ Đức Bà, hoặc lại xảy ra chuyện tấn công của dân Bourguignon như hồi năm 64. Trong khi những ông chồng nghĩ tới cướp bóc, các bà vợ lại lo bị hãm hiếp, sợ run lên.

- Phá sạch! - Dân tiếng lóng thét lên. Nhưng không dám lại gần. Chúng nhìn nhà thờ, nhìn khúc gỗ. Khúc gỗ vẫn nằm trơ đó. Tòa nhà thờ vẫn giữ vẻ bình yên và vắng vẻ, nhưng có gì đó làm lũ ăn mày lạnh gáy. Trouillefou thét lên:

- Bắt tay vào đi chứ, hỡi các tay sừng sỏ! Phải phá cửa.

Không ai nhúc nhích. Clopin nói:

- Đồ mặt mo! Ai lại đi sợ cái xà gỗ bao giờ.

Một lão già sừng sỏ đáp lời:

- Ông chỉ huy ạ, không phải bọn tôi ngán cái xà gỗ, mà là cánh cửa chằng chịt toàn gióng sắt. Dùng kìm chẳng ăn thua gì.

- Thế các anh cần những gì để phá cửa nào? - Clopin hỏi.

- Phải rồi, cần một cây chày húc.

Vua xứ Thunes gan dạ chạy tới khúc gỗ ghê gớm, đạp chân lên và quát:

- Chày húc đây rồi, bọn tu sĩ gửi tới cho các anh đó.

Rồi hắn giễu cợt chào ngôi nhà thờ:

- Cảm ơn các tu sĩ nhé!

Cử chỉ huênh hoang này đạt hiệu quả tốt, vẻ ghê rợn của khúc gỗ biến mất. Bọn hành khất lấy lại can đảm; lát sau, cây xà nặng được hai trăm cánh tay vạm vỡ nhấc lên nhẹ bỗng như chiếc lông, ầm ầm lao tới phóng vào cánh cửa lớn mọi người đã thử tìm cách phá. Trước cảnh tượng đó, dưới ánh sáng lờ mờ, những cây đuốc thưa thớt của bọn ăn mày chiếu lên quảng trường, với khúc gỗ dài do đám đông vác, chạy lao về phía nhà thờ, ta tưởng như trông thấy một con vật khổng lồ ngàn chân đang cắm đầu xông tới tấn công mụ khổng lồ bằng đá.

Cây xà vừa húc vào, chiếc cửa một nửa bằng kim khí vang lên như cái trống đồ sộ; cửa không bị vỡ, nhưng toàn bộ ngôi nhà thờ rung chuyển, các hang hốc sâu thẳm của tòa nhà ầm vang. Cùng lúc, từ trên nóc mặt tiền nhà thờ, những tảng đá to rơi như mưa xuống đầu bọn tấn công. Jehan thét lên:

- Ma quỷ! Những tòa tháp cũng lay đổ các lan can rơi xuống đầu bọn ta đó ư?

Nhưng đang đà tiến lên, lại được vua xứ Thunes dám nêu gương, và đúng là giám mục đã chống cự, cho nên mọi người càng hùng hổ phá cửa mạnh hơn, bất chấp đá rơi xuống vỡ đầu xẻ tai khắp bên phải, bên trái.

Đáng chú ý là tất cả đá đều rơi xuống từng tảng một nhưng rất liền nhau. Dân tiếng lóng bao giờ cũng bị trúng hai hòn một lúc, một trúng chân, một trúng đầu. Rất ít kẻ chỉ trúng một hòn và đã có một đống lớn kẻ bị giết, kẻ bị thương, đang máu chảy hoặc ngắc ngoải nằm dưới chân bọn cướp phá, giờ đây chúng đang điên cuồng thay phiên nhau liên tiếp. Cây gỗ dài tiếp tục nện vào cánh cửa đều đặn như chiếc dùi gõ chuông, đá vẫn rơi như mưa, cửa vẫn gầm thét.

Có lẽ bạn đọc không hề phỏng đoán cuộc chống cự bất ngờ, làm bọn ăn mày phải bực tức, lại do Quasimodo gây ra.

Sự tình cờ chẳng may đã tiếp tay cho gã điếc chân thực.

Khi xuống tới sân thượng ở giữa các tháp, đầu óc nó còn rối mù. Vài phút đầu, nó chạy dọc hành lang, chạy đi chạy lại như thằng điên, từ trên cao nhìn xuống đám đông đặc hành khất đang sẵn sàng xông vào nhà thờ, cầu nguyện cả ma quỷ lẫn Chúa cứu vớt cô gái Ai Cập. Nó sực nghĩ phải leo lên gác chuông phía nam và kéo chuông cấp báo; nhưng trước khi kịp rung chuông, trước khi tiếng của Marie kịp reo lên một lần, cửa nhà thờ đã chẳng thừa mười lần thời giờ để bị phá vỡ rồi hay sao? Vừa đúng lúc đó, bọn sừng sỏ mang đồ nghề thợ khóa xông vào cửa. Phải làm gì đây?

Đột nhiên nó sực nhớ suốt ngày hôm đó, bọn thợ nề đã sửa chữa bức tường, các rui mè cùng mái nhà của tòa tháp phía nam. Đúng là một tia sáng lóe lên. Tường bằng đá, mái bằng chì, rui mè bằng gỗ. Những rui mè kỳ diệu đó, rất rậm rạp đến nỗi được gọi là khu rừng.

Quasimodo chạy tới tòa tháp. Các phòng dưới quả nhiên chất đống đầy vật liệu. Có từng đống đá tảng, từng cuộn chì lá, từng bó rui mè, những xà gỗ lớn đã cưa sẵn, từng đống vôi vữa. Một kho vũ khí đầy đủ.

Thời gian cấp bách. Kìm búa đang ra tay ở phía dưới. Với sức lực tăng gấp bội vì nguy cấp, nó nhấc cây xà nặng nhất, tuồn qua cửa sổ rồi đỡ lấy bên ngoài tháp, ghếch nó lên góc lan can bao quanh sân thượng và thả rơi xuống vực sâu cây xà đồ sộ, rơi từ trên cao một trăm sáu mươi bộ, quệt vào tường nhà làm vỡ các điêu khắc, quay lộn nhiều vòng như cánh cối xay bị văng ra giữa khoảng không. Cuối cùng, cây xà chạm đất, tiếng thét thảm thiết vang lên và cây xà đen ngòm nảy bật trên mặt đường, giống như con rắn quăng mình.

Quasimodo thấy bọn ăn mày chạy tán loạn lúc cây gỗ rơi xuống, như đống tro bị đứa trẻ thổi phù. Nó lợi dụng bọn ăn mày đang hoảng sợ và đang mê tín nhìn cây trùy từ trên trời rơi xuống, đang bắn tới tấp nào tên nào đạn, làm mù mắt các vị thánh bằng đá ở ngoài cổng, Quasimodo lặng lẽ chất đống vôi vữa, đá cục, đá tảng, cho tới túi đồ nghề của thợ nề, lên trên thành lan can, nơi cây xà vừa lao xuống.

Cho nên, khi bọn chúng bắt đầu phá cửa lớn, trận mưa đá liền rơi xuống và chúng tưởng tòa nhà thờ tự hủy hoại để trút xuống đầu chúng.

Ai trông thấy Quasimodo lúc đó, hẳn phải khiếp sợ. Ngoài đạn dược đã tích trữ trên lan can, nó còn xếp một đống đá ngay trên sân thượng. Khi đá chất trên bờ lan can đã ném hết, nó lấy đá trong đống lớn. Lúc đó, nó hết cúi xuống lại đứng lên, đứng lên lại cúi xuống, vô cùng khẩn trương. Cái đầu quỷ to tướng thò ra ngoài lan can rồi một tảng đá lớn rơi xuống, lại một tảng đá nữa, thêm tảng nữa. Thỉnh thoảng nó theo dõi một tảng đá rơi xuống rất đẹp và khi tảng đá giết được nhiều người, nó thốt lên:

- Khá lắm!

Tuy nhiên, bọn hành khất không nản lòng. Đã dăm chục lần, cánh cửa dày bị chúng đập phá rung chuyển dưới sức nặng của cây chày húc gỗ sồi được nhân lên bởi sức mạnh hàng trăm con người. Cánh cửa rạn nứt, hình chạm trổ vỡ tan từng mảnh. Bản lề cứ mỗi lần lay động lại nảy tung cả chốt, ván rời rã, gỗ vụn như cám nghiến giữa nẹp sắt. May mắn cho Quasimodo, chiếc cửa nhiều sắt hơn gỗ.

Nhưng nó cảm thấy chiếc cửa lớn đang lảo đảo. Tuy nó không nghe thấy, mỗi đòn chày húc vẫn cùng lúc vang dội vào mọi hang hốc nhà thờ và ruột gan nó. Từ trên cao, nó thấy bọn ăn mày, rất hăng say và căm giận, đang giơ nắm đấm để đe dọa mặt tiền nhà thờ tối om và nó ao ước có được cho cô gái Ai Cập và cho nó, đôi cánh của đàn cú đang lũ lượt bay đi trốn ở ngay trên đầu.

Trận mưa đá tảng không đủ sức đẩy lùi đám tấn công.

Giữa lúc hãi hùng, nó nhận thấy, ngay sát dưới dãy lan can nó vừa đè bẹp lũ dân tiếng lóng, hai ống máng dài bằng đá chĩa đúng bên trên cửa lớn. Lỗ thông xuống hai ống máng ở ngay nền bên trên sân thượng. Ý định liền nảy ra. Nó chạy đi lấy bó củi chất trong buồng riêng, rồi chất lên bó củi thật nhiều bó rui mè và cuộn chì lá, những đạn dược chưa dùng tới, rồi sau khi sắp xếp cái lò lửa đâu vào đấy ở ngay trước miệng hai ống máng, nó bèn dùng đèn lồng để nhóm lửa.

Khi đó, đá không còn rơi xuống, bọn ăn mày thôi chẳng ngước nhìn lên trên nữa. Bọn cướp hối hả như bầy chó săn dồn đuổi lợn rừng ở trong ổ, đang ồn ào túm tụm xung quanh cửa lớn đã bị chày húc phá gần vỡ nhưng vẫn còn đứng vững. Chúng run lên chờ đợi đòn húc mạnh nhất, ngọn đòn phá tung cửa. Khi nào cửa mở ra, chỉ ai đứng gần nhất mới có thể lao vào trước nhất, lao vào tòa nhà thờ lớn giàu sang này, một cái bể chứa rộng bát ngát được chồng chất đủ mọi của cải của từ ba thế kỷ. Chúng rú lên sung sướng và thèm thuồng, để nhắc nhau nhớ tới các thánh giá đẹp bằng bạc, áo lễ đẹp bằng gấm, ngôi mộ đẹp mạ vàng, trang trí lộng lẫy ở gian hát kinh, các ngày lễ huy hoàng, đêm Giáng sinh tưng bừng đuốc sáng, ngày Phục sinh chói ngời ánh nắng, mọi ngày lễ long trọng rạng rỡ mà hòm thánh tích, giá đèn nến, bình thánh thể, khám thờ, rương thánh cốt, lổn nhổn trên bàn thờ như lớp vỏ kim cương. Quả tình, trong dịp tốt đẹp này, ăn mày giả hủi, giả sâu quảng, ăn mày trùm sỏ và giả bị bỏng đang nghĩ tới chuyện cướp bóc nhà thờ Đức Bà hơn là giải cứu cô gái Ai Cập. Thậm chí ta sẵn sàng tin rằng đối với nhiều tên trong bọn, Esmeralda chỉ là cái cớ, nếu kẻ cướp cũng cần mượn cớ.

Đột nhiên, đúng lúc bọn chúng xúm lại quanh cây chày húc để ra tay lần cuối, ai nấy nín thở, lên gân dồn hết sức lực vào miếng đòn quyết định, một tiếng thét còn khủng khiếp hơn cả tiếng thét từng bật ra rồi tắt lịm dưới cây xà, vang lên giữa bọn chúng. Những kẻ không thét lên, những kẻ còn sống, đứng nhìn. - Hai dòng chì lỏng từ phía trên nhà thờ đang rót xuống chỗ đông nhất của đám người. Cái biển người xẹp xuống dưới dòng chì kim khí sôi sục, rồi ở hai nơi rót xuống, nó tạo thành hai lỗ đen ngòm và bốc khói trong đám đông, y hệt nước nóng rót xuống tuyết. Tại đó đang giãy giụa những kẻ ngắc ngoải gần cháy thành than và rên la đau đớn. Chung quanh hai dòng chính còn vô vàn các giọt của trận mưa kinh khủng đang vung vãi trên đám người công hãm và chui vào sọ như mũi khoan lửa. Đây là loạt đạn nặng nề bắn hàng ngàn viên chì lỏng vào lũ người khốn nạn.

Tiếng thét thật thê thảm. Họ bỏ chạy toán loạn, vứt luôn cây xà lên xác chết, cả kẻ gan dạ lẫn người nhút nhát nhất, và lần thứ hai, sân nhà thờ lại không còn bóng người.

Mọi cặp mắt đều ngước nhìn phía trên cao tòa nhà thờ. Điều họ trông thấy thật kỳ lạ. Trên nóc hành lang cao nhất, cao hơn cả cửa sổ hoa thị chính giữa, có ngọn lửa lớn đang bốc lên giữa hai tháp chuông với tia lửa cuồn cuộn, một ngọn lửa lớn cháy phần phật và ngùn ngụt, gió thỉnh thoảng lại tạt đi một mảng lửa cùng đám khói. Phía dưới ngọn lửa, phía dưới dãy lan can tối đen trổ lá tam điệp đỏ rực, hai ống máng há mõm quái vật không ngớt khạc nhổ trận mưa bỏng cháy, với hai dòng sáng bạc nổi bật trên bóng tối của mặt tiền phía dưới. Càng gần mặt đất, hai dòng chì lỏng càng bắn tung tóe ra, như nước phun từ trăm ngàn lỗ hoa sen thùng tưới. Bên trên ngọn lửa, các tòa tháp đồ sộ, mỗi tháp bày ra hai bộ mặt sống sượng và trâng tráo, một bộ mặt đen ngòm, một bộ mặt đỏ rực, chúng như càng to lớn với cái bóng vĩ đại hất trên nền trời. Vô vàn điêu khắc hình quỷ sứ và rồng càng có vẻ rùng rợn. Ánh lửa bập bùng khiến chúng ngọ nguậy trước mắt, có mãng xà như đang cười, ống máng tựa hồ văng vẳng tiếng sủa, con kỳ nhông như đang thổi lửa, quái vật hắt hơi trong đám khói. Và giữa đám quái vật được ngọn lửa cùng tiếng ồn đánh thức khỏi giấc ngủ đá, còn một quái vật khác đang đi, thỉnh thoảng thấy nó lướt ngang qua nền đỏ rực của đống lửa như con dơi bay qua ngọn đèn.

Ngọn hải đăng kỳ dị này chắc hẳn làm thức dậy từ xa gã tiều phu trên dãy đồi Bicêtre, y hoảng sợ nhìn cái bóng đen khổng lồ của các tháp nhà thờ Đức Bà lảo đảo trên đám thạch thảo.

Lũ hành khất kinh hoàng nín lặng, trong khi đó chỉ còn nghe thấy tiếng kêu cấp cứu của các tu sĩ bị giam hãm trong tu viện và còn hoảng sợ hơn cả đàn ngựa bị nhốt trong chuồng đang cháy, tiếng cửa sổ len lén mở vội rồi lập tức khép lại, tiếng lục đục thu dọn trong các nhà và trong nhà thương, tiếng gió thổi lửa, tiếng rên cuối cùng của bọn người ngoắc ngoải và tiếng trận mưa chì rào rào không ngớt trên mặt đường.

Lúc đó, bọn trùm ăn mày đã rút về dưới cổng nhà Gondelaurier để bàn bạc. Quận công Ai Cập ngồi trên cột mốc ngắm nhìn bằng niềm run sợ thành kính đống lửa ma quái đang chói lọi ở trên cao hai trăm bộ. Clopin Trouillefou căm giận nắm tay to, lẩm bẩm:

- Không sao vào nổi!

- Một nhà thờ cổ quái đản! - Lão già Bohémienne Mathias Hungadi Spicali làu bàu.

- Thề có bộ ria giáo hoàng, - một gã tinh quái tóc hoa râm từng đi lính nói tiếp, - các ống máng nhà thờ này khạc nhổ chì lỏng vào mặt ta còn hơn cả lỗ ném đá ở Lectoure.

- Các ngươi có thấy con quỷ đang đi qua đi lại trước ngọn lửa không? - Quận công Ai Cập hỏi.

- Mẹ kiếp, - Clopin thốt lên, - đúng là gã kéo chuông chết tiệt, thằng Quasimodo.

Lão Bohémienne lắc đầu, nói:

- Theo ta, đó chính là quỷ Sabnac, vị đại hầu tước quỷ dữ nơi pháo đài. Nó khoác hình thù tên lính đeo vũ khí, đầu sư tử. Đôi khi nó cưỡi con ngựa xấu xí. Nó biến người thành đá rồi dùng để xây tháp. Nó chỉ huy năm mươi đoàn quân. Đúng là nó. Ta nhận ra rồi. Thỉnh thoảng nó còn mặc áo kim tuyến rất đẹp thêu hoa kiểu Thổ Nhĩ Kỳ.

- Bellevigne de l’Étoile đâu rồi? - Clopin hỏi.

- Nó chết rồi, - một mụ ăn mày đáp.

Andry le Rouge cười ngây ngô, nói:

- Nhà thờ Đức Bà làm nhà thương thêm bận việc.

- Thế không có cách nào phá được chiếc cửa ư? - Vua xứ Thunes giậm chân, quát hỏi.

Quận công Ai Cập buồn rầu chỉ cho hắn thấy hai dòng suối chì bỏng đang không ngừng rạch lên mặt tiền đen ngòm, như hai guồng chỉ dài lân tinh. Rồi y thở dài nhận xét:

- Đã từng có những nhà thờ tự bảo vệ lấy mình như vậy. Cách đây bốn chục năm, nhà thờ Sainte-Sophie ở Constantinople ba lần liền quẳng lá cờ lưỡi liềm của Mahom xuống đất bằng cách lắc lư vòm mái, tức cái đầu. Guillaume de Paris, người xây nhà thờ này, là tay quỷ thuật.

- Chẳng lẽ ta đành thảm hại rút lui như lũ vật vờ lang thang hay sao? - Clopin hỏi. - Đành phó mặc cô em ta cho lũ sói quàng khăn đỏ đi treo cổ ngày mai ư!

- Lại còn chính điện, có tới hàng xe vàng bạc! - Một gã ăn mày rất tiếc tác giả không biết tên xen vào.

- Thật mặt mo! - Trouillefou văng ra.

- Ta cứ thử lần nữa xem sao, - gã ăn mày nói.

Mathias Hungadi lắc đầu nói:

- Không vào đằng cửa được đâu. Phải tìm ra chỗ sơ hở trong bộ giáp của con mụ già quỷ này. Một lỗ hổng, một cửa ngách ngụy trang, một kẽ hở nào đó.

- Có ai thông thạo đường lối nhỉ? - Clopin hỏi. - Tôi quay lại đó vậy. Này, cậu học trò Jehan giáp trụ đầy mình đâu rồi?

- Có lẽ chết rồi, - có người đáp. - Không nghe thấy nó cười nữa.

Vua xứ Thunes cau mày:

- Đành vậy. Dưới bộ giáp sắt, hắn có tấm lòng vàng.

- Thế còn thầy Pierre Gringoire?

- Báo cáo chỉ huy Clopin, - Andry le Rouge đáp, - hắn lẩn trốn từ lúc ta mới đến cầu Hối đoái.

Clopin giậm chân, nói:

- Tổ cha nó! Chính nó xúi giục rồi lại bỏ mặc bọn ta giữa lúc lâm sự! Quân bẻm mép hèn nhát, chỉ đáng đội giày lên đầu!

- Báo cáo chỉ huy Clopin, - Andry le Rouge nhìn về phố Sait nhà thờ rồi reo lên, - cậu học trò kia rồi.

- Tạ ơn Diêm vương! - Clopin nói. - Nhưng nó kéo theo cái quái quỷ gì thế kia?

Đúng là Jehan đang gắng sức chạy nhanh trong phạm vi bộ áo nặng nề hiệp sĩ cho phép, cùng chiếc thang dài cặm cụi kéo lê trên mặt đường, vất vả hơn con kiến tha ngọn cỏ dài hơn hai chục lần. Cậu học trò reo lên:

- Thắng lợi rồi! Te Deum*! Đây là chiếc thang của phu khuân vác ở bến cảng Saint-Landry.

Lạy Chúa!

Clopin bước lại gần:

- Cậu bé! Mẹ kiếp, chứ cậu định dùng cái thang này làm gì?

- Tôi lấy được rồi. - Jehan thở hổn hển đáp. - Tôi biết thang cất ở đâu. Dưới hầm nhà ông trung úy. Ở đó có con bé tôi quen, nó thấy tôi đẹp trai như thần Cupido. - Tôi liền lợi dụng con bé để lấy thang, cần đếch gì, thế là tôi lấy được! Con bé mặc độc chiếc áo lót ra mở cửa cho tôi.

- Phải, - Clopin đáp, - nhưng cậu định dùng cái thang này làm gì?

Jehan nhìn bằng con mắt tinh quái và giỏi giang, bật ngón tay kêu tanh tách. Lúc đó, hắn thật cao cả. Hắn đội chiếc mũ sắt diêm dúa của thế kỷ mười lăm, làm đối phương phải hoảng sợ trước cái hình thù quái vật trên chóp. Chiếc mũ tua đâm ra mười cái mỏ bằng sắt, khiến Jehan có thể tranh giành được hình dung từ ghê gớm dekémbolos* dành cho chiến thuyền của Nestor trong thơ Homère.

Vũ trang mười mũi nhọn ở mũi thuyền (tiếng Hy Lạp).

- Hỡi đức vua cao cả xứ Thunes, tôi định làm gì ư? Ngài có thể trông thấy dãy tượng mặt mũi ngu ngốc ở phía trên ba chiếc cửa lớn đằng kia không?

- Có. Rồi sao?

- Đó là hành lang các tượng vua Pháp.

- Thế thì dính dáng gì đến ta? - Clopin nói.

- Khoan đã! Ở cuối hành lang có cái cửa chỉ cài then thôi, tôi leo thang lên đó, thế là vào được nhà thờ.

- Cậu bé, hãy để ta leo lên trước.

- Không được đâu, anh bạn ơi, cái thang này là của tôi. Hãy đi theo tôi, bạn sẽ trèo lên sau.

- Diêm vương bóp cổ chú mày! - Clopin càu nhàu rủa. - Tao không muốn đi sau ai cả.

- Nếu vậy, Clopin, hãy đi kiếm chiếc thang khác! - Jehan chạy qua quảng trường, kéo lê chiếc thang và gào to. - Hỡi các con, hãy theo ta!

Lát sau, chiếc thang được dựng lên và tựa vào lan can của dãy hành lang dưới, ngay trên cánh cửa nách. Đám ăn mày hò reo ầm ĩ, chen chúc dưới chân thang để leo lên. Nhưng Jehan giữ vững đặc quyền và đặt chân trước tiến lên gióng thang. Chặng đường leo lên cũng khá dài. Hành lang các tượng vua Pháp hiện nay cao cách mặt đường khoảng sáu chục bộ. Mười một bậc thềm lại nâng nó lên cao hơn. Jehan thong thả, khá lúng túng vì bộ áo giáp nặng, một tay vịn thang, tay kia cầm nỏ. Lên tới lưng chừng, nó buồn rầu nhìn đám dân tiếng lóng tội nghiệp nằm chết la liệt dưới thềm. Nó nói:

- Than ôi! Đúng là đống xác người xứng đáng với chương năm bản anh hùng ca Iliad.

Rồi nó tiếp tục leo. Bọn ăn mày theo sau. Mỗi gióng thang một đứa. Cứ nhìn dãy lưng giáp trụ uốn lượn leo trên trong bóng tối, có thể nói đó là con rắn vảy thép ngóc dậy tấn công nhà thờ. Jehan làm thành cái đầu, đang huýt sáo, càng tăng vẻ ảo ảnh.

Cuối cùng, cậu học trò lên tới bao lơn hành lang và nhanh nhẹn leo qua, trước tiếng hoan hô của tất cả đám ăn mày. Đã làm chủ được thành trì, hắn thét lên vui sướng rồi đột nhiên dừng lại khiếp đảm. Hắn vừa thoáng thấy, sau bức tượng vua, Quasimodo núp trong bóng tối, con mắt sáng quắc.

Trước khi kẻ tấn công thứ hai kịp đặt chân lên hành lang, gã gù ghê gớm nhảy xổ tới đầu thang, lẳng lặng đưa đôi bàn tay vạm vỡ nắm lấy hai gióng thang nhấc lên, đẩy xa tường, giữa tiếng kêu gào thảm thiết, lắc lư một lát chiếc thang dài uốn cong, dày đặc ăn mày từ trên rơi xuống dưới, rồi đột nhiên, với sức mạnh phi thường, nó hất cả chùm người xuống quảng trường. Có một khoảnh khắc mà kẻ kiên định nhất cũng phải hồi hộp. Chiếc thang bị hất ra sau, dựng thẳng và đứng im giây lát, có vẻ do dự rồi lắc lư và đột nhiên vẽ một vòng cung khủng khiếp tám mươi bộ đường bán kính, đổ sập xuống mặt đất cùng lũ kẻ cướp bám đầy, nhanh hơn chiếc cầu treo đứt xích. Tiếng người rủa rền vang rồi tất cả im lặng, chỉ vài kẻ bị thương khốn nạn bò lê ra khỏi đống người chết.

Tiếng rên la đau đớn và căm giận trong đám người tấn công đã thay cho tiếng thét chiến thắng ban đầu. Quasimodo chống khuỷu tay lên lan can, lạnh lùng đứng nhìn. Trông nó như ông vua già đầu bù đứng trước cửa sổ.

Còn Jehan Frollo, hắn đang lâm vào hoàn cảnh nguy kịch. Hắn ở trên hành lang cùng gã kéo chuông ghê gớm, trơ trọi, cách xa đồng bọn bởi bức tường thẳng đứng cao tám mươi bộ. Lúc Quasimodo hất chiếc thang, cậu học trò chạy vội tới cửa ngách, tưởng vẫn mở sẵn. Nhưng không. Lúc vào hành lang, gã gù đã đóng lại. Jehan liền nấp sau một tượng vua bằng đá, không dám thở mạnh, đăm đăm nhìn gã gù quái dị bằng vẻ mặt hốt hoảng, giống hệt một người tằng tịu với vợ lão gác vườn thú, một tối đến nơi hẹn hò tình tự, đã leo lầm tường và đột nhiên chạm trán ngay với con gấu trắng toát.

Thoạt đầu, gã điếc không để ý tới hắn; nhưng rồi sau nó quay đầu lại và bất thần đứng thẳng lên. Nó vừa thoáng thấy cậu học trò.

Jehan chờ đợi vụ xô xát mạnh, nhưng gã điếc vẫn đứng yên; nó quay hẳn người lại và nhìn cậu học trò. Jehan nói:

- Ha ha! Mày giương con mắt chột buồn thảm nhìn gì tao vậy?

Vừa nói cậu bé tinh quái vừa lén sửa soạn cây nỏ. Jehan thét lên:

- Quasimodo! Tao sẽ đổi biệt hiệu cho mày. Từ nay mày sẽ mang tên thằng mù.

Mũi tên lao đi. Mũi tên có đuôi xoáy rít trong gió và cắm phập vào cánh tay trái gã mù. Quasimodo chẳng thèm quan tâm hơn vết xước của vua Pharamond. Nó rút mũi tên khỏi cánh tay và thản nhiên bẻ đôi trên đầu gối to bè. Rồi nó cũng chẳng buồn vứt đi mà buông rơi luôn hai mẩu tên xuống đất. Nhưng Jehan không còn kịp bắn phát thứ hai. Bẻ gãy xong mũi tên, Quasimodo thở phì phò, nhảy vọt như châu chấu, vồ lấy cậu học trò khiến bộ giáp trụ bẹp gí luôn vào tường.

Thế là trong cảnh tranh tối tranh sáng bập bùng lửa đuốc, mọi người thoáng thấy một chuyện khủng khiếp.

Quasimodo giơ tay trái nắm chặt lấy hai cánh tay Jehan, y không còn vùng vẫy vì biết nguy đến nơi rồi. Còn tay phải, gã điếc lặng lẽ, với vẻ chậm chạp rùng rợn, lần lượt lột từng mảnh giáp trụ, cả thanh gươm, những dao găm, chiếc mũ, các mảnh giáp che thân, che cánh tay. Tưởng như con khỉ tước vỏ quả bồ đào. Quasimodo vứt xuống chân từng mảnh từng mảnh vỏ thép của cậu học trò.

Khi cậu học trò thấy mình bị tước vũ khí và lột giáp trụ, yếu đuối và trần trụi trong hai bàn tay ghê gớm, y không thèm nói với thằng điếc, mà trâng tráo cười ngay vào mặt nó, rồi với vẻ vô tư liều lĩnh của đứa trẻ mười sáu tuổi, y hát bài ca đang thịnh hành:

Thành phố Cambrai

Phục sức đẹp ghê

Marafin cướp sạch...

Nó không kịp hát hết bài. Mọi người thấy Quasimodo đứng trên lan can hành lang, chỉ độc một tay nắm cả hai chân cậu học trò, vung tròn trên vực thẳm như chiếc súng cao su. Rồi nghe thấy như tiếng hộp xương đập vỡ vào tường và trông thấy một vật rơi xuống, tới lưng chừng một phần ba khoảng rơi thì mắc vào gờ kiến trúc nhô ra. Xác chết lủng lẳng trên đó, gập làm đôi, sống lưng gãy gập, sọ não rỗng không.

Tiếng thét khủng khiếp vang lên từ đám ăn mày. Clopin thét lớn:

- Hãy trả thủ!

- Phá sạch! - Đám đông đáp lời.

- Xung phong! Xung phong!

Thế là bắt đầu tiếng gào thét kỳ lạ, lẫn lộn đủ mọi thứ ngôn ngữ, thổ âm, giọng điệu. Cái chết của cậu học trò khốn nạn làm đám đông hăng hái điên cuồng. Họ đâm xấu hổ và càng tức giận vì bị thằng gù ngăn cản quá lâu trước tòa nhà thờ. Phẫn nộ khiến họ tìm ra thang, tăng thêm đuốc và dăm phút sau, Quasimodo hốt hoảng thấy cái tổ kiến khủng khiếp từ bốn phía dâng lên tấn công nhà thờ Đức Bà. Kẻ không có thang mang theo dây thừng thắt nút, kẻ không có dây thừng bám bờ kiến trúc leo lên. Người nọ níu lấy áo rách người kia. Không cách nào kháng cự nổi những bộ mặt kinh sợ đang dâng lên như nước thủy triều. Căm giận làm đỏ gay các khuôn mặt hung dữ; những vầng trán đen nhẻm ròng ròng mồ hôi; mắt ai cũng nảy lửa. Mọi khuôn mặt nhăn nhó, gớm ghiếc đó bao vây Quasimodo. Tưởng như một nhà thờ nào đó phái tới tấn công nhà thờ Đức Bà bằng lũ quái vật chó ngao, quỷ sứ, linh vật điêu khắc kỳ dị nhất. Trông như lớp quái vật sống bao phủ lên các quái vật bằng đá trên mặt tiền giáo đường.

Trong khi đó, quảng trường lấp lánh nghìn ngọn lửa đuốc. Cảnh tượng hỗn loạn này, từ nãy đến giờ vẫn chìm đắm trong bóng tối, đột nhiên rực sáng sân nhà thờ chói lọi và tỏa sáng lên tận trời. Đống lửa nhóm sáng trên sân thượng chót vót vẫn cháy và chiếu sáng tận xa ngoài thành phố. Bóng đen khổng lồ hai tòa tháp, đổ dài xa xa trên mái nhà của đô thành Paris, hiện trên ánh lửa như vết rách lớn tối om. Thành phố như đang xúc động. Tiếng chuông cấp báo xa xa rền rĩ. Bọn ăn mày gào thét, hổn hển, chửi rủa, leo trèo, còn Quasimodo, bất lực trước bấy nhiêu địch thủ, run sợ cho cô gái Ai Cập, nhìn thấy các khuôn mặt hung dữ mỗi lúc càng tiến gần hành lang, nó cầu trời ban phép lạ và đành khoanh tay tuyệt vọng.

Ca —★— Nhà Thờ Đức Bà Paris Văn học Kinh điển ebook©MotSAch TVE-4u©VCTVEGROUP —★— Nhà Xuất Bản Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh 2000
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.