Cách đây ba trăm bốn mươi tám năm sáu tháng mười chín ngày, dân Paris thức dậy theo tiếng chuông ầm vang khắp nơi giữa ba lần tường thành của Khu thành cũ, Khu đại học - khu phố mới.
Tuy nhiên, mùng 6 tháng giêng năm 1482 chẳng phải là một ngày lịch sử cần ghi lại. Không có gì quan trọng về sự kiện từ sáng sớm đã làm sôi động các chuông nhà thờ cùng thị dân Paris. Không phải cuộc tấn công của dân Paris. Không phải cuộc tấn công của dân Picard hoặc dân Bourguignon, cũng chẳng phải đám rước tráp thánh tích, hoặc loạn học trò ở vườn nho Laas, hoặc cuộc xa giá của đức hoàng đại hùng cường chúng ta, hoặc chỉ là trò treo cổ ngoạn mục bọn trộm cắp trai và gái ở Tòa pháp đình Paris, càng không phải có vị sứ thần mũ mãng cân đai diêm dúa nào đột nhiên tới, như thường có vào thế kỷ XV. Mới cách đây hai ngày, kỵ đoàn cuối cùng loại đó, của sứ thần Flandre tới bàn chuyện hôn nhân giữa Thái tử và Marguerite de Flandre*, đã kéo vào Paris, làm đức hồng y Bourbon rất buồn bực; để vui lòng đức vua, ngài đành tươi tỉnh đón tiếp tất cả bọn thị trưởng ô hợp quê mùa xứ Flandre và thết họ tại lâu đài Bourbon một chầu morality, satire, và farce hay tuyệt*, trong khi mưa tầm tã ướt sũng cả màn che cửa lộng lẫy. Mùng 6 tháng giêng, ngày làm xúc động toàn thể dân chúng Paris, như sử gia Jehan de Troyes nói, từ thời xa xưa, đã long trọng gấp đôi, nhờ gộp ngày lễ vua vào ngày Hội cuồng đãng*.
Bàn chuyện hôn nhân giữa Thái tử và Marguerite de Flandre; Marguerite de Flandre hoặc Marguerite d’Autriche, lúc này mới ba tuổi, là con gái hoàng đế La Mã Nhật nhĩ man Maximilien I, người đã giao tranh với vua Pháp Louis XI và đã nhường cho vua Pháp hai xứ Picard và Bourguignon theo hiệp ước Arras.
Thái tử là con vua Louis XI, sau thành vua Charles VIII, lúc này mười hai tuổi. Hiệp ước Arras đã tạo cơ hội cho hai bên đính hôn lúc này, nhưng về sau, Charles VIII đã khước hôn.
Morality, satire, và farce hay tuyệt: Morality là một loại hình sân khấu thời trung cổ, đề tài tôn giáo, nhân vật là biểu tượng.
Satire: Loại hình sân khấu, nhân vật đều cuồng dại.
Farce: Loại hình sân khấu, nhân vật là hề.
Ngày Lễ Vua và Hội Cuồng đãng: Ngày lễ vua tức là ngày Chúa hiển hiện, mùng 6 tháng giêng hàng năm. Hội Cuồng đãng là một ngày hội thời trung cổ, sau này bị thủ tiêu vì thói tục quá trớn.
Hôm đó có đốt lửa liên hoan ở quảng trường Grève, lễ trồng cây tháng năm* ở nhà nguyện Braque và diễn mystère* ở Tòa pháp đình. Nhân viên của ngài đô trưởng mặc nhung y lộng lẫy bằng vải lông thú màu tím, đeo thánh giá lớn màu trắng trên ngực, từ hôm qua đã đi rao tù và khắp các ngã tư.
Lễ trồng cây tháng năm: Lễ này tổ chức ngày đầu tháng, trồng cây xanh tốt, có tết dải lụa, trước nhà, để chúc mừng chủ nhà.
Mystère: Loại kịch lấy đề tài tôn giáo.
Cho nên từ sáng sớm, nhà cửa và hàng quán đều đóng lại, nam nữ thị dân đông nghịt từ khắp nơi kéo đến một trong ba địa điểm kể trên. Ai nấy đều đã dự tính, người đi dự lửa liên hoan, kẻ đến lễ trồng cây, người tới xem diễn mystère. Phải khen cái nết khôn ngoan lâu đời của dân lêu lổng đất Paris, cho nên cần phải nói phần lớn đám đông đều đi dự lửa liên hoan đang rất hợp thời, hoặc tới xem mystère sẽ diễn ở gian đại sảnh Tòa pháp đình rất kín đáo và ấm cúng, thế là bọn tò mò đã hẹn nhau để mặc cây tháng năm tội nghiệp, chớm nở hoa, một mình run rẩy trước bầu trời tháng giêng trong nghĩa địa nhà nguyện Braque.
Dân chúng kéo tới đông nhất trên các đường phố quanh Tòa pháp đình, vì biết tin sứ thần xứ Flandre, vừa tới hôm kia, dự định sẽ xem biểu diễn mystère và bầu Cuồng đãng giáo hoàng, việc này cũng sẽ tiến hành ở gian đại sảnh.
Hôm đó không dễ gì vào nổi gian đại sảnh, tuy hồi đó đã nổi tiếng là tòa nhà kín mái lớn nhất trên đời. (Quả thực sử gia Sauval còn chưa đo gian đại sảnh của lâu đài Montargis). Dân tò mò đứng ở cửa sổ, thấy quảng trường Tòa pháp đình đông nghịt người, trông giống như mặt biển, có năm sáu dãy phố hệt những cửa sông, mỗi lúc lại đổ ra các đợt sóng đầu người mới. Làn sóng người không ngừng dâng to, đập vào những góc nhà nhô ra đây đó như mũi đất giữa lưu vực lô xô của quảng trường. Chính giữa mặt tiền cao vút, kiểu Gothic*, của Tòa pháp đình, hai dòng người không ngừng lên xuống cầu thang lớn, gẫy gập ở tam cấp ngang chừng, tòa thành những lớp sóng rộng chạy theo hai dốc hai bên, và tôi có thể nói, chiếc cầu thang lớn liên tục tuôn xuống quảng trường như thác đổ vào hồ. Tiếng thét, tiếng cười, tiếng giậm của hàng nghìn bàn chân làm thành tiếng ồn ào và náo động ầm ĩ. Thỉnh thoảng, tiếng ồn ào, náo động đó lại rộ lên, dòng người xô đẩy nhau về phía cầu thang lớn bị dồn lại, sôi động, quay cuồng. Đó là sự đột nhập của một cung thủ hoặc của con ngựa gã cảnh vệ. Đoàn cảnh binh đang xông đến để giữ gìn trật tự; truyền thống tuyệt diệu mà Đoàn cảnh binh đã truyền lại cho Tòa đô thống. Tòa đô thống truyền lại cho Đoàn kỵ hiến binh và Đoàn kỵ hiến binh truyền lại cho Sở cảnh sát Paris.
V. Hugo chú thích: “Từ Gothic, với ý nghĩa thường dùng, hoàn toàn không chính xác, nhưng hoàn toàn được thừa nhận. Do đó, ta cũng tiếp nhận và như mọi người, ta dùng nó để chỉ nền kiến trúc của nửa sau thời trung cổ, lấy vòng cung nhọn làm nguyên tắc, nó tiếp nối nền kiến trúc của thời kỳ đầu, lấy vòng cung tròn làm mẫu mực”.
Ở cửa ra vào, cửa sổ, cửa mái, trên cả mái nhà, nghìn nghịt hàng nghìn khuôn mặt hiền lành thị dân, bình thản và lương thiện, nhìn tòa nhà, nhìn đám đông và không đòi hỏi gì hơn nữa; vì rất đông dân Paris vốn quen bằng lòng với cảnh người xem người, nên đã là chuyện rất kỳ lạ khi họ thấy sau bức tường còn sắp diễn ra trò gì đó.
Nếu chúng ta, những người của năm 1830, trong ý nghĩ được phép hòa lẫn với dân Paris của thế kỷ mười lăm và cùng họ lôi kéo, chen chúc, xô đẩy nhau, bước vào gian phòng mênh mông của Tòa pháp đình, rất chật hôm mùng 6 tháng giêng năm 1482, cảnh tượng sẽ không phải không hấp dẫn và lý thú, và ta sẽ thấy quanh ta toàn những vật cổ quá hóa ra có vẻ rất mới.
Nếu độc giả đồng ý, chúng tôi xin thử hình dung lại trong đầu óc cái ấn tượng mà bạn đọc cùng chúng tôi phải cảm thấy, khi bước qua ngưỡng cửa gian đại sảnh, giữa đám đông hỗn tạp cả thường phục lẫn nhung y.
Thoạt đầu là tai ù, mắt hoa. Trên đầu, hai tầng vòm hình cung nhọn, lát gỗ chạm khắc, sơn màu thanh thiên, thếp vàng hoa huệ; dưới chân nền đá hoa xen kẽ trắng đen. Cách vài bước, một cột trụ lớn, rồi cái nữa, lại cái nữa; tất cả bày dọc gian phòng, đỡ lấy hai tầng vòm giao nhau ở khoảng giữa bề ngang căn nhà. Quanh bốn cột đầu tiên là các quầy bán hàng, sáng choang ánh thủy tinh và trang kim, quanh ba cột cuối là dãy ghế dài gỗ sồi được mài mòn và sạch bóng bằng ống quần dân kiện cáo và áo chùng quan biện lý. Quanh gian phòng, dọc dãy tường cao, giữa cửa ra vào, cửa sổ, hàng cột, là một dãy dài bất tận các tượng của tất cả vua Pháp, kể từ Pharamond; nào vua đại lãn, tay thõng thượt, mắt nhìn xuống; nào vua vũ dũng và hiếu chiến, đầu cùng tay hùng hổ hướng lên trời. Rồi các ô kính muôn hồng nghìn tía ở dãy cửa sổ dài hình cung nhọn: các cánh cửa sang trọng, chạm trổ tinh vi, ở cửa lớn gian phòng; và tất cả, vòm mái, cột trụ, tường nhà, khung cửa, gỗ lát, cửa, tượng, từ chân xuống dưới đều phủ lớp màu vàng xanh lộng lẫy, đã hơi cũ vào lúc ta trông thấy, chúng hầu như hoàn toàn biến mất dưới lớp bụi bặm và mạng nhện của năm công nguyên 1549, mà sử gia Breul theo tập quán vẫn còn khâm phục.
Bây giờ ta hãy hình dung gian phòng mênh mông thuôn dài đó, sáng cái ánh lờ mờ của một ngày tháng giêng, chật ních đám đông sặc sỡ và ồn ào đang men theo dọc tường để xô đến và xoay quanh bảy cột trụ, như vậy ta đã có được ý niệm mơ hồ về bức toàn cảnh mà chúng tôi sẽ gắng miêu tả chính xác hơn về những chi tiết lạ lùng.
Nếu Ravaillac không ám sát vua Henri IV, chắc chắn sẽ không có hồ sơ vụ án Ravaillac đặt ở phòng lục sự Tòa pháp đình; sẽ không có bọn tòng phạm lo lắng chuyện thủ tiêu các hồ sơ; từ đó, không có bọn đốt phòng lục sự để đốt hồ sơ, và phải đốt Tòa pháp đình để đốt phòng lục sự; tóm lại cuối cùng sẽ không có vụ hỏa hoạn năm 1618. Tòa pháp đình cũ sẽ còn đứng đó với gian đại sảnh: tôi chỉ việc nói với bạn đọc: “Cứ đến đó mà xem”; và cả hai ta sẽ bớt việc, tôi thì phải viết mà bạn lại phải đọc những trang miêu tả như thế này. - Điều đó chứng minh cái chân lý mới mẻ này: các sự kiện lớn đều để lại hậu quả khôn lường.
Đã đành đầu tiên rất có thể Ravaillac không có tòng phạm, sau nữa nếu tình cờ có chăng, chúng cũng không dính dáng gì vào vụ hỏa hoạn năm 1618. Còn hai cách giải thích khác nữa xem ra rất hợp lý. Thứ nhất là ngôi sao lớn bùng cháy, rộng một bộ, cao một khuỷu như mọi người đều biết đã từ trên trời rơi xuống Tòa pháp đình vào quá nửa đêm ngày mồng 7 tháng ba. Thứ nhì là bài thơ tứ tuyệt của Théophile:
Tất nhiên, quả là trò đáng buồn
Ở Paris, Pháp luật phu nhân
Vì chứng ăn quá nhiều gia vị,
Tòa pháp đình, châm lửa đốt luôn.
Dù có nghĩ gì về ba cách giải thích chính trị, vật lý, thi ca của vụ cháy Tòa pháp đình năm 1618, sự việc, chắc chắn đáng buồn vẫn là vụ cháy. Hiện nay chẳng còn sót lại được mấy tí, nhờ tai họa đó, nhất là nhờ mọi lần trùng hưng liên tiếp khác nhau đã kết liễu nốt những đám cháy còn để lại, chẳng còn sót lại mấy tí của ngôi nhà đầu tiên các vua Pháp ngự, của tòa lâu đài đàn anh so với điện Lourve, ngay từ thời vua Philippe le Bel đã khá cổ xưa rồi, khiến người ta tìm kiếm ở đó vết tích các dinh thự lộng lẫy do vua Robert xây dựng và Helgaldus miêu tả. Hầu hết cái đó đã tiêu tan. Còn đâu cung tể tướng, nơi vua Saint Louis hợp cẩn? Đâu vườn ngự uyển Người ngồi xử án, “mặc áo giáp lót lông thú, áo pha len cộc tay, ngoài khoác áo choàng bạch đàn đen, nằm trên thảm, cùng Joinville”? Đâu là cung hoàng đế Sigismond? Đâu cung vua Charles VI? Đâu cung Jean Vô Thổ*? Đâu là cầu thang Charles VI hạ chiếu ân xá? Đâu thềm điện mà Marcel từng chém đầu Robert de Clermont và nguyên soái Champagne, ngay trước mặt Thái tử? Đâu cửa cung từng là nơi xé tan các chỉ dụ của ngụy giáo hoàng Benedict, từ nơi đó các kẻ mang dụ tới đành quay trở về, chúng bị chế giễu bằng chụp mũ tế, khoác áo lễ, rồi được toàn Paris làm lễ tạ tội? Đâu là gian đại sảnh, được thếp vàng, sơn lam, với vòm cung nhọn, tượng, cột, vòm mái mênh mông chi chít những chạm trổ? Đâu là cung thếp vàng? Đâu con sư tử đá chầu trước ngự môn, đầu cúi gầm, đuôi cụp giữa chân, như đàn sư tử của ngai vua Solomon, mang tư thế nhẫn nhục thích hợp với ý nghĩa bạo lực trước công lý? Đâu các cửa điện huy vàng? Các ô kính lộng lẫy? Các đóng sắt bịt chạm trổ làm nản lòng cả Biscornette? Các đồ vàng bạc tinh vi của du Hancy?... Thời gian đã làm gì, con người đã làm gì đối với mọi kỳ quan đó? Tất cả cái đó, tất cả lịch sử xứ Gauloise, tất cả nền nghệ thuật Gothic còn để lại cho ta được những gì? Các vòm cung tròn thấp nặng của de Brosse tiên sinh, vị kiến trúc sư vụng về của chính môn Saint-Gervai, đó là cho nghệ thuật; còn với lịch sử, ta có những kỷ niệm lắm lời của chiếc cột trụ lớn, còn vang các câu lảm nhảm của bọn Patru*.
Giăng Vô Thổ - Jean the Landless (1167 - 1216): Vua nước Anh từ 1199 đến 1216. Hồi trẻ, ông nổi loạn chống lại vua cha, rồi giết cháu để cướp ngôi, bị vua Pháp Philippe-August kiện ở tòa Nguyên lão nghị viện, ông bị kết án mất quyền cai quản các thái ấp ở Pháp, ông định giành lại nhưng bị thua trận. Trở về nước Anh, ông đành ban quyền tự do cho các quý tộc và thị dân tư sản.
Olivier Patru (1604 - 1681): Luật sư Pháp, bạn thân của Boileau Despréaux.
Thật chẳng còn lại được bao nhiêu. - Ta hãy trở lại gian đại sảnh đích thực của Tòa Pháp đình cổ đích thực.
Ở hai đầu của tòa nhà hình bình hành khổng lồ này, một bên là chiếc bàn đá hoa trứ danh, rất dài, rất rộng và rất dày, chưa hề thấy bao giờ, như sổ hộ tịch cũ từng ghi, theo kiểu cách khiến Gargantua* thèm rỏ dãi, đời thủa nào có khúc đá hoa to thế; bên kia là nhà nguyện mà vua Louis XI sai khắc tượng mình quỳ trước Đức mẹ đồng trinh, và bất chấp hai hốc rỗng không bỏ lại, giữa dãy tượng vua, ngài cứ hạ lệnh cất đi các tượng của vua Charlemagne và vua Saint Louis, hai vị thánh mà ngài cho là rất được trên trời tín nhiệm đặt làm vua nước Pháp. Nhà nguyện đó còn mới, xây chưa được sáu năm, hoàn toàn theo kiểu thẩm mỹ duyên dáng của lối kiến trúc tinh tế, điêu khắc diệu huyền, chạm trổ tinh vi và sâu sắc, ở ta có đánh dấu giai đoạn cuối thời đại Gothic và còn tiếp tục mãi đến giữa thế kỷ XVI, trong vẻ hoa mỹ kỳ ảo thời Phục hưng. Đặc biệt chiếc cửa sổ hoa thị trổ trên cổng chính quả là một kiệt tác tinh vi và diễm lệ; như một ngôi sao bằng ren.
Gargantua: nhân vật chính trong cuốn sách cùng tên của François Rabelais (1534), là người khổng lồ rất tham ăn.
Giữa phòng, đối diện với cửa lớn là chiếc bục che gấm kim tuyến kê sát tường, có lối vào đặc biệt bằng một cửa sổ hành lang của gian phòng thếp vàng, nó được dựng lên để dành cho sứ thần xứ Flandre và các đại thần khác được mời tới xem diễn kịch.
Theo tập quán, bàn đá hoa sẽ là nơi diễn kịch. Từ sáng, bàn đã được sửa soạn xong; tấm đá hoa lớn, chằng chịt vết chân luật sư, đỡ một sàn gỗ khá cao, mặt trên mà cả phòng có thể trông thấy dùng làm sân khấu, còn phía dưới khuất sau màn che dùng làm phòng hóa trang cho diễn viên. Cái thang kê hớ hênh bên ngoài, nối liền sân khấu với phòng hóa trang; bậc dựng thẳng đứng tha hồ đi lên đi xuống. Không một nhân vật bất ngờ nào, không tình tiết, không kịch tính nào lại không buộc phải leo qua cái thang đó. Quả là thời thơ ấu hồn nhiên, đáng kính của nghệ thuật mà máy móc!
Bốn viên cảnh vệ của pháp quan Tòa pháp đình đứng ở bốn góc bàn đá, đó là những kẻ canh gác bắt buộc có mặt ở mọi cuộc vui dân chúng, vào ngày lễ tết cũng như ngày hành hình.
Kịch chỉ bắt đầu diễn khi chiếc đồng hồ lớn treo nơi Tòa pháp đình vang lên giữa trưa đánh xong tiếng thứ mười hai. Chắc diễn kịch như vậy thì quá muộn; nhưng phải chiều theo giờ giấc của sứ thần.
Thế mà cả đám đông đã chờ suốt từ sáng. Vô số kẻ hiếu kỳ hiền lành đó rét run cầm cập từ tờ mờ sáng ở trước bậc thềm lớn Tòa Pháp đình; một số còn khẳng định đã nằm suốt đêm trên ngưỡng cửa lớn, để chắc chắn vào lọt được đầu tiên. Đám đông không ngừng lớn dần và như nước tràn, bắt đầu dâng lên dọc tường, loang quanh cột, ngập cả gờ tường, đầu cột, thành cửa sổ, khắp mọi nơi nhô ra của tòa nhà, khắp chỗ nổi lên của điêu khắc. Cho nên sự bứt rứt, nóng ruột, buồn chán, tự do của một ngày vui thả cửa và điên cuồng, các vụ cãi cọ luôn mồm luôn miệng vì cái khuỷu tay nhọn hoặc chiếc đế giầy đóng cá sắt, sự mệt mỏi phải chờ đợi lâu, đã làm cho tiếng ồn ào của đám dân chúng tù hãm, quây kín, chen chúc, xô đẩy, ngột ngạt, trở nên ngoa ngoắt và chua chát, từ khá sớm trước khi sứ thần đến. Chỉ còn nghe thấy tiếng than vãn và nguyền rủa bọn sứ thần, thị trưởng, hồng y giáo chủ Bourbon, pháp quan Tòa pháp đình, lệnh bà Marguerite d’Autriche, cảnh vệ cầm roi, cái rét buốt, nóng bức, thời tiết xấu, giám mục Paris, Cuồng đãng giáo hoàng, hàng cột, dãy tượng, cửa ra vào đóng kín, cửa sổ mở toang; tất cả đều là trò vui cho lũ học trò và lính hầu tản mạn trong đám đông, đang châm chọc và đùa nghịch trước mọi bất bình đó và có thể nói, càng kích động thêm nỗi tức giận chúng.
Ngoài ra còn một nhóm quỷ sứ vui nhộn đã đập vỡ kính cửa sổ, táo tợn leo ngồi lên bờ tường, từ đó chúng hết nhòm ngó lại chế giễu cả phía trong lẫn phía ngoài, cả đám đông trong gian đại sảnh lẫn đám đông ngoài quảng trường. Qua cử chỉ nhạo báng, tiếng cười ha hả, tiếng bạn bè giễu cợt gọi nhau từ đầu đến cuối phòng, ta dễ dàng nhận thấy các giáo sinh trẻ đó không chia buồn, chia mệt với khán giả, và để vui thú riêng, họ rất biết lợi dụng cảnh tượng trước mắt để giúp họ kiên nhẫn chờ đợi một cảnh tượng khác.
- Ôi giời ơi, cậu đấy à. Joannes Frollo de Molendino. - Một người gọi, một gã nhỏ bé tóc hung, mặt mũi xinh xẻo, tinh quái, đang bám vào gờ nóc cột. - Cậu đúng tên là Jehan Cối Xay, hai chân hai tay cứ như bốn cánh cối xay quay trước gió. Cậu đến đây từ bao giờ thế?
- Đội ơn quỷ dữ, Joannes Frollo đáp, đến đã hơn bốn tiếng rồi, mà mình rất mong chỗ đó sẽ được tính vào thời gian ở luyện ngục. Tôi đã nghe tám ca sĩ của vua Sicily ngâm ngợi tiết đầu của buổi đại lễ hồi bảy giờ tại nhà nguyện Sainte-Chapelle.
- Ca sĩ chết tiệt gì mà giọng còn nhọn hơn mũ chóp! Trước khi làm lễ cho ngài thánh Jean, lẽ ra nhà vua phải hỏi xem ngài thánh Jean có thích tiếng La tinh được cầu nguyện bằng giọng xứ Provençal không đã.
- Chính để nuôi lũ ca sĩ phải gió đó của vua Sicily mà nhà vua đã làm như vậy! Một bà giả cất tiếng the thé trong đám đông ở dưới chân cửa sổ. Thử hỏi các vị, ai lại một nghìn đồng livre tiền Paris một buổi lễ bao giờ! Mà lại là trích từ tiền thuế cá biển ở các chợ Paris!
- Im đi, con mụ kia! - Một nhân vật to béo và bệ vệ nói, đang bịt mũi cạnh mụ hàng cá; - nhất định là phải làm lễ rồi. Các người lại muốn nhà vua ốm lại hay sao?
- Ăn nói khá lắm, thầy* Gille Lecornu, ông lái áo bào lông thú của đức vua ơi! - Gã học trò bé nhỏ ngồi bám nóc cột nói.
Vào thời trung cổ ở Pháp, tùy theo cách xưng hô mà ta có thể phân biệt nhân vật thuộc giai tầng nào. Nếu gọi là maître, ở đây tạm dịch là thầy, bất kể làm nghề nghiệp gì, nhân vật đều thuộc về một hội đoàn tôn giáo nào đó. Nếu gọi là messire, ở đây tạm dịch là ông, thì nhân vật là thế tục. Còn madame, ở đây tạm dịch là lệnh bà hoặc bà, phu nhân dành cho đàn bà quý tộc, dù có hoặc chưa có chồng. Còn đàn bà thuộc giới thị dân thì gọi là mademoiselle, ở đây tạm dịch là chị hoặc cô hoặc mụ.
Lũ học trò phá lên cười trước cái tên xấu xí của ông lái áo bào lông thú tội nghiệp của đức vua.
- Lecornu! Gille Lecornu!* - Nhiều kẻ gọi ầm lên.
- Cornutus et hirsutus*, - một người khác hùa theo.
Lecornu: tên người này còn có nghĩa là người mọc sừng.
Cornutus et hirsutus: đầu mọc sừng và tóc bờm xờm.
- Này, tất nhiên rồi! - Thằng quỷ sứ ngồi ở nóc cột tiếp lời. - Có gì mà cười kia chứ? Thầy Gille Lecornu đáng kính, anh em với thầy Jehan Lecornu pháp quan hoàng cung, con trai thầy Mahiette Lecornu, đệ nhất trấn môn rừng Vincennes, tất cả đều là thị dân Paris, đều lấy vợ từ đời bố đến đời con.
Càng thêm vui nhộn. Ông lái áo bào lông thú to béo, không thèm trả lời nửa câu, gắng tránh con mắt mọi người tứ phía nhìn mình; nhưng ông có toát mồ hôi, thở phì phò cũng vô ích; như cái nêm đóng vào gỗ, ông càng cố càng nêm chặt hơn bộ mặt to béo trúng phong, đỏ dừ tức tối và giận dữ, vào giữa các bà vai người chung quanh.
Cuối cùng, một người đứng đó, to béo, thấp lùn và cũng trịnh trọng như ông ta, liền can thiệp.
- Thật láo lếu! Học trò mà ăn nói như vậy với một vị thị dân à! Thời trước thì người ta đã lấy củi phang cho một trận rồi thiêu sống luôn.
Tất cả lũ học trò thét toáng lên.
- Ái chà chà! Thằng cha nào dám lên giọng như vậy đấy? Con cú mèo xúi quẩy nào đấy?
- A, tao nhận ra rồi, - một gã nói. - Thầy Andry Musnier đấy mà.
- Vì ông ta là một trong bốn lái sách tuyên thệ của Khu đại học! - Gã khác tiếp lời.
- Cái gì cũng bốn trong cửa hàng đó, - gã thứ ba nói, - bốn quốc gia, bốn học viện, bốn ngày lễ, bốn biện lý, bốn tuyển hầu, bốn lái sách.
- Nếu thế, - Jehan Frollo nói tiếp, - càng phải làm loạn chúng nó lên.
- Musnier, ta đốt sách của thầy.
- Musnier, ta đánh đập gã đầy tớ của thầy.
- Musnier, ta giày vò vợ thầy.
- Tức mụ Oudarde to bẹo phì nộn.
- Nhưng tươi tắn và vui vẻ như gái góa.
- Quỷ tha ma bắt chúng mày! - Thầy Andry Musnier làu bàu.
- Thầy Andry - Jean nói, vẫn bám trên nóc cột - câm mồm đi, nếu không tao nhảy xuống đầu bây giờ!
Thầy Andry ngước mắt nhìn, trong giây lát như đo chiều cao chiếc cột, trọng lượng thằng quỷ, thầm nhân trọng lượng đó với bình phương của tốc độ rồi nín lặng.
Jehan đã làm chủ chiến trường, tiếp tục với vẻ đắc thắng.
- Tao sẽ làm thế đấy, mặc dù tao là em của phó chủ giáo.
- Các vị ở Khu đại học mới đẹp mặt chứ! Cũng chẳng thèm tôn trọng quyền lợi của chúng ta vào một ngày như hôm nay! Thế mà ở Khu phố mới, có lễ trồng cây tháng năm và lửa liên hoan. Khu thành cũ có kịch, Cuồng đãng giáo hoàng và sứ thần xứ Flandre; còn Khu đại học chẳng có quái gì cả!
- Thế mà quảng trường Maubert cũng khá rộng đấy chứ! - Một giáo sinh ngồi chồm hỗm trên thành cửa sổ nói.
- Đả đảo hiệu trưởng, các tuyển hầu và biện lý! - Joannes thét lên.
- Tối nay phải lấy sách của thầy Andry nhóm lửa liên hoan ở Champ-Gaillard mới được, - gã kia tiếp lời.
- Cả giá sách bọn ký lục! - Gã đứng cạnh hùa theo.
- Cả roi bọn phụ giáo!
- Cả ống nhổ bọn khoa trưởng!
- Cả bàn trà bọn biện lý!
- Cả thúng bánh bọn tuyển hầu!
- Cả ghế đẩu lão hiệu trưởng!
- Đả đảo! - Anh chàng Jehan bé nhỏ lại hùa theo! - Đả đảo thầy Andry, bọn phụ giáo và bọn ký lục, bọn thần học, bọn thầy thuốc và bọn nghiên cứu thư tín giáo hoàng; bọn biện lý, tuyển hầu và lão hiệu trưởng!
- Thế này thì đến ngày tận thế rồi! - Andry bịt tai, khẽ nói.
- A, hiệu trưởng đây rồi! Lão ấy đang đi qua quảng trường, - một gã đứng trên cửa sổ reo lên.
Ai nấy vội quay lại nhìn ra quảng trường.
- Có đúng là ngài hiệu trưởng đáng kính của chúng ta, thầy Thibaut đó không? - Jehan Frollo cối xay hỏi, vì bám vào cái cột phía trong, nên không nhìn thấy gì ở bên ngoài.
- Phải, phải, - tất cả trả lời, - đúng lão ta, đúng lão ta rồi, thầy hiệu trưởng Thibaut.
Quả thực, đó là hiệu trưởng cùng tất cả quan lại Khu đại học long trọng tới yết kiến sứ thần và lúc đó đang đi ngang qua quảng trường Tòa pháp đình. Lũ học trò chen chúc ở cửa sổ, đón tiếp họ đi qua bằng các lời lẽ cay độc và tràng vỗ tay nhạo báng. Hiệu trưởng dẫn đầu đoàn người, chịu đòn trước tiên; kể cũng khá đau.
- Chào ngài hiệu trưởng! Ái chà chà! Chào ngài nhé!
- Cái tay cờ bạc khọm này, lão làm thế nào mà đến được đây? Chả nhẽ lão chừa đánh xúc xắc rồi sao?
- Xem lão ta lóc cóc cưỡi con la kia! Tai la còn ngắn hơn tai lão.
- Ái chà chà! Xin ngài hiệu trưởng Thibaut! Tybalde aleator!* Lão ngốc! Quân cờ bạc khọm!
Hỡi Thibaut, tay chơi xúc xắc.
- Cầu Chúa phù hộ cho Ngài! Ngài có đánh bạc suốt đêm qua không?
- Ồ! Cái mặt già khọm, da chì, nhợt nhạt, thiểu não chỉ vì ham mê cờ bạc và xúc xắc!
- Ngài đi đâu, Tybulde ad dados*, mà quay lưng lại Khu đại học và cưỡi la tới Khu phố mới thế?
Hỡi Thibaut, hỡi quân xúc xắc.
- Chắc lão đi tìm một khu căn nhà ở phố Thibautodé. - Jehan Cối Xay hét lên.
Lũ học trò gào to như sấm nhắc lại câu nhạo báng và vỗ tay ran.
- Ngài đi tìm nhà ở phố Thibautodé, phải không ngài hiệu trưởng, tay cờ bạc chung lưng với quỷ sứ?
Rồi đến lượt các học quan khác.
- Đả đảo bọn phụ giáo! Đả đảo bọn môn lại.
- Này, Robin Poussepain, cái lão kia là lão nào vậy?
- Đó là Gilbert de Suilly, Gilbertus de Soliaco, chánh văn phòng trường trung học d’Autun.
- Này, giày tao đây: mày đứng đó tiện tay hơn; ném vào giữa mặt nó cho tao.
- Saturnalitias mittimus ecce nuces*.
Saturnalitias milimus ecce nuces: “Hãy xem đây, ta ném cho người các quả hồ đào ngày hội phóng đãng”.
Đây là một câu trong tập Thơ phúng thích của Martial, nhà thơ Ý (khoảng năm 40-104). Trong các ngày hội phóng đãng tế thần Saturna ở La Mã, người ta lấy hồ đào ném nhau.
- Đả đảo sáu nhà thần học mặc áo lễ trắng!
- Đó mà là nhà thần học à? Tao cứ tưởng sáu con ngỗng trắng của Thánh bà Geneviève cho Khu phố mới, cho thái ấp Roogny.
- Đả đảo bọn thầy thuốc!
- Đả đảo những cuộc tranh luận chủ yếu và nhạo báng.
- Cho lão cái mão đây, lão chánh văn phòng trường Sainte-Geneviève! Chính lão đã phi pháp làm hại ta.
- Đúng thế đấy! Lão đem chỗ của ta ở quốc gia Normandy trao cho thằng nhỏ Ascanio Falzaspada - người tỉnh Bourges, vì nó người Ý.
- Thế là bất công, - lũ học trò nói. - Đả đảo chánh văn phòng trường Sainte-Geneviève!
- Này! Này Joachim de Ladehor! Này! Louis Dahuille! Này! Lambert Hoctement!
- Quỷ bóp cái lão biện lý quốc gia Đức đi!
- Bóp luôn cả bọn tư tế ở nhà nguyện Sainte-Chapelle với cả mũ xám của chúng: cum tunices grisis*.
- Seu de pellibus grisis fourratis?*
Cum tunicus grisis: Với tấm áo cánh màu xám.
Seu de pellibus grisis fourratis?: Hoặc lót da màu xám.
- Ái chà chà! Bọn giáo sư nghệ thuật! Đủ các thứ áo chùng thâm đẹp! Đủ các thứ áo chùng đỏ đẹp!
- Thành cái đuôi đẹp gớm cho lão hiệu trưởng.
- Cứ như quận công xứ Venice đi dự đám cưới ngoài biển.
- Này Jehan! Lũ thầy dòng ở Sainte-Geneviève kìa!
- Kệ xác lũ thầy dòng!
- Tu viện trưởng Claude Choart! Tiến sĩ Claude Choart! Có phải ông định tìm cô Marie La Giffarde đó không?
- Cô ta ở phố Glatigny kia.
- Nó dọn giường cho trùm dâm đãng.
- Nó trả bốn đồng denier; quatuor denarios.
- Aut unum bombum*. Ông có muốn nó trả cả công cho ông không?
Aut unum bombum: hoặc một quả bom.
- Các bạn ơi! Thầy Simon Sanguin, tuyển hầu xứ Picard, đèo vợ ở mông la.
Post equitem seclet atra eura*.
“Sau lưng kỵ sĩ đang ngồi nỗi lo buồn đen tối” (một câu thơ của Horace).
- Cố lên, thầy Simon!
- Chào ngài tuyển hầu!
- Ngủ ngon nhé, tuyển hầu phu nhân!
- Liệu họ có sung sướng được thấy mọi cái đó không, - Joannes de Molendino thở dài nói, vẫn ngồi chót vót giữa đám lá trên nóc cột.
Trong khi ấy Andry Musnier, lái sách tuyên thệ Khu đại học, ghé tai nói với thầy Gille Lecornu; ông lái áo bào lông thú của đức vua:
- Thưa ông, tôi đã bảo đến lúc tận thế rồi mà. Không bao giờ lại thấy học trò ngỗ nghịch quá như vậy. Chính các phát minh khốn nạn của thế kỷ này đã làm hư hỏng hết. Pháo binh, đại bác, thần công và nhất là ấn loát, một thứ dịch hạch khác của nước Đức. Không còn bản viết tay, không còn sách nữa! Nghề in giết nghề sách. Đúng là tới lúc tận thế rồi.
- Cứ nhìn vào đà tiến bộ của vải nhung thì tôi cũng thấy thế, - bác lái da lông thú nói.
Giữa lúc đó, chuông đồng hồ điểm giữa trưa.
- A! - Tất cả đám đông đồng thanh reo lên. Lũ học trò nín lặng.
Rồi họ xô đẩy nhau hỗn loạn, tha hồ đạp chân húc đầu, ai nấy mặc sức ho ran, loạt soạt khăn tay, mỗi người tự thu xếp, chiếm chỗ, kiễng chân, tụ tập, thế rồi im phăng phắc; mọi cần cổ vươn mãi ra, mọi cái mồm há hốc, mọi cặp mắt đều nhìn phía bàn đá. Vẫn chẳng có gì. Bốn cảnh vệ của pháp quan vẫn đứng đó, im lìm và cứng đơ như bốn pho tượng quét sơn. Mọi cặp mắt vẫn quay lại nhìn cái bục dành cho sứ thần Flandre. Cửa vẫn đóng, bục vẫn trống không. Từ sáng, đám đông chờ đợi ba điều: buổi trưa, sứ thần xứ Flandre, vở kịch. Chỉ có mình buổi trưa đến đúng giờ.
Thế này thì thật quá đáng.
Mọi người đợi thêm một, hai, ba, năm, mười lăm phút; cũng chẳng có gì. Bục vẫn vắng ngắt, sân khấu im ắng. Thế rồi tức giận thay thế cho kiên nhẫn. Đúng là giọng nói tức tối mới lan đi nhẹ nhàng. “Diễn kịch đi!” - mọi người khẽ kêu lên. Các đầu óc sục sôi. Cơn dông tố mới đang ầm ì sôi động, phảng phất trên đầu đám đông. Chính Jehan Cối Xay dấy lên tia lửa đầu tiên.
- Diễn kịch đi thôi, kệ xác bọn sứ thần! - Hắn lấy hết hơi sức gào lên, quằn quại như con rắn quanh đầu cột.
Đám đông vỗ tay, nhắc lại:
- Diễn kịch đi, mặc xác bọn sứ thần!
- Diễn ngay kịch cho mọi người xem đi; nếu không, theo tao, cứ treo cổ lão pháp quan Tòa pháp đình lên, thay cho hài kịch và morality, - gã học trò lại thét lên.
- Đúng đấy, - dân chúng gào lên, - ta hãy bắt đầu treo cổ bọn cảnh vệ trước đã.
Tiếp theo là tiếng hoan hô nhiệt liệt. Bốn gã khốn khổ tội nghiệp tái mặt nhìn nhau. Đám đông chuyển động về phía chúng và bốn gã đã thấy chiếc hàng rào gỗ mỏng mảnh ngăn cách với bên ngoài đang cong lại và phình ra trước đám đông xô đẩy.
Giây phút thật nguy nan.
- Làm cỏ! Làm cỏ sạch! - Tứ phía reo lên.
Vừa vặn lúc đó, tấm màn che phông hóa trang mà chúng tôi đã tả ở trên, được nhấc lên và một người bước ra, chỉ nhìn thấy người đó đám đông đột nhiên ngừng ngay lại và như bùa phép biến tức giận thành tò mò.
- Im lặng! Im lặng!
Người đó rất lúng túng và run như cầy sấy, bước tới rìa bàn đá, chào đi chào lại mãi, càng đến gần càng như người gập gối chào.
Trong lúc đó, yên tĩnh dần dần trở lại. Chỉ còn tiếng lao xao mà bất cứ đám đông im lặng nào cũng có. Y nói:
- Thưa quý vị thị dân nam nữ, chúng tôi được hân hạnh xướng tụng và trình diễn trước Đức hồng y một vở morality tuyệt tác, mang tên: Sự phán xét tốt lành của Đức Bà đồng trinh Mary. Chính tôi đóng vai Jupiter. Đức ông hiện đang tháp tùng đoàn sứ thần rất đáng kính của Ngài công tước d’Autriche, đoàn sứ thần giờ này lại đang bận nghe diễn văn của ngài hiệu trưởng trường Đại học, ở cổng Baudet. Chừng nào Đại đức giáo chủ tới, chúng tôi xin bắt đầu.
Rõ ràng, ít nhất cũng phải có sự can thiệp của Jupiter mới cứu nổi bốn viên cảnh vệ khốn khổ của pháp quan Tòa pháp đình. Nếu chúng tôi được cái hạnh phúc bịa đặt câu chuyện rất thật này, do đó phải chịu trách nhiệm trước Đức Bà phê bình, lúc nầy không hề chống lại chúng tôi nếu ai đó nhắc tới câu ngạn ngữ cổ điển: Nec deus intersit*. Vả lại, bộ quần áo của thượng đế Jupiter rất đẹp và cống hiến phần không nhỏ vào việc làm nguôi đám dân chúng đang mải mê ngắm nghía nó. Jupiter mặc áo giáp phủ nhung đen tán đinh vàng chói; ngài trùm mũ sắt bịt mặt đơm khuy bạc mạ vàng; và nếu không có lượt phấn hồng và bộ râu to xù mỗi thứ, che một nửa mặt, nếu không có cuốn bìa vàng chóe, điểm kim nhũ, lòa xòa dải lụa trang kim ngài cầm trong tay mà con mắt thông thạo dễ dàng nhận thấy ngay đó là sét, nếu không có đôi chân màu da thịt và quấn băng theo kiểu Hy Lạp, với cách ăn mặc trang nghiêm đó, ngài đã có thể xứng đáng so sánh với một cung thủ xứ Breton của đội quân ngài Berry.
Nec deus intersit: Đây là câu thơ trong tập Nghệ thuật thi ca của Horace.