Lúc bọn hành khất tấn công nhà thờ, Esmeralda đang ngủ.
Lát sau, tiếng ồn ào mỗi lúc một lớn ở chung quanh tòa nhà và tiếng be be lo sợ của con dê thức tỉnh trước, làm cô thức giấc. Cô ngồi nhỏm dậy, lắng tai nghe, đưa mắt nhìn, rồi sợ hãi vì ánh lửa và tiếng động, cô lao ra khỏi phòng để xem sao. Quang cảnh nơi quảng trường, hình ảnh đang khuấy động dưới đó, vẻ hỗn độn của cuộc tấn công ban đêm, đám đông gớm ghiếc nhảy nhót như bầy ếch nhái nhung nhúc, nửa mờ nửa tỏ trong bóng tối, tiếng kêu ì ộp của đám đông khàn khàn, dăm ngọn đuốc cháy đỏ chạy đi chạy lại và đan chéo trong bóng đêm như ánh lửa ma trơi rạch ngang mặt đầm lầy mù sương, tất cả cảnh tượng này khiến cô có cảm tưởng một trận chiến đấu bí hiểm đang xảy ra giữa các hồn ma của dạ hội phù thủy với các quái vật bằng đá của nhà thờ. Ngay từ bé đã sớm hấp thụ mọi mê tín của bộ lạc Bohémienne, ý nghĩ đầu tiên của cô là mình đang bắt gặp các nhân vật kỳ dị vốn chỉ xuất hiện vào ban đêm, để tác oai tác quái. Thế là cô hốt hoảng chạy vào ẩn trong phòng, hy vọng chiếc giường sẽ dẫn vào cơn ác mộng còn bớt ghê rợn hơn.
Tuy nhiên, các ám ảnh sợ hãi đầu tiên cũng dần dần tiêu tan; nghe tiếng động mỗi lúc càng to hơn và dựa vào nhiều dấu hiệu thực tế khác, cô cảm thấy không phải bóng ma, mà chính bọn người thật đang bao vây mình. Thế là cơn sợ không tăng lên mà đổi khác. Cô nghĩ tới khả năng xảy ra nổi loạn của dân chúng để bắt cô ra khỏi nơi tị nạn. Ý nghĩ một lần nữa lại mất đi đời sống, niềm hy vọng, Phoebus, mà cô luôn thấy thấp thoáng trong tương lai, sự trống rỗng sâu thẳm trong nỗi yếu đuối của mình, sự hết đường trốn chạy, không nơi nương tựa, nỗi chán chường, niềm cô đơn, mọi ý nghĩ đó cùng trăm ngàn ý nghĩ khác làm cô đau khổ. Cô quỳ xuống, gục đầu lên giường, chắp hai tay trên đầu, đầy lo âu cùng run sợ, tuy là gái Ai Cập, sùng bái ngẫu tượng và vô thần, cô vẫn nức nở cầu xin ân sủng của Chúa cứu thế ban phước và van xin Đức Bà đang cho cô trú ngụ. Bởi vì, dù chẳng tín ngưỡng gì, vẫn có những lúc trong cuộc đời người ta tin vào đạo giáo của nơi đền miếu đang tầm tay với.
Cô quỳ như vậy rất lâu, thực ra run sợ nhiều hơn cầu nguyện, lạnh cứng vì hơi hướm mỗi lúc xích lại gần của đám đông hung hãn, cô chẳng hiểu tí gì về vụ nổi loạn, cô không biết mọi người đang âm mưu gì, đang làm gì, đang muốn gì, nhưng vẫn linh cảm thấy một kết cục ghê gớm.
Đang lúc lo sợ, cô bỗng nghe tiếng người bước lại gần. Cô quay lại. Hai người đàn ông, một người xách đèn lồng, vừa bước vào phòng.
Cô khẽ kêu lên.
- Đừng sợ, tôi đây mà, - một giọng nói không xa lạ với cô cất lên.
- Ai đấy? Ông là ai? - Cô hỏi.
- Pierre Gringoire.
Cái tên làm cô yên tâm. Cô ngước mắt nhìn và quả nhiên nhận ra nhà thơ. Nhưng cạnh chàng còn một người mặc đồ thâm và trùm kín từ đầu tới chân, đứng lặng thinh, khiến cô lấy làm lạ.
- Chà! Con Djali còn nhận ra tôi trước cô! - Gringoire nói giọng trách móc.
Quả thật, con dê không chờ Gringoire phải xưng tên. Chàng vừa bước chân vào, nó đã âu yếm cọ mình vào đầu gối chàng, phủ đầy người thi sĩ những vuốt ve và lông trắng, vì nó đang thời kỳ rụng lông. Gringoire cũng vuốt ve lại nó.
- Ai cùng đi với anh thế? - Cô gái Ai Cập hỏi nhỏ.
- Cô cứ yên tâm. - Gringoire đáp. - Đây là anh bạn.
Nói xong triết gia liền đặt chiếc đèn xuống đất, ngồi xổm trên nền đá lát, rồi ôm ghì con Djali trong vòng tay và thích thú reo lên:
- Ồ! Con vật thật xinh đẹp, có lẽ dễ thương vì sạch sẽ hơn vì béo tốt, nhưng nó tinh khôn, tế nhị và học thức như một giáo sư văn phạm! Nào, Djali của ta, mày chưa quên các trò tài tình đấy chứ? Thầy Jacques Charmolue đi đứng ra sao nào?
Người mặc áo thâm không để chàng nói hết. Y lại gần Gringoire và đẩy mạnh vai chàng. Gringoire đứng dậy nói:
- Quả thực tôi quên bẵng chúng ta đang vội. - Tuy nhiên, thưa thầy, đó cũng không phải lý do để thầy bức bách người ta như vậy. - Cô em xinh đẹp thân yêu của tôi, đời sống của cô và cả Djali nữa đang bị đe dọa. Họ muốn bắt lại cô. Chúng tôi là bạn, chúng tôi đến đây để cứu cô. Hãy đi theo chúng tôi.
- Có thật không? - Cô hốt hoảng kêu lên.
- Thật, đúng như vậy. Cô đi ngay thôi!
- Tôi xin sẵn sàng, - cô lắp bắp nói. - Nhưng sao ông bạn của anh không nói gì cả?
- À! - Gringoire nói, - chả là ông bố và bà mẹ anh ta đều là những kẻ ngông nghênh nên mới sinh ra anh ta tính khí tẩm ngẩm như vậy.
Cô đành bằng lòng với lời giải thích. Gringoire dắt tay cô, còn anh bạn xách đèn đi trước. Nỗi sợ làm cô gái bàng hoàng. Cô cứ để mặc cho họ dẫn đi. Con dê nhảy nhót theo sau, rất vui sướng được gặp lại Gringoire, cứ rúc sừng vào chân khiến chàng mấy lần loạng choạng. Mỗi bận suýt ngã, triết gia lại nói:
- Sự đời như vậy, lắm khi kẻ làm ta vấp ngã lại chính là người bạn thân nhất!
Họ nhanh chóng xuống cầu thang trong tháp, đi qua nhà thờ tối om và vắng ngắt, nhưng đang âm vang tiếng ồn bên ngoài, tạo thành cảnh trái ngược kinh sợ, rồi ra ngoài sân tu viện bằng cổng đỏ. Tu viện bỏ không, tu sĩ kéo nhau trốn sang tòa giám mục để cùng cầu nguyện chung; sân cũng vắng ngắt, dăm tên hầu hoảng sợ núp vào xó tối. Họ tới cái cửa trong sân mở ra khu Terrain. Người mặc áo thâm dùng chìa khóa có sẵn mở cửa. Bạn đọc đều biết khu Terrain là mỏm đất có tường vây ở phía Khu thành cũ, thuộc quyền sở hữu của tăng hội nhà thờ Đức Bà, ở cuối hòn đảo về phía đông, đằng sau nhà thờ. Họ thấy khu vực này cũng hoàn toàn vắng vẻ. Ở đây không khí đã bớt ồn. Tiếng hò hét tấn công của đám hành khất vẳng tới mơ hồ hơn và bớt ầm ĩ. Gió mát thổi theo dòng nước, lay động cành lá của cái cây duy nhất được trồng ở đầu mỏm khu Terrain, với tiếng rì rào nghe đã rõ. Tuy nhiên, họ vẫn còn kề bên nguy hiểm. Bên trong tòa giám mục rõ ràng đang hết sức rối loạn. Khối nhà tối đen bị rạch toàn ánh đèn chạy hết cửa sổ này sang cửa sổ khác, như khi ta vừa đốt giấy xong, còn lại một mớ tro xám mà tàn lửa uốn lượn thành muôn đường nét kỳ quặc. Bên cạnh, các tháp to cao của nhà thờ, nhìn từ đằng sau cùng với gian chính điện dài, trên đó dựng sừng sững các tòa tháp, in bóng đen ngòm lên nền đỏ mênh mông của ánh lửa chói chang sân nhà thờ, giống như hai cái giá để cũi vĩ đại trước lò lửa của người khổng lồ độc nhỡn.
Những gì nhìn thấy từ mọi phía ở Paris đều lay động trước mắt trong cảnh tranh tối tranh sáng. Họa sĩ Rembrandt có những bức tranh vẽ nền như vậy.
Người đàn ông xách đèn đi thẳng tới mỏm khu đất. Ở đây, ngay sát mí nước, còn lại các mảnh vụn mọt ruỗng của chiếc hàng rào bằng cọc ken đóng ngang, mọc bám vào đó là cây nho thấp với dăm cành khẳng khiu xòe ra như các ngón một bàn tay mở rộng. Phía sau, dưới bóng tối giàn nho, có giấu chiếc thuyền nhỏ. Người đàn ông ra hiệu cho Gringoire và cô bạn bước xuống. Con dê chạy theo sau. Người đàn ông xuống sau cùng. Rồi y cắt dây neo, dùng gậy dài có móc đẩy thuyền ra xa bờ, cầm hai mái chèo và ngồi xuống đằng mũi, cố sức chèo ra giữa dòng. Con sông Seine chảy rất xiết ở khúc này, cho nên y khá vất vả mới rời xa được đầu mỏm hòn đảo.
Khi bước xuống thuyền, việc quan tâm đầu tiên của Gringoire là đặt con dê lên đầu gối. Chàng ngồi đằng lái, còn cô gái mà kẻ lạ mặt làm cho phải thấp thỏm lo ngại, cô tới ngồi sát ngay cạnh nhà thơ.
Khi triết gia cảm thấy con thuyền chuyển động, chàng vỗ tay và hôn vào giữa cặp sừng con Djali, rồi nói:
- Ồ! Thế là cả bốn chúng ta đều thoát nạn. - Chàng lại nói tiếp, với vẻ mặt nhà tư tưởng thâm thúy. - Đôi khi nhờ may mắn, lắm lúc nhờ mưu mẹo, người ta đạt tới kết quả tốt đẹp của những mưu toan lớn.
Chiếc thuyền từ từ bơi sang hữu ngạn. Cô gái ngấm ngầm khiếp sợ quan sát người lạ mặt. Y đã cẩn thận che kín ánh đèn mờ. Trong bóng đêm, nhìn hắn ngồi trước mũi thuyền thấp thoáng như bóng ma. Chiếc mũ trùm đầu, vẫn kéo sụp xuống, làm thành thứ mặt nạ, và mỗi lần hắn dang hai cánh tay để chèo, hai tay áo thâm rộng lại rủ xuống, trông cứ như đôi cánh lớn con dơi. Hơn nữa, hắn không có tiếng động nào khác ngoài tiếng mái chèo khuấy nước, xen lẫn muôn ngàn tiếng róc rách của sóng vỗ mạn thuyền. Gringoire đột nhiên reo lên.
- Chao ôi! Chúng ta nhẹ nhàng và vui tươi như đàn bướm! Chúng ta lặng lẽ như môn đồ Pythago hoặc loài cá! Chúa ơi là Chúa! Này các bạn, tôi rất thèm có người để nói chuyện. - Giọng nói con người là thứ âm nhạc cho lỗ tai con người. Không phải tôi nói câu đó đâu mà Didyme d’Alexandrie, đó đúng là câu nói trứ danh. - Đã đánh Didyme d’Alexandrie không phải triết gia tầm thường. Một lời thôi, hỡi cô em xinh đẹp! Hãy nói với tôi đi, tôi van cô, chỉ một lời thôi. À này, cô có lối bĩu môi buồn cười đến kỳ lạ; cô vẫn làm thế luôn à? Cô bạn ơi, cô có biết là tối cao pháp viện có toàn quyền cai quản mọi nơi tị nạn và cô sẽ bị nguy to nếu còn ở lại căn phòng trong nhà thờ Đức Bà không? Than ôi! Con chim nhỏ chuyên xỉa răng cá sấu đang làm tổ trong mõm cá sấu. - Thầy ơi, kìa vầng trăng lại ló ra. - Miễn đừng ai trông thấy chúng ta! - Chúng ta cứu cô nương là một việc đáng khen, nhưng nếu bị bắt, ta sẽ bị treo cổ theo lệnh đức vua. Than ôi! Hành động con người đều có hai quai. Việc anh làm được ca ngợi thì tôi bị kết tội. Kẻ khâm phục César lại nguyền rủa Catilina. Có phải thế không, thưa thầy? Thầy thấy triết lý đó thế nào? Còn tôi, tôi có được triết lý theo bản năng do tự nhiên, ut apes geometriam*. - Thôi vậy, chẳng ai trả lời ta cả. Cả hai vị đều đang bực bội đây! Ta đành nói chuyện một mình. Cái mà trong bi kịch gọi là độc thoại. - Chúa ơi là Chúa! - Xin báo để các vị rõ, tôi vừa được yết kiến đức vua Louis XI, nên còn nhớ câu chửi thề đó. - Cho nên Chúa ơi là Chúa! Ở Khu thành cũ, chúng nó vẫn còn hò hét ghê quá. - Ông vua già này thật đê tiện, độc ác. Khắp người quấn đầy lông thú. Ông ta vẫn nợ tôi tiền công viết thiên chúc hôn thi, thế mà tối nay còn suýt định treo cổ tôi, như vậy quả rất phiền cho tôi. - Ông ta keo kiệt đối với người có tài. Lẽ ra ông ta phải đọc hết bốn cuốn sách của Salvin de Cologne Adversus avaritiam*. Thực ra, ông vua này hẹp hòi trong cách đối xử với nhà văn, mà còn có nhiều hành vi bạo ngược rất dã man. Đúng là miếng bọt biển để hút bạc, được đặt lên đầu dân chúng. Tính hà tiện của ông ta là cái lá lách sưng tấy trong khi mọi bộ phận gầy teo. Cho nên mọi lời kêu ca trước đời sống khó khăn đều trở thành câu chửi thầm nhà vua. Dưới triều đại ông vua hiền từ mộ đạo này, các giàn giá nứt gãy vì người bị treo cổ, các thớt chặt đầu mục nát vì máu đọng, các nhà tù rạn vỡ như những bụng đầy căng. Ông vua này một tay vơ tiền, một tay treo cổ. Là người đại lý của bà Thu thuế và ông Treo cổ. Các vị to đầu bị tước mất chức vị còn kẻ hèn luôn gánh chịu mọi đè nén mới. Một ông vua quá quắt. Tôi không ưa cái nhà vua này. Thế còn thầy thì sao?
Như bình lọc đối với loài ong.
Adversus avaritiam: Chống keo kiệt - Đây là tên một tác phẩm trào phúng chế giễu lối sống xa hoa của người La-Mã, do linh mục Salvianus Massiliensis Episcopus (390-484) viết.
Người mặc đồ thâm cứ để mặc nhà thơ ba hoa, cứ việc tha hồ chỉ trích. Y tiếp tục chèo chống với dòng nước cuồn cuộn chảy xiết, ngăn cách đuôi lái của Khu thành cũ với đầu mũi của đảo Đức Bà, nay gọi là đảo Saint Louis. Bỗng nhiên, Gringoire lại hỏi:
- À này, thưa thầy! Lúc chúng ta vượt qua bọn hành khất điên cuồng tới sân nhà thờ, đức ông có để ý tới cậu bé quỷ quái tội nghiệp đang bị thằng điếc của ngài quật vỡ sọ trên lan can của hành lang các vua không? Mắt tôi kém nên không nhận ra được. Ngài có biết đó là ai không?
Người lạ mặt không đáp nửa lời. Nhưng y đột nhiên ngừng chèo, hai cánh tay rũ xuống như bị gãy, đầu cúi gục trên ngực và Esmeralda nghe thấy y thở dài run rẩy. Về phần cô gái cũng rùng mình. Cô từng nghe thấy tiếng thở dài này.
Chiếc thuyền bị bỏ mặc, trôi theo dòng nước một lát. Nhưng cuối cùng người mặc áo thâm ngồi thẳng dậy, cầm mái chèo, tiếp tục bơi ngược dòng.
Y vượt mũi đất ở đảo Đức Bà và tiến về phía Bến cỏ. Gringoire bảo:
- A! Nhà Barbeau kia rồi. Này thầy ơi, thầy hãy nhìn xem khu nhà mái đen làm thành góc cạnh kỳ lạ ở đằng kia, dưới đám mây thấp, lê thê, lộn xộn và xám bẩn, nơi mặt trăng nát bét và nhòe nhoẹt như lòng đỏ quả trứng đã vỡ vỏ. - Tòa nhà thật đẹp. Ở đó có nhà nguyện với vòm trần nhỏ đầy trang trí chạm trổ rất khéo. Phía trên thầy có thể thấy cái gác chuông trổ cửa rất tinh vi. Cũng có cả khu vườn đẹp mắt, gồm cái ao, chuồng chim, cây cảnh, sân chơi vồ, mê cung, chuồng thú dữ và vô số đường lối rậm rạp rất thuận tiện cho thần Vệ nữ. Lại còn thứ cây đểu giả gọi là cây dâm đãng, từng phục vụ cho nhục dục của một quận chúa nổi danh cùng một nguyên soái Pháp lịch thiệp và dí dỏm. - Than ôi! Bọn triết gia nghèo khổ chúng ta, nếu đem so sánh với một nguyên soái, chẳng khác gì luống cải bắp và su hào bên cạnh vườn ngự uyển ở điện Lourve. Dù sao cũng bất cần! Cuộc sống con người đối với ông lớn cũng như đối với ta, đều lẫn lộn cả tốt và xấu. Nỗi khổ luôn ở cạnh niềm vui, câu thơ vế dài cạnh câu thơ vế ngắn. - Thưa thầy, tôi xin kể cho thầy nghe sự tích tòa nhà Barbeau này. Câu chuyện kết thúc thật bi thảm. Đó là năm 1319, dưới triều đại Philippe V, một vua Pháp trị vì lâu nhất. Luân lý câu chuyện là các cám dỗ xác thịt đều độc hại và gian ác. Đừng nên quá chăm chú ngắm nhìn cô vợ người hàng xóm, dù giác quan ta có mê mẩn nhan sắc cô ta đến đâu. Gian dâm là một ý tưởng rất phóng túng. Ngoại tình là sự tò mò về khoái lạc của kẻ khác... - Ô kìa! Phía đó lại càng ồn ào hơn nữa!
Quả thực tiếng ồn ào càng tăng hơn ở chung quanh nhà thờ Đức Bà. Họ lắng nghe. Nghe thấy khá rõ tiếng hò reo chiến thắng. Đột nhiên, hàng trăm ngọn đuốc soi lấp lánh mũ sắt quân lính, tràn vào nhà thờ, tỏa đi khắp các tầng gác, các tháp, hành lang, vòm mái. Dãy đuốc hình như đang tìm kiếm gì đó; chẳng bao lâu tiếng reo hò từ xa vẳng lại rõ ràng tới tai kẻ chạy trốn:
- Con bé Ai Cập! Con phù thủy! Giết chết con bé Ai Cập!
Cô gái khốn khổ vùi đầu vào hai bàn tay, còn kẻ lạ mặt ra sức chèo vào bờ. Trong lúc đó, vị triết gia suy nghĩ. Chàng ôm ghì con dê trong vòng tay và nhẹ nhàng tránh xa cô Bohémienne ngồi sát lại, như chàng là nơi tị nạn duy nhất còn lại.
Rõ ràng Gringoire đang ở vào tình trạng do dự ghê gớm. Chàng nghĩ, chiếu theo luật lệ hiện hành, nếu bị bắt lại, cả con dê cũng bị treo cổ, mà như vậy, sẽ rất tai hại, thật tội nghiệp cho Djali! Quả thực hơi quá nhiều khi có tới hai tội nhân cứ níu chặt lấy chàng; dù sao người bạn cùng đi cũng không mong gì hơn được chăm lo cô gái Ai Cập. Chàng tiến hành đấu tranh tư tưởng mãnh liệt, trong đó, như thần Jupiter ở trường ca Iliad, chàng lần lượt cân nhắc giữa cô gái Ai Cập và con dê; rồi chàng cũng lần lượt nhìn cả hai, cặp mắt rưng rưng lệ, lẩm bẩm trong miệng:
- Dù sao ta cũng không cứu nổi cả hai.
Cuối cùng, thuyền xô mạnh báo hiệu đã cập bến. Khu thành cũ vẫn vang lên tiếng ầm ầm rùng rợn. Kẻ lạ mặt đứng dậy, tới gần cô gái, định đỡ tay dìu lên bờ. Cô đẩy ra và níu lấy tay áo Gringoire, còn chàng đang mải lo cho con dê nên cũng gần như đẩy cô ra. Thế là cô nhảy ra khỏi thuyền một mình. Cô rất bối rối, không biết mình đang làm gì, sẽ đi đâu. Cô đứng sững sờ như vậy một lát nhìn dòng nước chảy. Khi hoàn hồn đôi chút, chỉ còn mình cô trên bến với người khách lạ. Hình như Gringoire lợi dụng lúc lên bờ để cùng con dê chuồn thẳng vào dãy nhà ở trên phố Kho thóc bên sông.
Cô gái Ai Cập tội nghiệp sợ run khi thấy chỉ còn lại một mình với người lạ mặt. Cô muốn nói, muốn kêu lên, muốn gọi Gringoire, nhưng lưỡi cứng đơ trong miệng và không tiếng nào lọt qua khỏi môi. Bỗng nhiên cô cảm thấy bàn tay người khách lạ nắm lấy tay mình. Một bàn tay lạnh giá và mạnh mẽ. Răng đánh cầm cập, mặt cô tái hơn cả ánh trăng đang chiếu. Người kia chẳng nói nửa lời. Y dắt tay cô gái rảo bước đi ngược lên quảng trường Grève. Lúc đó, cô gái mơ hồ cảm thấy định mệnh là sức mạnh không cưỡng nổi. Cô kiệt lực, để mặc cho lôi đi, cô chạy khi người kia chỉ rảo bước. Bờ sông đoạn này dốc ngược. Nhưng cô lại thấy như mình đang tuột xuống.
Cô nhìn tứ phía. Không bóng người qua lại. Bờ sông vắng tanh vắng ngắt. Cô chỉ nghe thấy tiếng động, chỉ trông thấy có người hoạt động ở Khu thành cũ ồn ào và đỏ ối, ngăn cách bằng độc một nhánh sông Seine, nơi tên cô vẳng tới xen lẫn cùng tiếng hô đòi giết. Phần còn lại của Paris tỏa ra xung quanh thành từng khối lớn bóng tối.
Lúc đó, kẻ lạ mặt vẫn cứ lặng lẽ và rảo bước lôi cô đi. Trong ký ức, cô không nhận ra một nơi nào đi ngang qua. Tới trước một khung cửa sổ sáng đèn, cô ráng sức đột nhiên đứng sững lại và kêu lên:
- Cứu tôi với!
Người thị dân có khung cửa sổ liền mở cửa, hắn mặc áo lót, tay cầm đèn, ló đầu ra, nhìn bờ sông với vẻ mặt ngơ ngác, nói gì đó cô không nghe thấy rồi khép cửa lại. Tia sáng hy vọng cuối cùng đành tắt ngấm.
Người mặc đồ thâm không hé nửa lời, vẫn nắm chặt tay cô và càng rảo bước nhanh hơn. Cô không kháng cự nữa mà rã rời bước theo.
Thỉnh thoảng, gắng lấy lại chút ít sức lực, cô hỏi giọng đứt đoạn vì mặt đường gập ghềnh và chạy mệt đến đứt hơi:
- Ông là ai? Ông là ai?
Người kia không trả lời.
Cứ như vậy, hai người chạy dọc theo bờ sông tới một quảng trường khá rộng. Trời mờ sáng ánh trăng. Đây quảng trường Grève. Ở giữa sừng sững dựng lên một loại thập tự đen. Đó là đài treo cổ. Cô nhận ra tất cả và biết mình đang ở đâu.
Người kia dừng bước, quay lại phía cô và nhấc mũ trùm đầu.
- Ôi! - Cô sợ hãi nói lắp bắp, - ta biết trước, lại vẫn hắn ta.
Đó là linh mục. Trông ông hệt như cái bóng ma của ông, do hiệu quả của ánh trăng. Dưới ánh trăng, hình như chỉ nhìn thấy bóng ma của sự vật.
- Em nghe đây, - ông bảo cô; còn cô run lên trước âm thanh giọng nói thê thảm đã từ lâu không nghe thấy. Ông nói tiếp. Nói ngập ngừng từng câu ngắn và thở hổn hển, giọng run rẩy chứng tỏ lòng ông xúc động sâu xa. - Em nghe đây. Chúng ta đang ở đây. Ta sẽ nói chuyện với em. Đây quảng trường Grève. Chốn này là điểm tột cùng. Định mệnh trao chúng ta cho nhau. Ta sẽ quyết định đòi em, còn em quyết định linh hồn ta. Đây là một quảng trường và một đêm mà vượt ra khỏi, ta sẽ không còn nhìn thấy gì hết. Vậy hãy nghe. Tôi sẽ nói với em... Trước hết, đừng nhắc đến cái tên Phoebus. (Vừa nói, ông vừa đi đi lại lại, như người không thể đứng yên một chỗ, và kéo cô đi theo). Đừng nhắc đến tên hắn với ta. Em hiểu chứ? Nếu em nhắc tới tên đó, ta không biết mình sẽ làm gì, nhưng chắc phải ghê gớm.
Nói xong, như một vật lấy lại được thăng bằng, ông đứng im. Nhưng lời nói vẫn không bớt xao xuyến. Giọng nói mỗi lúc một nhỏ hơn.
- Đừng ngoảnh mặt đi như vậy. Em hãy nghe tôi. Việc này hệ trọng. Trước hết, sự việc đã xảy ra như sau. - Xin thề với em đây không phải chuyện đùa. - Tôi vừa nói gì với em thế nhỉ? Hãy nhắc cho tôi nhớ lại nào! À! - Tối cao pháp viện vừa ra án lệnh bắt em, để đưa em ra pháp trường. Ta vừa cứu em thoát khỏi tay chúng. Nhưng chúng vẫn truy nã em kia kìa. Em nhìn xem.
Ông giơ tay chỉ về phía Khu thành cũ. Quả nhiên, cuộc khám xét hình như vẫn tiếp tục. Tiếng ồn ào tiến lại gần. Tòa tháp ở nhà viên trung úy, đối diện với quảng trường Grève đang ầm ầm và sáng rực, rồi thấy binh lính chạy trên đường bờ sông kia, vừa vung đuốc vừa hò hét:
- Con bé Ai Cập! Con bé Ai Cập đâu rồi! Giết! Giết!
- Em thấy rõ chúng đang đuổi bắt em, và tôi không nói dối. Tôi, tôi yêu em. - Đừng mở miệng, đừng nói gì vội, nếu chỉ để nói em ghét tôi. Tôi quyết định không nghe những câu đó. - Tôi vừa cứu em. - Hãy để tôi nói hết. Tôi có thể cứu em hoàn toàn. Tôi đã chuẩn bị đầy đủ. Tùy em muốn hay không. Em muốn gì, tôi cũng sẽ làm được.
Ông ngừng ngay lại.
- Không, đáng lẽ không nên nói như vậy.
Rồi ông chạy đi, kéo cả cô gái chạy theo, vì vẫn không chịu buông tay cô, ông đi thẳng tới đài treo cổ và chỉ cho cô gái xem, lạnh lùng bảo:
- Cô hãy chọn giữa nó và ta.
Cô giằng khỏi tay ông, và gục xuống chân đài treo cổ, ôm chầm lấy nơi nương tựa chết chóc này. Rồi cô hơi ngoái khuôn mặt xinh đẹp nhìn lại, nhìn linh mục qua vai mình. Trông như Đức mẹ đồng trinh dưới chân cây thánh giá. Linh mục đứng im phăng phắc, ngón tay vẫn chỉ lên đài treo cổ, giữ nguyên cử chỉ đó, như pho tượng.
Cuối cùng, cô gái Ai Cập bảo ông:
- Tôi còn thấy nó không ghê tởm bằng ông.
Ông liền từ từ buông tay xuống và nhìn mặt đường, vẻ vô cùng đau khổ, khẽ thầm thì:
- Nếu những phiến đá này biết nói, phải, chúng sẽ bảo đây một con người rất bất hạnh.
Ông nói tiếp. Cô gái quỳ trước đài treo cổ, khuất sau mớ tóc dài, để mặc ông nói, không ngắt lời. Giờ đây, giọng ông than vãn và dịu dàng, đối lập đau đớn với vẻ mặt khắc nghiệt và kiêu kỳ.
- Tôi, tôi yêu em. Chao ôi! Điều đó tuy vậy mà rất đúng. Hóa ra không gì thoát khỏi ngọn lửa đang đốt cháy tâm can ta! Than ôi! Cô em ơi, suốt ngày đêm, đúng thế, suốt ngày đêm, như vậy vẫn không xứng đáng một chút tình thương nào hay sao? Một mối tình thâu đêm suốt sáng, một cực hình, em ạ. - Trời! Ta vô cùng đau khổ, hỡi cô em tội nghiệp! - Em hãy tin đây là điều đáng thương. Em cũng thấy tôi đang dịu dàng nói với em. Tôi rất muốn em không còn ghê sợ tôi. - Vả lại, một người đàn ông yêu một người đàn bà, đâu phải lỗi tại hắn! Ôi! Lạy Chúa! - Sao hả? Em sẽ không bao giờ tha thứ cho tôi ư? Em sẽ thù ghét tôi mãi mãi? Thế là hết! Chính vì thế mà tôi trở nên tàn ác em thấy không, và tôi ghê tởm chính mình! - Em cũng không thèm nhìn tôi! Có lẽ em đang nghĩ tới chuyện khác, còn tôi đang run rẩy đứng đây nói với em, trên ranh giới của sự vĩnh cửu cho cả hai ta! - Cần nhất đừng nhắc tới tên sĩ quan! - Phải, tôi sẽ quỳ dưới chân em, phải! Tôi sẽ hôn, không phải bàn chân, phải! Tôi sẽ khóc nức nở như đứa trẻ, tôi sẽ rút khỏi lồng ngực không phải lời nói, mà trái tim, ruột gan, để nói tôi yêu em, nhưng tất cả, tất cả đều vô ích! - Mặc dù tâm hồn tôi chỉ toàn hiền dịu và khoan dung, trông em lồ lộ vẻ đẹp dịu dàng đẹp đẽ nhất, toàn thể con người em đều ngát hương hiền hậu, nhân từ và duyên dáng. Than ôi! Em chỉ độc ác với riêng tôi thôi! Ôi! Định mệnh sao tàn nhẫn!
Ông lấy tay che mặt. Cô gái nghe ông khóc. Đây là lần đầu. Đứng sững và run lên vì nức nở như vậy, trông ông còn thảm hại và nhục nhã hơn lúc quỳ. Ông cứ khóc như vậy một lát. Giọt nước mắt đầu tiên vừa khô, ông liền nói:
- Thôi! Ta chẳng cần biết nói gì hơn. Mặc dù ta đã nghĩ kỹ những điều phải nói với em. Bây giờ ta run rẩy, lập cập, ta nhụt chí vào phút quyết định, ta cảm thấy cái gì cao cả đang bao trùm chúng ta, và ta ấp úng? Ôi! Ta sẽ ngã gục xuống lề đường nếu em không thương ta, không thương em. Đừng nên kết án cả hai chúng ta. Nếu em biết ta yêu em chừng nào! Tim ta là trái tim như thế nào! Ôi! Bao nhiêu đạo đức vứt đi hết! Ta tuyệt vọng thí bỏ cả chính bản thân ta! Là bác học, ta nhạo báng khoa học; là quý tộc, ta xé nát tên tuổi; là linh mục, ta lấy sách kinh làm chiếc gối dâm dật, ta nhổ toẹt vào giữa mặt đức cha của ta! Tất cả chỉ vì em, hỡi kẻ bỏ bùa yêu! Để xứng đáng hơn với hỏa ngục của em! Thế mà em không thèm đoái hoài tới kẻ đọa đày! Ôi! Ta sẽ nói hết cho em nghe! Nói nữa, những chuyện còn khủng khiếp hơn, ôi! Khủng khiếp hơn...
Lúc nói mấy câu cuối, vẻ mặt ông trở nên hoàn toàn ngơ ngác. Ông nín lặng giây lát, rồi nói tiếp, như tự nhủ với mình, giọng thật to:
- Cain, ngươi đã làm gì em của ngươi?*
“Cain, ngươi đã làm gì em của ngươi?”: Đây là câu Chúa hỏi Cain, con trai cả của Adam và Eva, sau khi nó giết chết em trai là Abel, vì ghen tức.
Ông lại nín lặng lát nữa, rồi nói tiếp:
- Hỡi Thượng đế, con đã làm gì ư? Con đã đón nhận, dạy dỗ, nuôi nấng, yêu thương nó, nâng niu chiều chuộng và đã giết nó! Vâng, hỡi Thượng đế, đúng là vừa rồi trước mặt con, họ đã đập vỡ sọ nó trên bờ đá tòa nhà của Thượng đế, mà như vậy do tại con, tại người đàn bà này, tại cô ta...
Cặp mắt ông ngơ ngác. Giọng nói lịm dần, ông lặp lại như cái máy vài câu cuối cùng, cách quãng khá lâu, như tiếng chuông ngân dài lần cuối.
- Tại cô ta... Tại cô ta...
Rồi cái lưỡi không còn phát ra âm thanh nào nghe rõ, tuy môi vẫn mấp máy. Bỗng nhiên ông gục xuống như một vật sụp đổ, rồi lăn ra đất, đầu rúc vào đầu gối.
Tiếng sột soạt của cô gái đang rút chân khỏi người ông đè lên, làm ông bừng tỉnh. Ông từ từ đưa tay vuốt đôi má hóp và hốt hoảng nhìn ngón tay ướt đẫm hồi lâu:
- Sao lại thế này! - Ông thầm thì. - Ta khóc ư?
Rồi bất thần ông quay lại phía cô gái Ai Cập với vẻ hãi hùng khôn tả:
- Chao ôi! Em lạnh lùng nhìn tôi khóc! Hỡi cô em, em có biết giọt nước mắt này chính là phún thạch? Có thật thế không, đối với con người mình ghét, không gì khiến mình mủi lòng? Em sẽ thấy tôi chết, em sẽ cười. Ôi! Còn tôi, tôi không muốn nhìn em chết! Một lời thôi! Chỉ còn một lời tha thứ duy nhất! Đừng nói em yêu tôi, chỉ cần nói em vui lòng tha thứ, thế là đủ, tôi sẽ cứu em. Nếu không... Ôi! Thời giờ trôi qua, ta nhân danh tất cả những gì thiêng liêng để van xin em điều đó, đừng đợi ta trở lại thành đá như đài treo cổ này, nó cũng đang đòi hỏi em! Hãy nghĩ ta đang nắm trong tay cả hai vận mệnh chúng ta, ta đang mất trí, một điều kinh khủng. Ta có thể để mặc cho đổ vỡ hết và hỡi cô em khốn khổ, dưới chân chúng ta là vực thẳm không đáy, nơi đó sự rơi ngã của ta sẽ đời đời đuổi theo sự rơi ngã của em! Chỉ một lời tử tế! Hãy nói một lời! Một lời thôi!
Cô mở miệng để trả lời. Ông vội quỳ xuống trước mặt cô để yêu quý đón nhận lời nói, có thể dịu dàng, sắp thốt khỏi đôi môi. Cô bảo ông:
- Ông là đồ sát nhân!
Linh mục giận dữ ôm lấy cô gái và cười thét lên ghê rợn rồi nói:
- Đúng thế! Sát nhân! Ta sẽ chiếm đoạt em. Em không muốn ta làm nô lệ, ta sẽ là chủ nhân của em. Ta chiếm đoạt em. Ta có nơi ẩn náu, ta sẽ lôi em tới đó. Em sẽ theo ta, nhất định phải theo ta, nếu không ta sẽ nộp em cho chúng! Hỡi người đẹp, hoặc chết, hoặc thuộc về sát nhân! Mà ngay đêm nay, em nghe rõ rồi chứ? Nào! Vui lên đi! Nào! Hôn ta đi, hỡi cô điên! Hoặc nằm dưới mồ, hoặc nằm trên giường của ta.
Mắt ông long lanh vẩn đục và điên cuồng. Cái miệng dâm dật làm đỏ ửng cổ cô gái. Cô giẫy giụa trong vòng tay ông. Ông sùi bọt mép hôn cô tới tấp. Cô thét lên:
- Đồ quỷ sứ, đừng cắn ta! Ôi! Đồ thầy tu bẩn thỉu gớm ghiếc! Buông ra! Nếu không ta bứt mớ tóc hoa râm khốn nạn của ngươi rồi ném đầy mặt ngươi!
Ông đỏ mặt, tái mét, rồi buông cô ra và hằm hằm nhìn cô. Cô tưởng mình thắng thế, nói tiếp:
- Ta nói cho ngươi biết ta thuộc về Phoebus của ta, ta chỉ yêu Phoebus, chỉ Phoebus đẹp trai! Còn ngươi, linh mục, ngươi già rồi! Ngươi thật xấu xí! Cút đi!
Ông thét lên lanh lảnh, như kẻ khốn khổ bị in dấu nung đỏ, nghiến răng ken két nói:
- Thế thì mi phải chết!
Cô nhìn con mắt ông ghê rợn và định chạy trốn. Ông liền tóm lấy cô, xô mạnh và quật ngã xuống đất, rồi rảo bước đi nhanh về phía góc tháp Roland, nắm lấy đôi bàn tay đẹp kéo lê cô gái theo sau.
Tới đó ông quay lại hỏi cô:
- Một lần cuối, mi có muốn về với ta không?
Cô gái thét lớn:
- Không.
Ông bèn gọi to:
- Gudule! Gudule! Con bé Ai Cập đây này! Mụ hãy trả thù đi.
Cô gái đột nhiên cảm thấy bị nắm chặt ở khuỷu tay. Cô đưa mắt nhìn. Đó là một cánh tay gầy trơ xương thò qua cửa sổ trên tường và nắm chặt lấy cô như bàn tay sắt.
- Giữ chặt lấy nó! - Linh mục nói. - Con Ai Cập bỏ trốn. Đừng thả nó ra. Để ta đi gọi tuần cảnh. Mụ sẽ được xem nó treo cổ.
Tiếng cười sằng sặc từ phía trong tường đáp lại câu nói đẫm máu.
- Ha! Ha! Ha!
Cô gái Ai Cập thấy linh mục chạy xa dần về phía cầu Đức Bà. Có tiếng vó ngựa phi đằng đó.
Cô gái nhận ra mụ tu kín độc ác. Sợ run lên, cô cố vùng ra. Cô giằng giật, giãy giụa nhiều lần như kẻ tuyệt vọng và sắp chết, nhưng mụ kia vẫn giữ chặt với sức mạnh khác thường. Các ngón tay khẳng khiu và gầy trơ xương làm cô đau đớn, bấu chặt lấy da thịt và thít lại vòng quanh. Tưởng như bàn tay đóng đinh vào cánh tay cô. Còn hơn dây xích, còn hơn cái xiềng, còn hơn còng sắt, đây là gọng kìm thông minh và sinh động từ trong tường thò ra.
Kiệt lực, cô ngã người vào vách tường và lúc đó, nỗi sợ chết mới xâm chiếm. Cô nghĩ đến vẻ đẹp cuộc sống, tuổi xuân, khung trời, cảnh vật thiên nhiên, tình yêu, Phoebus, tất cả những gì đang tới gần, nghĩ đến linh mục đang tố giác, đao phủ sắp tới, đài treo cổ đây kia. Thế là cô thấy nỗi sợ dâng lên rợn chân tóc và nghe tiếng cười rùng rợn của mụ tu kín đang khẽ bảo:
- Ha! Ha! Ha! Mày sắp bị treo cổ!
Cô ngắc ngoải quay lại cửa sổ và thấy bộ mặt hung hãn của mụ tu dòng Túi sau chấn song. Cô gần như hết hồn, hỏi:
- Tôi có làm gì bà đâu?
Mụ tu kín không trả lời, chỉ lẩm bẩm một giọng véo von, cáu kỉnh và giễu cợt:
- Con gái Ai Cập! Con gái Ai Cập! Con gái Ai Cập!
Cô Esmeralda khốn khổ đành gục mặt dưới mớ tóc xõa, biết mình đang đứng trước không phải một con người.
Bỗng nhiên mụ tu kín thét lên, tựa hồ câu hỏi của cô gái Ai Cập mãi lúc đó mới lọt thấm đầu óc:
- Mày bảo mày có làm gì tao đâu, phải không? Chà, con bé Ai Cập; mày đã làm gì tao ư? Này! Hãy nghe đây! - Tao từng có một đứa con, chính tao đây! Mày thấy chưa? Tao đã từng có một đứa con! Một đứa con, mày hiểu chưa! Một con bé xinh xắn! - Bé Agnès của ta, - mụ ngơ ngác nói tiếp và hôn vật gì đó trong bóng tối. - Thế mà, mày biết không con bé Ai Cập kia, họ bắt mất con tao, họ ăn cắp con tao, họ ăn thịt con tao. Mày đã làm tao như thế đó.
Cô gái trả lời như cừu non:
- Chao ôi! Lúc đó dễ thường tôi chưa sinh ra!
- Ồ, không! - Mụ tu kín nói, - mày phải sinh ra rồi. Lúc đó đã có mày. Con tao giờ cũng trạc tuổi mày! Vậy đó! - Thế mà mười lăm năm tao ở đây, mười lăm năm tao đau khổ, mười lăm năm tao cầu nguyện, mười lăm năm tao đập đầu vào bốn bức tường. - Tao nói cho mày biết, chính các mụ Ai Cập đã bắt con tao, mày nghe rõ chưa, rồi dùng răng nhai thịt nó. - Mày có tình cảm không? Mày có hình dung nổi thế nào là một đứa con biết đùa, một đứa con biết bú, một đứa con biết ngủ. Ngây thơ biết bao! - Như thế đó, vậy mà chúng lấy mất mọi thứ đó của tao, chúng giết tao! Chúa ơn phước biết rõ điều này! Hôm nay, đến lượt tao, tao sẽ ăn thịt con bé Ai Cập. - Ồ! Nếu không có chấn song ngăn cản, tao đã cắn thịt mày rồi. Cái đầu tao to quá! - Tội nghiệp con bé! Giữa lúc nó đang ngủ! Mà nếu chúng có làm con bé thức giấc lúc bắt đi, con bé có tha hồ kêu gào thì ta cũng không có ở đấy! - Hừ! Hỡi bọn mẹ Ai Cập, các ngươi ăn thịt con ta! Hãy tới đây xem đến lượt con của ngươi.
Thế rồi mụ cất tiếng cười hoặc nghiến răng, hai cái đó giống hệt nhau trên khuôn mặt hung hãn. Bình minh bắt đầu ló rạng. Ánh phản chiếu xám tro mơ hồ soi sáng cảnh tượng này và đài treo cổ càng hiện rõ trên quảng trường, về phía bên kia, gần cầu Đức Bà, cô tội nhân khốn khổ tưởng nghe tiếng vó ngựa lại gần. Cô chắp tay, quỳ xuống, tóc rối bù, hốt hoảng, sợ đến thất thần, kêu lên:
- Bà ơi! Bà ơi! Bà hãy rủ lòng thương cháu. Họ đang tới đây. Cháu có làm gì bà đâu. Chả lẽ bà lại muốn nhìn cháu chết thảm khốc trước mắt bà hay sao? Cháu tin chắc bà giàu lòng thương người. Khủng khiếp quá. Hãy để cháu chạy trốn. Buông cháu ra nào! Cnáu van bà! Cháu không muốn chết như thế này!
- Hãy trả con tao! - Mụ tu kín nói.
- Cháu van bà! Hãy thương cháu!
- Trả con tao đây?
- Trời ơi, buông tôi ra nào!
- Trả con tao đây!
Một lần nữa cô gái lại rũ xuống, kiệt lực, rã rời, cặp mắt mờ đi như người nằm dưới huyệt. Cô lắp bắp nói:
- Chao ôi! Bà tìm con bà. Còn tôi lại tìm bố mẹ tôi.
- Hãy trả lại con Agnès của tao! - Mụ Gudule tiếp tục đòi, - Mày không biết nó ở đâu à? Nếu thế thì chết đi! - Tao nói cho mày biết. Trước kia tao làm đĩ, tao đã có con, họ bắt mất con tao. - Chính các mụ Ai Cập. Mày thấy rõ mày phải chết rồi chứ. Khi con mẹ Ai Cập của mày tới đòi mày, tao sẽ bảo: Này bà mẹ, hãy nhìn lên đài treo cổ! - Hoặc hãy trả con tao. - Mày có biết con bé của tao, nó ở đâu không? Đây, tao cho mày xem cái này. Đây, chiếc giày của nó, tất cả tao chỉ còn lại có thế này. Mày có biết chiếc kia ở đâu không? Nếu mày biết, hãy bảo tao; thì cùng trời cuối đất, tao cũng sẽ lê gối đi tìm nó.
Vừa nói, mụ vừa thò cánh tay kia qua cửa sổ giơ cho cô gái Ai Cập xem chiếc giày thêu xinh xắn. Trời đã đủ sáng để nhìn rõ hình dáng và màu sắc. Cô gái giật mình nói:
- Cho tôi xem chiếc giày. Trời ơi! Trời ơi! - Đồng thời, cô đưa bàn tay còn tự do ra vội vàng mở cái túi nhỏ đính hạt cườm vẫn đeo ở cổ.
- Thôi! Thôi đi! - Mụ Gudule làu bàu, mày cứ việc lục lọi cái túi bùa ngải ma quỷ của mày!
Đột nhiên mụ nín bặt, toàn thân run rẩy, và thét lên một tiếng thốt tự đáy lòng:
- Con tôi!
Cô gái Ai Cập vừa rút trong túi ra chiếc giày xinh xắn hoàn toàn giống hệt chiếc kia. Chiếc giày nhỏ đính kèm mảnh da dê, trên có viết câu sấm như sau:
Chiếc giày giống hệt tìm xong
Dang tay mẹ đón thong dong con về.
Trong khoảng thời gian còn nhanh hơn tia chớp, mụ tu kín so xong hai chiếc giày, đọc xong lời ghi trên mảnh da và áp khuôn mặt sáng ngời niềm sung sướng thiên đường vào chấn song cửa sổ, mụ kêu lên:
- Con tôi! Con tôi!
- Mẹ ơi! - Cô gái Ai Cập đáp lại.
Đoạn này, tác giả xin phép miễn miêu tả thêm.
Bức tường và hàng chấn song ngăn cách hai người. Mụ tu kín kêu lên:
- Ôi bức tường này! Ôi! Nhìn thấy con mà không được ôm hôn! Đưa tay con đây! Đưa tay con đây!
Cô gái thò tay qua cửa sổ, mụ tu kín vồ lấy bàn tay, áp môi lên, rồi đứng đó, chìm đắm trong chiếc hôn, không biểu lộ sự sống nào ngoài tiếng thổn thức thỉnh thoảng lay động đôi hông. Lúc này mụ khóc, nước mắt tuôn như suối, lặng lẽ, trong bóng tối, như trận mưa đêm. Người mẹ khốn khổ dốc đầm đìa lên bàn tay yêu quý cả một giếng đen ngòm và sâu thẳm nước mắt có sẵn trong người, mà từ mười lăm năm nay bao nhiêu đau khổ đã từng giọt từng giọt ngấm đọng lại.
Đột nhiên, mụ đứng thẳng người, rẽ mớ tóc dài điểm bạc xõa trên trán, rồi không nói một lời, dùng hai tay lay mạnh chấn song gian buồng còn hung hăng hơn sư tử cái. Chấn song vẫn không suy suyển. Mụ liền lại góc phòng bê tảng đá lớn vẫn dùng làm gối, rồi lao vào chấn song rất mạnh khiến một thanh sắt tóe lửa gẫy đôi. Lượt ném thứ hai làm chiếc thập tự cũ bằng sắt chắn ngang khung cửa văng hẳn ra. Mụ lại đưa hai tay bẻ nốt và nới rộng các mẩu chấn song gãy han gỉ. Có đôi lúc bàn tay đàn bà cũng mạnh mẽ phi thường.
Chưa đầy một phút, lối vào đã mở ra, mụ liền ôm ngang lưng con gái kéo vào phòng:
- Vào đây! Để mẹ vớt con lên khỏi vực thẳm! - Mụ nói lẩm bẩm.
Khi cô đã ở trong phòng, mụ liền nhẹ nhàng đặt xuống đất, rồi lại ôm lấy và bế trong tay như vẫn còn là con Agnès bé bỏng, mụ đi lại trong phòng chật hẹp, say sưa, điên dại, vui sướng, gào thét, ca hát, hôn con gái, nói chuyện với nó, hết cười vang, lại òa khóc, tất cả cùng một lúc và thật hăng say. Mụ nói:
- Con tôi! Con tôi? Con tôi đây, chính nó đây rồi! Chúa ơn phước đã trả lại nó cho tôi. Này các người! Lại cả đây mà xem! Có ai ở đó mà xem tôi đang có con đây này! Lạy Chúa Jésus. Con tôi xinh đẹp quá! Hỡi Chúa ơn phước, Chúa bắt con chờ đợi nó mười lăm năm trời, nhưng cốt để nó trở nên xinh đẹp vì con. - Các mụ Ai Cập hóa ra không ăn thịt nó! Ai nói vậy thế không biết? Con gái bé bỏng của mẹ! Con gái bé bỏng của mẹ! Hôn mẹ đi! Các mụ Ai Cập tốt bụng! Mẹ quý họ. - Đúng con đây rồi. Thế ra vì vậy mà tim mẹ nhảy nhót mỗi lần con đi qua. Mẹ cứ tưởng đó là do thù hận! Hãy tha thứ cho mẹ, Agnès của mẹ, tha thứ cho mẹ. Chắc con thấy mẹ độc ác lắm phải không? Mẹ yêu con. - Cái vệt nhỏ trên cổ con, vẫn còn đấy chứ? Để mẹ xem nào. Vẫn còn. Ôi! Con đẹp quá! Chính ta đã tạo ra cặp mắt to của con đó, tiểu thư ạ. Hôn mẹ đi, mẹ yêu con. Cứ mặc kệ cho mọi bà mẹ khác có con, bây giờ ta bất chấp bọn họ. Họ cứ việc tới đây. Con gái ta đây. Cổ nó, mắt nó, tóc nó, tay nó đây này. Đố mà tìm được cái gì đẹp hơn. Ồ! Ta cam đoan với các người, sẽ khối kẻ mê nó, mê con bé này! Ta đã khóc suốt mười lăm năm. Tất cả nhan sắc ta bỏ ra đi, còn con ta đã trở lại. Hôn mẹ đi!
Mụ còn nói với con ngàn lời lạ lùng, mà giọng nói tạo nên tất cả vẻ đẹp, vén xiêm áo con gái khiến cô phải đỏ mặt, đưa tay vuốt mái tóc như tơ, hôn bàn chân, đầu gối, vừng trán, cặp mắt cô, mê mẩn hết thảy. Cô gái để tùy ý mẹ, chỉ thỉnh thoảng thốt lên rất khẽ và vô cùng âu yếm:
- Mẹ ơi!
- Con thấy không, con gái của mẹ, - mụ tu kín nói, mỗi câu lại ngắt bằng cái hôn, - con thấy không, mẹ rất yêu con. Chúng ta sẽ đi khỏi đây. Chúng ta sẽ rất sung sướng. Mẹ được thừa hưởng chút ít ở Reims, tại quê nhà. Con biết Reims chứ? Ồ không! Con không biết được, hồi đó con còn bé quá! Con có biết lúc mới bốn tháng, con xinh lắm không. Đôi chân xinh xắn khiến có kẻ tò mò đi từ Épernay cách đó bảy dặm, để tới xem! Chúng ta sẽ có một thửa ruộng, một căn nhà. Mẹ sẽ để con ngủ cùng giường với mẹ. Lạy Chúa! Lạy Chúa! Ai ngờ lại được như thế này? Tôi tìm thấy con tôi rồi.
- Mẹ ơi! - Cô gái nói, cuối cùng đã lấy lại nghị lực để cất lời giữa cơn xúc động, - bà Ai Cập nói cho con biết trước như thế này. Có một bà Ai Cập hiền từ của bọn con, vừa chết năm ngoái, vẫn luôn chăm sóc con như vú nuôi. Chính bà ấy đeo cái túi này vào cổ con. Bà ấy vẫn thường bảo: - Con ơi, hãy giữ kỹ đồ trang sức này. Của quý đấy. Nó sẽ giúp con tìm lại được mẹ. Con đeo mẹ con trên cổ đấy. - Bà Ai Cập tiên đoán đúng!
Mụ tu dòng Túi lại ghì chặt cô con trong vòng tay.
- Lại đây, cho mẹ hôn con! Con nói chuyện dễ thương quá. Khi nào về đến quê, mẹ con ta sẽ cúng dâng đôi giày xinh xắn để xỏ chân cho Chúa hài đồng trong nhà thờ. Ta phải tạ ơn Đức mẹ đồng trinh ơn phước. Trời ơi! Giọng con sao hay thế! Nghe con nói lúc vừa rồi, cứ như tiếng nhạc! Ôi! Lạy Chúa tối cao! Tôi đã tìm được con gái tôi! Thật chuyện không thể ngờ! Không ai bỗng dưng lại chết, vì tôi chưa chết vì vui sướng.
Rồi mụ lại vỗ tay, cười và kêu lên:
- Mẹ con ta sẽ sung sướng!
Giữa lúc đó, căn phòng ầm vang tiếng khí giới loảng xoảng và tiếng ngựa phi, hình như từ cầu Đức Bà phóng tới và mỗi lúc tiến gần trên đường bờ sông. Cô gái Ai Cập hốt hoảng gieo người vào cánh tay mụ tu dòng Túi:
- Cứu con với! Cứu con với! Mẹ ơi! Chúng nó đang tới kia kìa!
Mụ tu kín tái mặt:
- Trời ơi! Con nói gì vậy? Ta quên mất! Họ đang truy nã con! Thế con đã làm gì nên tội?
- Con cũng không biết nữa, - cô bé khốn khổ đáp, - nhưng con bị xử tử hình.
- Tử hình! - Mụ Gudule nói, loạng choạng như bị sét đánh. - Tử hình! - Mụ từ từ nhắc lại và chằm chằm nhìn con gái.
- Vâng, mẹ ơi, - cô gái cuống cuồng nói, - họ muốn giết con. Chúng tới bắt con đó! Giá treo cổ kia dành cho con! Cứu con với! Cứu con với! Chúng tới đấy! Cứu con với!
Mụ tu kín đứng lặng hồi lâu như hóa đá, rồi lắc đầu ra vẻ nghi ngờ và đột nhiên phá ra cười, nhưng là tiếng cười ghê rợn nay trở lại:
- Hô! Hô! Không! Con nói mê sảng đấy thôi. À mà phải! Ta đã mất nó, như vậy suốt mười lăm năm, rồi ta lại tìm thấy nó, và như vậy chỉ trong một phút. Rồi họ lại bắt mất nó của ta! Và bây giờ lúc nó đang đẹp, đang lớn, nó trò chuyện với ta, nó yêu ta, đúng bây giờ là lúc họ tới ăn thịt con ta, ngay trước mắt ta, mẹ của nó! Ồ không! Chuyện đó không thể được. Chúa ơn phước không cho phép làm như vậy.
Tới đây, tiếng chân ngựa như dừng lại, có tiếng ai nói từ xa:
- Bẩm ngài Tristan, ở đây kia ạ! Linh mục bảo ta sẽ thấy nó ở Hang chuột.
Tiếng chân ngựa lại vang lên.
Mụ tu kín đứng thẳng dậy, thét lên thất vọng:
- Trốn đi! Trốn đi, con ơi! Mẹ hiểu ra rồi. Con nói đúng đấy. Con chết mất! Khủng khiếp! Tai họa! Trốn đi con.
Mụ thò đầu qua cửa sổ rồi thụt ngay lại.
- Hãy ở lại, - mụ khẽ nói, giọng cụt lủn và thê thảm, run rẩy nắm chặt bàn tay của cô con gái chín vía còn ba! - Ở lại đây! Hãy nín thở! Ngoài kia nhan nhản lính tráng. Con không ra thoát được đâu. Trời sáng rõ rồi.
Mắt mụ ráo hoảnh và đỏ ngầu. Mụ nín lặng một lát. Mụ rảo bước quanh phòng và thỉnh thoảng dừng lại để bứt từng nắm tóc điểm bạc rồi nghiến răng cắn đứt.
Bỗng mụ nói:
- Chúng đang lại gần. Mẹ sẽ nói chuyện với họ. Con trốn ngay vào góc kia. Chúng không nhìn thấy đâu. Mẹ sẽ bảo họ con chạy trốn rồi, mẹ thả con ra, đúng thế!
Mụ vẫn bế con gái trong tay nên vội đặt cô vào góc phòng, bên ngoài không trông thấy. Mụ đặt con gái ngồi xổm, sắp xếp cẩn thận để cả chân lẫn tay không lộ ra ngoài bóng tối, gỡ mái tóc đen phủ lên áo trắng để che giấu, đặt trước mặt cô cái hũ và phiến đá, các đồ đạc duy nhất mụ có, nghĩ rằng cái hũ và phiến đá che khuất cô gái. Sắp xếp xong xuôi, bình tĩnh hơn, mụ liền quỳ xuống và cầu nguyện. Buổi sớm mai vừa hé rạng còn để lại nhiều bóng tối trong Hang chuột.
Ngay lúc đó, tiếng linh mục, tiếng nói địa ngục, cất lên ngay cạnh căn phòng:
- Ở đây kia mà, đại úy Phoebus de Châteauper!
Nghe đến cái tên, nghe giọng nói đó, Esmeralda núp trong xó, bèn cựa quậy. Mụ Gudule bảo:
- Đừng động đậy!
Mụ vừa dứt lời, một đám đông người ngựa, gươm giáo đã dừng lại quanh phòng. Người mẹ vội đứng dậy và tới chắn ngay trước cửa sổ che lấp. Mụ thấy một toán lớn lính tráng mang vũ khí, cả đi bộ lẫn đi ngựa, dàn ra trên quảng trường Grève. Người chỉ huy xuống ngựa và bước lại phía mụ.
- Mụ già, - người có khuôn mặt hung ác đó nói, bọn ta tìm bắt con phù thủy để treo cổ: có người mách mụ giữ nó.
Người mẹ tội nghiệp cố ra vẻ thản nhiên, đáp:
- Tôi chẳng hiểu ý ông định nói gì.
Người kia lại nói:
- Mẹ kiếp! Cái lão phó chủ giáo hớt ha hớt hải đó nói gì lạ vậy! Lão ta đâu rồi?
- Bẩm đức ông, ông ấy đi mất rồi, - một tên lính thưa.
- Này, mụ già điên kia, - viên chỉ huy lại hỏi, - đừng nói dối đấy nhé. Họ giao cho mụ giữ con phù thủy. Mụ làm gì nó rồi?
Mụ tu kín không muốn chối hết, sợ gây nghi ngờ, nên trả lời bằng giọng thành thật và càu nhàu:
- Nếu ông định nói đứa con gái to lớn lúc nãy họ giúi vào tay tôi, thì xin thưa nó đã cắn tôi nên tôi phải thả nó ra. Thế thôi, xin ông để tôi yên.
Viên chỉ huy cau mặt chán ngán, lại nói:
- Đừng nói dối ta đấy, hỡi con mụ già. Ta là Tristan l’Hermite và bạn của đức vua. Tristan l’Hermite, mụ nghe ra chưa?
Ông ta nhìn quanh quảng trường Grève, nói thêm:
- Đó là một cái tên có tiếng vang ở đây.
Mụ Gudule đã hơi hy vọng đáp:
- Ông có là Satan l’Hermite đi nữa, tôi cũng chẳng biết nói gì hơn, mà cũng chẳng sợ ông đâu.
- Mẹ kiếp! - Tristan nói, - con mụ thật lắm mồm! Chà thế là con bé phù thủy trốn mất rồi! Thế nó trốn theo ngã nào?
Mụ Gudule hờ hững đáp:
- Hình như phía phố Hàng cừu thì phải.
Tristan quay đầu và ra hiệu cho đoàn quân chuẩn bị lại lên đường. Mụ tu kín thở phào. Bỗng một tên cung thủ nói:
- Bẩm đức ông, xin ngài hỏi mụ già lẩm cẩm lại xem tại sao chấn song cửa sổ lại gãy tan thế kia.
Câu hỏi làm nỗi sợ trở lại trái tim người mẹ khốn khổ. Tuy nhiên mụ vẫn chưa hết nhanh trí, lắp bắp nói:
- Xưa nay nó vẫn thế.
- Hừ! - Tên cung thủ nói, - mới hôm qua nó còn là cây thập tự đen thật đẹp, ai thấy cũng phải ngưỡng mộ.
Tristan liếc nhìn mụ tu kín.
- Xem ra con mụ có vẻ lúng túng!
Mụ già bất hạnh cảm thấy tất cả tùy thuộc vào sự bình tĩnh của mình nên lòng dạ đang chết lịm mà vẫn phải cười cợt. Các bà mẹ vốn có sức mạnh này. Mụ bảo:
- Chà, cái lão này say rồi. Từ hơn một năm nay, đuôi chiếc xe ngựa chở đá đâm vào cửa sổ và làm đổ cả chấn song. Thậm chí tôi còn chửi gã đánh xe!
- Đúng thế, bữa đó tôi cũng ở đây, - một người khác nói.
Ở đâu chẳng luôn có người cái gì cũng biết. Lời làm chứng bất ngờ của gã cung thủ làm mụ tu kín hoàn hồn, câu lục vấn làm mụ như đi trên lưỡi dao để vượt qua ngục thẳm.
Nhưng mụ vẫn bị dồn vào cảnh nối tiếp liên tục cả hy vọng lẫn hoảng sợ.
- Nếu xe ngựa đâm phải, - tên lính hầu đầu tiên nói, - các khúc chấn song phải bẻ quặt vào trong, chứ đâu lại uốn cong ra ngoài.
- Ờ! Ờ! - Tristan bảo tên lính, - mày thính mũi như điều tra viên ở tòa Châtelet. Mụ già, hãy trả lời câu nói đó đi.
- Trời ơi! - Mụ thốt lên, bị dồn đến cùng đường và giọng nói cố nén nhưng vẫn nghẹn ngào nước mắt, - bẩm đức ông, tôi xin thề đúng là chiếc xe ngựa làm gãy chấn song. Ngài vừa nghe thấy anh này nói đã nhìn thấy như vậy. Vả lại, chuyện này có dính dáng gì đến con bé Ai Cập đâu!
- Hừ! - Tristan càu nhàu nói.
- Lạ quá! - Chú lính thích thú trước lời khen của quan chưởng quán hiến binh, nói tiếp, - các vết sắt hãy còn mới nguyên.
Tristan gật đầu. Người mẹ tái mặt.
- Mụ bảo chiếc xe đâm được bao lâu rồi?
- Bẩm đức ông, một tháng, có khi mười lăm ngày. Tôi cũng chẳng còn nhớ nữa.
- Lúc đầu, mụ bảo hơn một năm, - tên lính nhận xét.
- Có chuyện mờ ám đây! - Viên chưởng quản nói.
- Bẩm đức ông, - mụ kêu lên, vẫn dán chặt vào khung cửa và lo sợ sự nghi hoặc có thể khiến họ thò đầu nhìn vào bên trong phòng, - bẩm đức ông, tôi xin thề chính chiếc xe làm gãy chấn song. Nhân danh các thiên thần thánh thiện trên thiên đường, tôi xin thề như vậy. Nếu không phải chiếc xe ngựa, tôi xin nguyện đời đời bị đày đọa và xin khước từ cả Chúa!
- Mụ thề thốt sao mà hăng hái làm vậy! - Tristan nói, liếc nhìn soi mói.
Người đàn bà tội nghiệp thấy mỗi lúc một mất bình tĩnh. Do đó đã xử sự vụng về và kinh hãi hiểu mình không nói những điều cần nói.
Tới đây, một tên lính khác chạy tới, kêu lên:
- Bẩm đức ông, mụ già lẩm cẩm nói dối. Con phù thủy không chạy trốn theo phố Hàng cừu. Dây xích chắn đường vẫn giăng suốt đêm và người gác xích không thấy ai đi qua.
Khuôn mặt Tristan mỗi lúc một u ám, y hỏi mụ tu kín:
- Mụ nói sao về chuyện đó?
Mụ vẫn gắng đương đầu với biến cố mới:
- Bẩm đức ông, nào tôi biết đâu mình cũng có thể nhầm. Tôi nghĩ có thể nó sang bên kia sông.
- Phía đó ngược chiều, - viên chưởng quản nói. Vả lại chẳng dại gì nó quay về Khu thành cũ, nơi họ đang truy nã. Mụ già, mụ nói láo!
- Hơn nữa, - tên lính đầu tiên nói, - cả bờ bên này và bờ bên kia đều không có thuyền.
- Nó có thể bơi sang, - mụ tu kín cãi, chống đỡ từng bước đến cùng.
- Đàn bà cũng bơi được ư? - Tên lính hỏi.
- Mẹ kiếp! Mụ già! Mụ già nói láo! Nói láo! - Tristan nổi giận quát. - Tao rất muốn bỏ mặc con phù thủy để bắt mày trước. Có lẽ chỉ một khắc tra hỏi là lôi được sự thật ở cổ họng mụ ra thôi! Hãy đi theo ta.
Mụ sốt sắng tóm ngay lấy câu nói:
- Bẩm đức ông, xin tùy ngài. Cứ việc thi hành, thi hành ngay đi. Tra hỏi ư, tôi rất sẵn sàng. Cứ dẫn tôi đi. Nhanh lên, nhanh lên! Ta đi ngay lập tức. - Trong lúc đó, - mụ thầm nghĩ, - con gái ta sẽ trốn thoát.
- Đồ chết tiệt! - Viên chưởng quản nói, - sao thèm khát ăn đòn thế! Tao không còn hiểu con mụ điên này ra sao.
Một gã tuần cảnh già, tóc hoa râm, ra khỏi hàng bảo viên chưởng quản:
- Bẩm đức ông, quả thật mụ ấy điên! Nếu mụ thả con bé Ai Cập, thì không phải lỗi ở mụ, vì mụ chẳng ưa gì bọn Ai Cập. Đã mười lăm năm nay, tôi làm lính tuần cảnh, nên tối nào cũng nghe thấy mụ nguyền rủa không ngớt lời bọn đàn bà Bohémienne. Nếu người mà ta đuổi bắt, theo như tôi hiểu, là con múa rong có con dê thì mụ này lại thù ghét nó nhất.
Gudule cố nói thêm:
- Thù ghét nó nhất.
Lời làm chứng đồng thanh của bọn tuần cảnh xác nhận lời nói của gã cảnh binh già với chưởng quản. Tristan l’Hermite thất vọng vì không moi được gì ở mụ tu kín, bèn quay lưng lại và mụ vô cùng lo ngại nhìn y thong dong bước về phía con ngựa. Y lẩm bẩm nói:
- Thôi, lên đường! Lại tiếp tục điều tra. Cái con Ai Cập còn chưa bị treo cổ thì tao chưa thể ngủ yên.
Tuy nhiên, y vẫn còn lưỡng lự giây lát trước khi lên ngựa. Gudule hồi hộp giữa sống và chết, khi nhìn thấy y dạo quanh quảng trưởng với bộ mặt đăm chiêu của con chó săn đánh hơi thấy hang ổ con mồi gần đâu đây và không chịu bỏ đi. Cuối cùng, y lắc đầu và nhảy lên yên. Trái tim se thắt ghê gớm của Gudule nở ra và mụ liếc nhìn con gái, mà từ lúc có bọn lính, mụ không hề dám ngó tới, và khẽ nói:
- Thoát nạn.
Suốt thời gian này, cô bé khốn khổ vẫn núp trong xó, không dám thở, không dám cựa quậy, nghĩ về cái chết đang sừng sững trước mặt. Cô không bỏ sót tí gì về cảnh tượng giữa Gudule cùng Tristan, và mỗi sự hãi hùng của mẹ đều dội sang cô. Cô nghe mọi rạn nứt liên tiếp của sợi dây treo cổ lơ lửng trên vực thẳm, hàng dăm chục lần cô tưởng nhìn thấy nó đứt phựt, rồi cuối cùng, bây giờ cô mới bắt đầu được thở và cảm thấy hai chân đứng vững trên mặt đất. Lúc đó, cô nghe thấy một giọng nói với viên chưởng quản.
- Dấm dớ! Thưa ngài chưởng quản, công việc của quân nhân chúng tôi không phải là đi treo cổ bọn phù thủy. Lũ dân chúng đốn mạt thoát lui rồi. Thôi, tôi mặc ông lo liệu một mình. Chắc ông cũng đồng ý tôi phải quay về với đội quân của mình, vì hiện nay nó không có ai chỉ huy.
Giọng nói đó của Phoebus de Châteauper. Thật khó tả nổi tâm trạng cô gái lúc này. Chàng đang đứng đó, người bạn tình, người che chở, nguồn nương tựa, nơi trú ẩn, chàng Phoebus của cô! Cô đứng dậy và trước khi người mẹ kịp ngăn lại, cô đã lao ra cửa sổ gào lên:
- Phoebus! Phoebus của em, cứu em với!
Phoebus không còn ở đó. Chàng vừa phi ngựa ngoặt sang góc phố Hàng dao. Nhưng Tristan chưa đi.
Mụ tu kín gầm lên nhảy xổ vào đứa con. Mụ giật mạnh cô về phía sau, móng tay bấm sâu vào cổ. Con hổ mẹ cũng giữ con hăng đến như vậy. Nhưng quá muộn, Tristan nhìn thấy.
- He! He! - Y cười to, lộ hai hàm răng khiến cái miệng giống hệt mõm sói, - hai con chuột trong cái bẫy chuột!
- Tôi vẫn nghi như vậy mà, - tên lính nói.
Tristan vỗ vai hắn:
- Mày là con mèo tốt! Này, - y hỏi thêm, - Henriet Cousin đâu rồi.
Một người bước ra khỏi hàng, cả quần áo lẫn mặt mũi đều không có vẻ gì là lính. Hắn mặc bộ quần áo nửa xám nửa nâu, tóc chải bẹt, tay áo bằng da, bàn tay to cầm cuộn thừng. Người này luôn đi theo Tristan còn Tristan luôn đi theo vua Louis XI.
- Này bạn, - Tristan l’Hermite nói, - ta phỏng chừng con phù thủy ta đang lùng bắt ở kia rồi. Anh hãy treo cổ nó cho ta. Có mang theo thang không?
- Đã có một cái đằng kia, dưới gian chứa xe Nhà cột, - hắn đáp. - Có phải ta sẽ thi hành trên pháp trường kia không? - Hắn hỏi, chỉ đài treo cổ bằng đá.
- Phải.
- Ô hô! - Hắn cười to, còn thú vật hơn cả tiếng cười của viên chưởng quản, - tiện đường quá đi mất.
- Nhanh lên! - Tristan nói. - Sau đó rồi hãy cười.
Trong khi đó, từ lúc Tristan nhìn thấy con gái và mọi hy vọng đều tiêu tan, mụ tu kín vẫn chưa nói nửa lời. Mụ đẩy ngã cô gái Ai Cập gần bất tỉnh vào góc phòng, rồi đứng chắn ở cửa sổ, hai tay bấu vào góc khung cửa như đôi móng vuốt. Trong tư thế này, mụ ngang nhiên nhìn khắp lượt bọn lính, con mắt trở lại hung dữ và điên dại. Khi Henriet Cousin lại gần phòng, mụ nhìn bằng vẻ mặt man rợ khiến hắn phải lùi lại:
- Bẩm đức ông, - hắn quay về và hỏi Tristan, - phải bắt đứa nào kia ạ?
- Đứa con gái.
- Càng may. Vì con mụ già xem ra khó chơi lắm.
- Tội nghiệp cô bé múa rong có con dê! - Lão tuần cảnh già thốt lên.
Henriet Cousin lại gần cửa sổ. Cách nhìn của bà mẹ làm hắn cụp mắt. Hắn rụt rè nói:
- Thưa bà...
Mụ ngắt lời, giọng rất khẽ và hung dữ:
- Mày muốn gì?
- Tôi không đụng đến bà, - hắn nói, - và chỉ cần đứa kia.
- Đứa nào?
- Đứa con gái.
Mụ lắc đầu, thét lên:
- Không có ai! Không có ai! Không có ai hết!
- Có chứ! - Tên đao phủ nói, - bà cũng thừa biết là có. Thôi để tôi bắt con bé. Tôi không muốn làm hại gì đến bà đâu.
Mụ nói, cười gằn kỳ quặc:
- A! Mày không muốn làm gì hại đến tao ư!
- Này bà, để yên cho tôi bắt nó; ý muốn của quan lớn chưởng quản đấy.
Mụ vẫn điên khùng nhắc lại:
- Không có ai hết!
- Tôi bảo với bà là có! - Tên đao phủ cãi lại. - Tất cả chúng tôi đều trông thấy có hai người.
- Thử nhìn lại xem! - Mụ tu kín cười gằn nói. - Thò đầu qua cửa sổ đi.
Tên đao phủ ngắm móng tay bà mẹ và không dám.
- Nhanh lên! - Tristan quát, vừa dàn xong quân bao vây quanh Hang chuột vừa cưỡi ngựa đứng cạnh đài treo cổ.
Henriet Cousin lại quay về gặp viên chưởng quản lần nữa, hết sức lúng túng. Hắn vứt cuộn thừng xuống đất, vụng về mân mê mũ trong tay hỏi:
- Bẩm đức ông, vào bằng ngả nào bây giờ?
- Đằng cửa ra vào.
- Bẩm không có ạ.
- Đằng cửa sổ vậy.
- Nhưng nó hẹp quá.
- Thì phá rộng ra, - Tristan điên tiết nói. - Nhà ngươi không có cuốc hay sao?
Từ trong hang người mẹ vẫn đứng sững, quan sát. Mụ hết hy vọng, không còn biết mình muốn gì, nhưng chỉ không muốn họ bắt con gái.
Henriet Cousin đi lấy hòm dụng cụ của phu chôn cất để ở gian chứa xe Nhà cột. Hắn cũng lôi ra cây thang xếp, lập tức đem tới dựng cạnh đài treo cổ. Năm sáu hiến binh cầm cuốc chim và đòn bẩy, rồi Tristan cùng đi với họ tới cửa sổ. Viên chưởng quản nghiêm giọng nói:
- Mụ già, hãy vui lòng trao con bé cho ta.
Mụ nhìn y như không hiểu gì cả.
- Mẹ kiếp! - Tristan nói, - tại sao mụ lại ngăn cản việc treo cổ con phù thủy theo ý muốn nhà vua?
Mụ già khốn khổ lại cười lên dữ tợn:
- Tại sao ư? Vì nó là con ta.
Giọng điệu mụ nói câu này khiến ngay cả Henriet Cousin cũng phải rùng mình.
- Thật đáng tiếc, - viên chưởng quản nói. - Nhưng đây là ý muốn nhà vua.
Mụ thét lên, càng cười hung dữ hơn:
- Ta cần gì đến thứ vua chúa của nhà ngươi? Ta đã bảo đây là con ta.
- Phá tường, - Tristan nói.
Muốn mở lối vào đủ rộng, chỉ cần phá hàng đá xây dưới cửa sổ. Khi người mẹ nghe tiếng cuốc và đòn bẩy phá thành trì của mình, mụ thét lên ghê rợn, rồi thoăn thoắt chạy lồng như điên quanh phòng, theo thói quen của thú dữ nhốt trong chuồng tạo ra cho mụ. Mụ không nói gì nữa nhưng hai mắt đỏ ngầu. Bọn lính lạnh ớn tận đáy lòng.
Đột nhiên mụ vớ lấy đá, cười sằng sặc dùng cả hai tay ném vào bọn người đang làm. Vì run tay, phiến đá ném chệch không trúng ai và lăn tới chân ngựa Tristan. Mụ nghiến răng kèn kẹt.
Lúc này, tuy mặt trời chưa mọc, bên ngoài cửa đã sáng rõ, màu hồng đẹp đẽ, tươi vui nhuộm các ống khói lò sưởi cũ kỹ, ruỗng mọt của Nhà cột. Giờ phút này, các cửa sổ thức dậy sớm nhất của đô thành lớn đang vui vẻ mở toang trên nóc nhà. Mấy người dân quê, dăm kẻ bán hoa quả cưỡi lừa đi chợ, bắt đầu đi ngang qua quảng trường Grève, họ dừng lại giây lát trước đám lính tụ tập quanh Hang chuột, ngạc nhiên nhìn chúng rồi đi thẳng.
Mụ tu kín tới ngồi cạnh con gái, lấy thân mình che chở, chắn ngang trước mặt, mắt ngó đăm đăm, lắng nghe cô bé tội nghiệp không còn cựa quậy, chỉ khẽ thầm thì độc một câu: “Phoebus! Phoebus!” Công việc phá cửa càng tiến thêm, bà mẹ bất giác càng lùi lại và đẩy mãi cô gái sát tường. Bỗng mụ tu kín nhìn thấy tảng đá rung chuyển (vì mụ vẫn canh chừng và không rời mắt khỏi đó) và nghe tiếng Tristan đang đốc thúc mọi người làm việc. Thế là mụ tỉnh cơn suy sụp kéo dài từ nãy đến giờ, rồi thét lên, giọng nói khi điếc tai như tiếng cưa, lúc lúng búng như mọi lời nguyền rủa đều tụ lại trên môi để bung ra một lượt:
- Hô! Hô! Hô! Thật ghê tởm! Các người đều là kẻ cướp! Có thật các người định bắt con ta không? Ta đã bảo nó là con ta! Ôi! Lũ hèn nhát! Ôi! Lũ đao phủ tôi tớ! Lũ sát nhân đê tiện khốn nạn! Cứu tôi với! Cứu tôi với! Cháy! Chẳng lẽ chúng cướp trắng con ta như vậy sao? Thế này còn gọi là có Chúa ơn phước gì nữa?
Rồi quay sang nói với Tristan, mụ sùi bọt mép, con mắt ngơ ngác, bò bốn cẳng như con báo, vẻ hung dữ:
- Thử lại gần đây mà bắt con ta đi! Hóa ra mày không hiểu mụ đàn bà này đã nói đây là con gái mụ? Mày có hiểu thế nào là đứa con đẻ đứt ruột không? Này! Con sói rừng, mày có bao giờ chung sống với con sói cái của mày không? Có bao giờ mày có sói con không? Và nếu mày có con, khi chúng gào lên, chẳng lẽ trong bụng mày không thấy gì nôn nao hay sao?
- Hạ phiến đá xuống, - Tristan nói, - nó long ra rồi.
Đòn bẩy nậy bật bệ đá nặng rời ra. Như đã nói, đây là thành lũy cuối cùng của người mẹ. Mụ nằm lăn lên trên, định giữ lấy, đưa móng tay cào cấu tảng đá, nhưng cả khối nặng chuyển động bởi sáu người đàn ông rời khỏi tay mụ và từ từ tuột theo gióng sắt đòn bẩy rơi xuống đất.
Thấy lối vào đã mở, người mẹ nằm lăn ra chắn ngang khung cửa, lấy thân mình lấp cửa mở, vặn cánh tay, đập đầu xuống sàn đá lát và gào lên bằng giọng khàn khàn mệt mỏi nghe không rõ:
- Cứu tôi với! Cháy! Cháy!
- Bây giờ bắt con bé đi, - Tristan vẫn lạnh lùng nói.
Người mẹ nhìn bọn lính bằng con mắt quá ghê gớm, khiến chúng muốn lùi lại hơn xông lên.
- Nào nhanh lên, - viên chưởng quản giục. - Henriet Cousin, vào đi!
Không ai tiến một bước.
Viên chưởng quản chửi đổng:
- Mẹ kiếp! Thế mà cũng gọi là binh sĩ! Đi sợ con đàn bà!
- Bẩm đức ông, - Henriet cãi, - ngài gọi thế này là con đàn bà ư?
- Nó có cái bờm sư tử! - Tên khác nói.
- Nào nhanh lên! - Viên chưởng quản đốc thúc, cửa mở cũng khá rộng. - Hãy dàn hàng ba cùng tiến vào, như lần mở đột phá khẩu ở Pontoise. Đồ chết giẫm, kết thúc đi chứ! Thằng nào lùi lại, tao chém đứt đôi!
Bị kẹp giữa viên chưởng quản và bà mẹ, cả hai cùng đe dọa, bọn lính do dự một lát đành phải quyết tâm, tiến tới Hang chuột.
Khi nhìn thấy thế, mụ tu kín quỳ phắt dậy, vén tóc khỏi xõa xuống mặt, rồi buông hai tay gầy guộc và sứt sẹo đặt lên đùi. Thế rồi đôi mắt tuôn chảy từng giọt từng giọt lớn nước mắt, chúng lần theo vết nhăn dọc má như dòng nước chảy theo dòng suối đã đào. Đồng thời mụ cất tiếng nói bằng giọng hết sức van xin, hiền dịu, cam chịu và xót xa đến nỗi chung quanh Tristan nhiều tên hiến binh già từng ăn thịt người không tanh cũng phải lau nước mắt.
- Bẩm đức ông! Thưa các ngài cảnh binh, cho tôi nói một lời! Câu chuyện này, tôi nhất thiết phải kể với các ông. Nó là con tôi, các ông thấy đó, đứa con gái nhỏ thân yêu tôi đã thất lạc! Xin nghe tôi kể. Đây là một sự tích. Các ông có biết, tôi vốn quen thân các ngài cảnh binh. Họ luôn luôn tốt với tôi, ngay từ thời lũ trẻ con cứ đuổi theo tôi ném đá, chỉ vì tôi sống nghề đĩ điếm. Phải không, khi đã rõ câu chuyện, các ông sẽ tha cho tôi! Tôi vốn là gái giang hồ nghèo khổ. Chính các mụ Bohémienne đã ăn cắp con tôi. Nhưng tôi vẫn giữ được chiếc giày của nó qua mười lăm năm. Đây, các ông xem. Chân nó xinh như thế này. Tại Reims! Cô La Chantefleurie, phố Folle-Peine! Có khi các ông cũng từng biết cô ta. Tôi đấy. Vào thời các ông còn trai trẻ, hồi đó thời buổi thật đẹp đẽ. Mọi người sống vui vẻ. Thưa quý vị đức ông, các ngài sẽ thương tôi, phải không? Các mụ Ai Cập đã đánh cắp con tôi, giấu nó suốt mười lăm năm trời. Tôi tưởng nó chết rồi. Các bạn thân quý, hãy hình dung là tôi tưởng nó chết rồi. Tôi ở đây mười lăm năm, trong hầm này, mùa đông không lò sưởi, sống như vậy, thật khổ cực. Chiếc giày quý báu xinh xắn tội nghiệp! Tôi kêu van mãi khiến Chúa đầy ơn phước cũng nghe thấu. Đêm qua, Chúa đã trả lại con cho tôi. Phép lạ của Chúa lòng lành. Con tôi chưa chết. Tôi tin chắc các ông sẽ không bắt mất nó của tôi. Giá như bắt tôi thì chẳng nói làm gì, nhưng nó, một con bé mới mười sáu tuổi đầu! Hãy để nó có thời gian ngắm nhìn mặt trời! - Nó làm gì nên tội! Chẳng làm gì hết. Cả tôi cũng vậy. Xin các ông hiểu cho, tôi chỉ có mình nó, tôi già rồi, đây là ơn phước của Đức mẹ đồng trinh ban cho tôi. Vả lại, tất cả các ông đều rất tốt bụng! Trước đây, các ông không biết nó là con tôi, bây giờ thì biết rồi. Ôi! Tôi thương con tôi! Bẩm quan lớn chưởng quản, thà tôi bị thủng ruột còn hơn nó bị xước tay! Chính ngài là người có vẻ quyền cao đức độ! Có đúng điều tôi vừa nói đã làm rõ vấn đề với ngài? Ôi! Bẩm đức ông, nếu ngài từng có một bà mẹ! Ngài là người chỉ huy, xin ngài hãy tha cho con tôi! Tôi quỳ gối cầu xin ngài như cầu xin đức Chúa Jésus cứu thế! Thưa các ngài, tôi không xin xỏ thêm bất cứ ai điều gì, tôi quê ở Reims, tôi có thửa ruộng nhỏ của ông chú Mahiet Pradon để lại. Tôi không phải đứa ăn mày. Tôi không muốn gì hết, tôi chỉ muốn có con tôi! Ôi! Tôi muốn giữ lấy con tôi! Chúa ơn phước, vốn là Đấng chúa tể không phải vô cớ trả lại con cho tôi! Đức vua! Ngài bảo là đức vua! Nhưng đức vua đâu thích thú gì nếu họ giết đứa con nhỏ của tôi? Vả lại đức vua vốn hiền! Nó là con tôi! Con gái của tôi! Nó không phải là của nhà vua! Không phải của các ông! Tôi muốn đi khỏi đây! Mẹ con tôi muốn đi khỏi đây! Tóm lại, hai người đàn bà qua đường, một người là mẹ, người kia là con, cứ để họ đi qua! Hãy để mẹ con tôi ra đi! Chúng tôi ở Reims. Ôi! Các ngài cảnh binh, các ngài tốt lắm, tôi quý mến tất cả các ngài. Các ngài sẽ không bắt đứa con thân yêu của tôi. Không thể được! Có phải hoàn toàn không thể được phải không? Con tôi! Con tôi!
Tác giả không có ý định miêu tả cử chỉ, giọng nói, dòng lệ nuốt vào lúc nói năng, hai bàn tay chắp lại rồi uốn vặn, nụ cười thảm hại, cái nhìn chìm đắm, tiếng rên la, tiếng thở dài, tiếng thét khốn khổ và não lòng xen lẫn lời nói lộn xộn, điên dại và đứt quãng của mụ. Khi mụ nói xong, Tristan l’Hermite cau mày, cốt giấu giọt lệ đang chảy trong con mắt cọp. Nhưng y vượt qua phút yếu đuối và nói cộc lốc:
- Nhà vua muốn thế!
Rồi y ghé tai Henriet Cousin, khẽ bảo:
- Làm nhanh cho xong đi!
Viên chưởng quản ghê gớm hình như cảm thấy ngay lòng mình cũng phải xao xuyến.
Tên đao phủ và bốn cảnh binh xông vào phòng. Bà mẹ không hề kháng cự, chỉ bò lê tới con gái và ôm chầm lấy. Cô gái Ai Cập thấy bọn lính lại gần, cái chết hãi hùng làm cô sực tỉnh.
- Mẹ ơi! - Cô thét gọi, giọng vô cùng thống thiết. - Mẹ ơi! Chúng nó tới! Che chở cho con!
- Ừ, con yêu dấu của mẹ, mẹ che chở cho con! - Bà mẹ đáp, giọng hết hơi, rồi ôm chặt con, hôn hít nó. Cả hai nằm dưới đất, mẹ che cho con, tạo nên cảnh tượng thật thương tâm.
Henriet Cousin nắm lấy ngang người cô gái, phía dưới đôi vai đẹp. Lúc cảm thấy bàn tay đụng vào mình, cô kêu lên: Ối! Rồi ngất xỉu. Tên đao phủ nước mắt lã chã từng giọt lớn rơi xuống cô gái, muốn bế xốc cô trên tay. Y tìm cách gỡ bà mẹ. Có thể nói bà đã khép kín vòng tay quanh lưng cô gái, nhưng không sao tách rời ra vì bà cứ níu chặt lấy con. Henriet Cousin liền kéo lê cô gái khỏi phòng, lôi theo cả bà mẹ. Hai mắt bà cũng nhắm nghiền.
Lúc này, mặt trời đã mọc và trên quảng trường, một đám khá đông dân chúng đứng xa xa nhìn hai người bị kéo lê trên mặt đường tới đài treo cổ. Vì đây là kiểu cách hành hình của chưởng quản Tristan. Y thích vẽ chuyện ngăn cấm kẻ tò mò lại gần.
Không một ai trên các cửa sổ. Chỉ thấy xa xa, trên ngọn của một trong những tháp nhà thờ Đức Bà khống chế quảng trường Grève, hai người đàn ông nổi bật bóng đen trên nền trời trong sáng ban mai, hình như họ đang dòm ngó.
Henriet Cousin dừng lại cùng với hai người bị hắn kéo lê tới chân chiếc thang định mệnh, rồi thở không ra hơi vì sự việc làm hắn quá thương tâm, hắn thòng sợi thừng quanh chiếc cổ yêu kiều của cô gái. Cô bé khốn khổ cảm thấy sợi gai khủng khiếp đụng vào da thịt. Cô mở mắt nhìn và thấy cánh tay trơ xương của đài treo cổ bằng đá, giơ ngang trên đầu. Cô liền giãy giụa và gào to thảm thiết:
- Không! Không! Tôi không muốn thế!
Bà mẹ đang vùi đầu lấp sau mớ quần áo của con không nói một lời; chỉ thấy toàn thân bà run rẩy và nghe bà hôn con tới tấp. Tên đao phủ liền lợi dụng lúc này để vội vã gỡ đôi cánh tay bà đang ghì chặt tội nhân. Vì kiệt lực hoặc tuyệt vọng, bà đành buông ra. Hắn liền vác cô gái lên vai, con người xinh đẹp gập đôi người rũ xuống thật duyên dáng cạnh đầu hắn to lớn. Rồi hắn đặt chân vào bậc thang trèo lên.
Vừa lúc đó, bà mẹ đang ngồi xổm trên mặt đường, liền mở to đôi mắt. Không một tiếng kêu, bà vùng dậy với vẻ mặt kinh khủng, rồi như thú vồ mồi, bà nhảy bổ vào cắn bàn tay gã đao phủ. Thật nhanh như tia chớp. Tên đao phủ thét lên đau đớn. Mọi người chạy tới. Khó khăn lắm mới rút được bàn tay đẫm máu giữa hàm răng bà mẹ. Bà nín lặng hoàn toàn. Họ xô bà thật mạnh và thấy đầu bà va mạnh xuống mặt đường. Họ nhấc bà lên. Bà lại gục xuống. Hóa ra bà đã chết.
Tên đao phủ vẫn không buông cô gái, leo tiếp lên thang.