Nhà Thờ Đức Bà Paris

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Vi Cái Vò Vỡ
Vi Cái Vò Vỡ

❊ ❊ ❊

Sau khi quàng chân lên cổ chạy được một lát, chẳng còn biết đâu vào đâu, húc đầu vào đủ mọi góc phố, nhảy qua mọi rãnh nước, vượt mọi ngõ hẻm, mọi phố cụt, mọi ngã ba ngã tư, tìm lối trốn chạy và lẩn thoát qua mọi ngóc ngách của phố Chợ cũ kỹ, lo sợ hoảng hốt tìm kiếm cái mà tiếng Latinh của các hiến chương gọi là tota via, cheminum et viaria*, nhà thơ của chúng ta đột nhiên dừng lại, thoạt tiên thở hổn hển, rồi như bị chẹn cổ họng bởi một lẽ loanh quanh vừa mới nảy ra trong đầu.

Tota via, cheminum et viaria: Tất cả các đường ngang, ngõ tắt và lối đi.

- Hỡi ngài Pierre Gringoire, - chàng tự nói với mình, vừa lấy ngón tay dí vào trán, - tôi thấy hình như ngài đang chạy tựa thằng rồ. Lũ nhãi ranh cũng sợ ngài không kém gì ngài sợ chúng. Thưa ngài, tôi thấy hình như ngài đã nghe thấy tiếng guốc chúng chạy về phía nam, trong khi ngài chạy về phía bắc. Vậy thì sẽ xảy ra một trong hai điều như sau: hoặc là chúng đã trốn chạy; nếu thế chính là cái giường êm ấm mà ngài chạy đi tìm suốt từ sáng tới giờ, và chính Đức mẹ đồng trinh đã màu nhiệm gửi tới để thưởng cho ngài về vở thánh kịch viết dâng Người, có kèm theo cả điệu ngợi ca lẫn vũ khúc; hoặc là lũ trẻ không chạy đi, và trong trường hợp đó, chúng đã châm bùi nhùi vào tấm đệm, như vậy đúng là ngọn lửa tuyệt diệu mà ngài đang cần để thụ hưởng, hong khô và sưởi ấm. Cả hai trường hợp, lửa ấm hoặc giường êm, tấm đệm đó đều là quà tặng của trời. Đấng tối linh Đức mẹ đồng trinh ở đầu phố Mauconseil, có lẽ bắt Eustache Moubon phải chết cũng chỉ vì việc đó; thế mà ngài lại điên rồ chạy trốn trước gã dân Pháp, bỏ lại đằng sau cái mà ngài đang tìm kiếm ở đằng trước, ngài đúng là một thằng ngốc!

Thế là chàng bèn quay lại, vừa ngó nghênh sục sạo, mũi hếch lên ngửi hít, tai vểnh ra nghe ngóng, cố tìm lại chiếc đệm phúc đức. Nhưng toi công vô ích. Chỉ thấy toàn những nhà cửa, phố cụt, ngã tư ngã năm nối liền nhau, khiến chàng cứ lưỡng lự, bần thần tìm mãi không ra, càng lúng túng và loay hoay giữa các ngõ hẻm tối om, rắc rối hơn cả lúc bước vào mê cung của lâu đài Tournell. Cuối cùng chàng nản lòng và trịnh trọng thốt lên:

- Những ngã ba ngã tư chết tiệt! Đúng là do quỷ sứ làm ra theo hình đinh ba của nó.

Lời than tạm an ủi chàng và vừa vặn một ánh lửa đỏ, thấp thoáng ở cuối cái ngõ hẻm dài và hẹp, càng làm chàng phấn chấn tinh thần thêm.

- Lạy Chúa tôi! - Chàng nói, - kia rồi! Đúng là tấm nệm rơm đang cháy.

Rồi tự so sánh với người lái đò chìm thuyền trong đêm, chàng thành kính nguyện cầu:

- Salve, salve marisstella!*

“Cứu khổ, cứu nạn, hỡi ngôi sao biển!”

Chàng đọc đoạn kinh cầu phúc đó với Đức mẹ đồng trinh hoặc với cái đệm rơm? Đó là điều chúng ta hoàn toàn không biết được.

Vừa đi vài bước vào ngõ hẻm dài dặc, dốc tuột, không lát đá, mỗi lúc một lầy lội và dốc hơn, chàng liền nhận ra một điều khá kỳ lạ. Ngõ không phải vắng. Đây đó suốt ngõ có những hình khối mơ hồ và dị dạng, đang bò, tất cả đang kéo về phía ánh lửa bập bùng cuối phố, như đàn sâu bọ nặng nề ban đêm tha từng nhánh cỏ tới ngọn lửa mục đồng.

Không gì phiêu lưu bằng cứ mò mẫm hú họa thế này. Gringoire tiếp tục bước đi và lát sau đuổi kịp một con trong đàn dòi bọ đang uể oải lết theo bầy. Lại gần, chàng thấy đó chỉ là một gã què hai chân khốn khổ đang chống hai tay để lăng người đi, như con niềng niễng bị thương chỉ còn hai cẳng. Đúng lúc chàng tới gần loài nhện mặt người này thì nó thảm thiết van xin:

- La buona mancia, signor! La buona mancia!*

“Bố thí cho con, lạy ngài bố thí cho con!” (tiếng Ý)

- Quỷ bắt mày đi, - Gringoire nói, - và bắt nốt cả tao nữa, nào tao có hiểu mày nói gì!

Rồi chàng đi tiếp.

Chàng đến gần một khối di động khác và ngắm nhìn. Đó là một gã què lê, đã thọt chân lại cụt tay, què cụt đến nỗi có cả một hệ thống phức tạp những nạng và chân gỗ chống đỡ, khiến hắn giống hệt một giàn giáo thợ nề biết đi. Gringoire vốn quen ví von cao thượng và cổ điển, liền thầm so sánh hắn với cái kiềng sống của Vulcain*.

Vulcain: Thần Lửa và Kim Khí của người La-Mã, con trai thần Jupiter và Juno, chồng của thần Vệ nữ. Sinh ra vốn xấu xí, cổ quái, Vulcain bị mẹ đẩy từ đỉnh núi Olympe ngã xuống đảo Lennốt nên bị què chân. Thần lập bễ lò rèn dưới chân núi lửa Etna, cùng bọn khổng lồ độc nhỡn Xiclôpơ, làm ra sét cho Jupiter.

Cái kiềng sống đó đi qua, chào chàng, nhưng ngả mũ ngang cằm Gringoire, như cái đĩa cạo râu, rồi thét vào tai:

- Senor caballero, para comprar un pedaso de pan!*

“Ngài hiệp sĩ, cho con đủ mua miếng bánh!” (tiếng Tây-Ban-Nha.

- Hình như thằng này cũng đang nói, - Gringoire thầm nhủ: - nhưng ngôn ngữ nó khó quá và nếu nó hiểu được thì quả nó sung sướng hơn mình.

Rồi bất thần nghĩ sang chuyện khác, chàng vỗ trán nói:

- Ờ nhỉ, không biết sáng nay họ định nói gì với Esmeralda?

Chàng định rảo bước; nhưng lần thứ ba lại bị cái gì đó ngáng đường. Cái đó, hoặc đúng hơn người đó, là một gã mù, một kẻ mù nhỏ bé với khuôn mặt Do Thái râu ria, cầm cái gậy quơ vào không gian chung quanh và được một con chó to lôi đi, lè nhè van xin bằng giọng Hung:

- Facitote Caritatem*.

“Bố thí cho con!”

- May quá! - Pierre Gringoire nói, - cuối cùng hóa ra cũng có người nói được thứ tiếng của con chiên. Chắc cái mặt mình cũng có vẻ ưa bố thí lắm, nên mới có người hỏi xin đang lúc túi tiền lép kẹp. Anh bạn ơi (chàng quay lại phía kẻ mù), tuần trước, tôi đã bán tới cái áo sơ mi cuối cùng; vì anh chỉ biết có thứ tiếng nói của Cicero, nên nó nghĩa là: Vendidi hebdomade nuper transita meam ultimam chemisam.

Nói xong chàng quay lưng lại người mù, và đi tiếp; nhưng gã mù liền rảo bước theo, rồi gã bại liệt, gã què hai chân cũng vội ùa tới, ầm ĩ tiếng bát đọi và tiếng nạng khua lòng đường. Rồi cả ba chen nhau bám sát gót chàng Gringoire tội nghiệp, hát bài ca của chúng:

- Caritatem! - Tên mù hát.

- La buona mancia! - Tên cụt hai chân hát.

Và tên thọt cao giọng nhất nhắc lại cái câu du dương:

- Un pedaso de pan!

Gringoire phải bịt tai.

- Ôi, thật loạn xạ! - Chàng kêu lên.

Chàng bỏ chạy. Tên mù chạy theo. Tên thọt cũng chạy. Tên què hai chân cũng chạy nốt.

Thế rồi, càng vào sâu trong phố, nào què hai chân, nào mù lòa, thọt cẳng cứ nhung nhúc vây quanh chàng, lại thêm bọn cụt tay, chột mắt, bọn hủi lở loét, đứa từ trong nhà, đứa từ dãy ngõ đâm ngang, đứa từ cửa sổ các nhà hầm kéo ra, chúng gào thét, gầm rú, rên rỉ, tất cả đều bước thấp bước cao, láo nháo, kéo ùa về phía ánh sáng và lội bì bõm trong bùn như ốc sên sau cơn mưa.

Gringoire vẫn bị ba kẻ lẵng nhẵng bám sát và chưa biết rồi sẽ ra sao, chàng ngơ ngác đi giữa đám đông, tránh bọn thọt, bước qua bọn què, hai chân vướng víu giữa cái tổ kiến què cụt này, như gã thuyền trưởng người Anh sa lầy vào đám cua càng.

Chàng chợt nghĩ hay là thử quay lại. Nhưng muộn quá rồi. Cả đoàn người đã khép chặt sau lưng và ba tên ăn mày vẫn áp sát. Chàng đành đi tiếp, vừa bị xô đẩy bởi dòng người cuồn cuộn lẫn nỗi sợ đến chóng mày chóng mặt, tất cả khiến chàng như đang qua cơn mộng mị khủng khiếp.

Mãi sau chàng mới tới cuối phố. Phố đổ ra một quảng trường rộng bát ngát, ở đây trăm ngàn ánh sáng rải rác le lói trong màn sương mờ ảo ban đêm. Gringoire vội chạy ra quảng trường, hy vọng nhờ đôi chân nhanh nhẹn thoát khỏi ba bóng ma tàn tật vẫn bám riết.

- Ondè vas, hombre!* - Tên bại liệt quát to, vứt đôi nạng và đuổi theo với cặp giò khỏe mạnh nhất, vạch những bước thẳng tắp trên lòng đường Paris. Trong lúc đó, tên cụt hai chân đã đứng thẳng dậy bằng đôi chân, chụp luôn vào đầu Gringoire cái thùng nẹp đai sắt nặng trịch và tên mù long lanh đôi mắt sáng rực nhìn vào mặt chàng.

“Anh kia, đi đâu đấy?” (tiếng Tây-Ban-Nha).

- Tôi đang ở đâu thế này? - Nhà thơ hoảng sợ hỏi.

- Ở cung điện thần kỳ*, - một bóng ma thứ tư xán lại gần, trả lời.

Một khu phố của Paris cổ, khoảng giữa các khu phố Chợ và ngoại ô Saint-Denis hiện nay, trên mảnh đất của các phố Đamietơ và phố Lò rèn, gần phố Rêômuya. Bọn ăn mày tụ tập ở đó cho tới năm 1656 thì bị vua Louis XIV đuổi đi. Cái tên Cung điện thần kỳ được đặt ra để chế giễu bọn ăn mày dưới quyền cai quản của vua ăn mày xưng danh Coësre đại vương; chúng giả vờ què, cụt, đui, lòa để xin ăn, nhưng khi về tụ tập ở đó, lập tức trở lại lành lặn, vui vẻ, như có phép thần kỳ.

- Trời ơi, rõ ràng ta thấy người mù đang nhìn, người què đang chạy, - Gringoire thốt lên; - nhưng đấng Cứu thế ở đâu?

Chúng đáp lại bằng chuỗi cười rùng rợn.

Nhà thơ khốn khổ đưa mắt nhìn quanh. Quả thực chàng đang ở giữa Cung điện thần kỳ kinh sợ, nơi không người lương thiện nào dám đặt chân tới vào giờ này; một vùng thần bí mà các sĩ quan ở Châtelet* và các cảnh vệ đội hiến binh lần mò vào thì sẽ vụn như cám; một khu phố của bọn trộm cắp, cái mụn cóc kinh tởm giữa khuôn mặt Paris; cái cống sáng loáng tuôn ra và tối tối đổ về cả một rãnh ứ đọng tội lỗi, ăn mày ăn xin, lêu lổng du đãng, lúc nào cũng tràn ngập đầy đường phố các kinh thành; các tổ ong khổng lồ tối tối trở về đủ loại ong độc của xã hội cùng các của cải vơ vét được; cái bệnh xá giả danh mà kẻ Bohémienne, tên thầy tu phá giới, gã học trò hư hỏng, bọn vô hại đủ các quốc tịch, nào Tây Ban Nha, Ý, Đức, đủ mọi tôn giáo, nào Do Thái, Cơ Đốc, Hồi giáo, ngẫu tượng giáo mình đầy vết thương giả tạo, ban ngày đi ăn xin, đến đêm biến thành trộm cướp; tóm lại, cái buồng quần áo mênh mông, nơi thay đổi mũ mãng của tất cả diễn viên thời đó, trong tấn hài kịch vĩnh cửu mà trộm cắp, đĩ điếm và giết người thường diễn ra trên đường phố Paris.

Trụ sở của các đại diện Pháp đình hoàng gia ở Paris.

Đó là một quảng trường rộng lớn, méo mó và lát đá mấp mô như một quảng trường ở Paris hồi đó. Đây đó sáng những ánh lửa, chung quanh tụ tập lúc nhúc các nhóm người kỳ quái. Bọn họ đi đi lại lại, gào thét. Vang lên tiếng cười lanh lảnh, tiếng trẻ con the thé, tiếng đàn bà. Bàn tay, mái đầu của đám đông sẫm đen cắt trên nền ánh sáng thành muôn nghìn cử chỉ lạ lùng. Thỉnh thoảng, dưới đất, trước ánh lửa lung linh xen lẫn cái bóng to lớn không ra hình thù, lại thấy chạy qua một con chó trông giống người, một con người trông giống chó. Ranh giới giữa các loài và các giống hình như bị xóa bỏ giữa khu phố này, như ở dưới thủ đô âm phủ. Đàn ông, đàn bà, súc vật, lứa tuổi, đực cái, khỏe mạnh, ốm đau, tất cả đều chung đụng với nhau trong đám dân chúng này; tất cả đều hòa hợp, xen kẽ, trộn lẫn, chồng chất vào nhau; mỗi cái riêng đều dự vào cái chung.

Nhờ ánh lửa bập bùng và leo lét mờ chiếu, tuy đang bối rối, Gringoire vẫn nhìn thấy ở tứ phía chung quanh quảng trường bát ngát, những dãy nhà cũ kỹ, gớm ghiếc, với mặt trên mốc rêu nhăn nhúm, xiêu vẹo, mỗi cái trổ một hoặc hai cửa sổ mái còn sáng đèn, trong đêm tối trông giống những đàn bà già khổng lồ, quay vòng tròn, quái đản và nhăn nhó, đang nheo mắt nhìn đêm hội phù thủy.

Thật đúng là một thế giới mới, xa lạ, khác thường cổ quái, lê lết, nhung nhúc, kỳ dị.

Gringoire mỗi lúc thêm sợ hãi, bị kẹt giữa ba tên ăn mày như ba gọng kìm, đinh tai nhức óc vì hàng loạt khuôn mặt khác lổn nhổn đang gầm sủa quanh mình, anh chàng Gringoire xúi quẩy cố định thần để nhớ xem hôm nay có phải thứ bảy không. Nhưng chỉ phí công vô ích; trí nhớ và suy nghĩ của chàng đã đứt quãng; rồi nghi ngờ hết thảy, phân vân giữa điều nhìn thấy với điều cảm thấy, chàng tự đặt câu hỏi không sao trả lời nổi:

- Nếu có ta thì điều đó có không? Nếu có điều đó, thì liệu có ta không?

Giữa lúc này, một tiếng quát rành rọt thét lên từ đám đông rào rào vây quanh:

- Ta dẫn nó đến trước nhà vua! Dẫn nó đến trước nhà vua!

- Lạy Đức mẹ đồng trinh! - Gringoire khẽ nói, - nhà vua ở đây, chắc phải là con dê đực.

- Dẫn nó đi! Dẫn nó đi! - Đám đông nhắc lại.

Họ lôi chàng đi. Mạnh ai người nấy tóm chặt lấy chàng. Nhưng ba tên ăn mày không chịu bỏ ra và giằng lấy chàng ở tay bọn khác, thét ầm:

- Nó là của chúng tao!

Cái áo cộc đã ốm o của nhà thờ thở hơi cuối cùng trong trận giằng co nảy.

Lúc đi ngang qua quảng trường rùng rợn, chàng dần dần hết choáng váng. Đi được vài bước, ý thức về thực tế liền trở lại. Chàng bắt đầu làm quen với không khí chung quanh. Thoạt tiên với đầu óc nhà thơ, hoặc có lẽ giản dị và tầm thường hơn, với cái dạ dầy lép kẹp, có thể nói một màn khói, một làn hơi nước đã dựng lên, lan ra giữa mọi vật và chàng, khiến chàng chỉ nhìn thấy chúng thấp thoáng qua màn sương mờ ảo của cơn ác mộng, qua bóng tối mộng mị làm run rẩy mọi đường nét, làm méo mó mọi hình thù, làm các đồ vật chất thành đống to phình, làm nở phồng mọi sự vật thành quái tượng và con người thành bóng ma. Dần dần, thay thế cho ảo giác đó là cái nhìn bớt hốt hoảng và bớt phóng đại. Thực tế hiện ra rõ ràng chung quanh, đập vào mắt, và vào chân, và lần lượt phá tan từng mảnh toàn bộ vẻ thơ mộng khủng khiếp mà lúc đầu chàng tưởng bị vây quanh. Chàng đành phải thừa nhận không phải mình đang bước dưới suối vàng mà trong bùn, không phải chen vai thích cánh với quỷ sứ mà với bọn ăn cắp; không phải linh hồn mà chính tính mệnh mình đang lâm nguy (vì chàng thiếu cái của quý hòa giải thưởng đứng trung gian khá hiệu nghiệm giữa tên cướp và người lương thiện: túi tiền). Cuối cùng, quan sát cuộc chè chén gần hơn và bình tĩnh hơn, chàng rơi từ đêm dạ hội phù thủy vào quán rượu.

Quả thực Cung điện thần kỳ chỉ là một quán rượu, nhưng quán rượu của bọn trộm cướp, đỏ rực máu cũng như rượu nho.

Cuối cùng, khi đoàn người rách rưới áp giải chàng tới đích, cảnh tượng bày ra trước mắt không sẵn sàng gợi cho chàng hứng thơ, dù chỉ là thơ âm phủ. Hoàn toàn chỉ là thực tế tầm thường và phũ phàng của quán rượu. Nếu chúng ta không đang ở thế kỷ mười lăm thì có thể nói Gringoire đang từ Michel-Ange* tụt xuống Callot*.

Michel-Ange (1475-1564): Họa sĩ Ý.

Callot (1592-1635): Họa sĩ Pháp.

Xung quanh đống lửa lớn đang cháy trên nền lát đá tròn rộng, ngọn lửa lém lên những chân kiềng đỏ rực lúc đó còn bỏ không, dăm cái bàn một kê đây đó hỗn độn chẳng cần có tên hầu bàn giỏi đo đạc nào thèm sửa sang lại thành hình bình hành hoặc ít nhất cũng chăm nom cho nó khỏi cắt góc quá chướng mắt. Trên bàn lấp lánh vài cốc rượu vang và rượu bia chảy tràn, và xung quanh các cốc rượu đang tụ tập vô số khuôn mặt lưu linh đỏ rực ánh lửa và men say. Đây là một tên lính già, tiếng lóng gọi là thằng già phế binh, đang huýt sáo cởi bỏ những dải băng buộc vết thương vờ rồi duỗi thẳng cái đầu gối lành lặn và khỏe mạnh, từ sáng đến giờ vẫn băng bó chằng chịt. Trái lại, kia là một gã giả phù và sâu quảng đang chuẩn bị cái cẳng chân của Chúa cho ngày mai bằng lá bạch khuất và máu bò. Cách hai bàn là tên ăn mày đeo vỏ hến vờ làm hành giả với đầy đủ quần áo hành hương, đang ngâm nga khúc bi ca Nữ thánh hoàng hậu, không quên lải nhải kêu van lè nhè. Chỗ khác, một tên nhóc giả bị chó dại cắn đang học cách mắc bệnh động kinh ở một lão ăn mày già dạy hắn nghệ thuật xùi bọt mép bằng cách nhai xà phòng. Ngay cạnh, một tên giả mắc bệnh thủy thủng đánh rắm, làm bốn năm mụ mẹ mìn phải bịt mũi, chúng ngồi cùng bàn đang tranh nhau một đứa bé vừa dỗ đi ngủ tối. Toàn là những tình huống mà hai thế kỷ sau, như sứ giả Sauval nói: Triều đình thấy tức cười đến nỗi được dùng làm trò giải trí cho nhà vua và giáo đầu cho vũ kịch hoàng cung Ban Đêm, gồm bốn hồi và trình diễn ở sân khấu lâu đài Tiểu Bourbon. Một nhân chứng từng được nhìn tận mắt vào năm 1653 nói thêm. “Chưa bao giờ những biến hóa đột ngột của Cung điện thần kỳ lại được trình diễn hay như vậy. Benserade dẫn ta vào kịch bằng những vần thơ khá tình tứ”.

Khắp nơi vang dậy tiếng cười ha hả và lời ca tục tĩu. Mạnh ai người ấy nói, chê bai và chửi rủa, không thèm nghe nhau. Cốc chén chạm nhau và cãi cọ cũng bắt đầu từ đó, thế rồi cốc chén rạn vỡ làm rách thêm quần áo.

Một con chó to ngồi đè lên đuôi nhìn ngọn lửa. Dăm đứa trẻ cũng dự vào cuộc chè chén. Đứa bé bị dỗ đi vừa khóc vừa kêu. Một đứa khác bụ bẫm, chừng bốn tuổi, ngồi trên chiếc ghế dài quá cao, bỏ thõng chân, mặt bàn cao ngang cằm, không nói năng gì. Đứa thứ ba lấy ngón tay trịnh trọng dí lên mặt bàn chỗ mỡ bò cháy từ cây nến xuống. Đứa cuối cùng, bé tẹo, ngồi xổm trên bùn, gần như lấp hẳn trong chiếc chảo, cầm mảnh ngói nạo chảo, phát ra tiếng kêu đến làm mất vía Stradivarius*.

Stradivarius (1643-1737): thợ đàn nổi tiếng người Ý.

Một thùng rượu đặt cạnh đống lửa, và một tên ăn mày ngồi trên thùng rượu. Đó là đức vua ngự trên ngai.

Ba tên vớ được Gringoire dẫn chàng tới trước cái thùng và cả tiệc rượu liền im bặt giây lát, trừ cái chảo có thằng bé ngồi.

Gringoire nín thở không dám ngước nhìn.

- Hombre, quita ta sombrero,* - một trong ba tên đã vớ được chàng nói; và trước khi kịp hiểu câu đó nghĩa là gì, hắn đã lột luôn mũ của chàng. Thực ra chỉ là cái mũ cà khổ, nhưng vẫn còn tạm dùng để che nắng che mưa, Gringoire đành thở dài.

“Anh kia, bỏ mũ xuống!” (tiếng Tây-Ban-Nha).

Lúc đó, đức vua ngự trên thùng rượu liền hỏi chàng:

- Thằng vô lại kia, mày là ai?

Gringoire giật mình. Giọng nói, mặc dù gằn xuống để đe dọa, vẫn làm chàng nhớ tới một giọng khác, vừa sáng nay đã giáng đòn đầu tiên vào vở kịch của chàng, bằng cách lè nhè van xin giữa đám thính giả: Lạy ông lạy bà, bố thí cho con! Chàng ngẩng đầu. Quả nhiên là Clopin Trouillefou.

Clopin Trouillefou mang phù hiệu đức vua, vẫn y nguyên quần áo rách rưới không hề thêm bớt. Vết thương ở cánh tay đã biến mất. Hắn cầm roi dây da trắng, hồi đó bọn tuần canh thường dùng để dẹp đám đông, được gọi là boullayes. Hắn đội trên đầu thứ mũ có vành và kín ở trên; nhưng thật khó phân biệt đó là mũ bông trẻ con hoặc vương miện, vì cả hai đều giống nhau. Tuy nhiên, không hiểu sao Gringoire bỗng lại chớm hy vọng khi nhận ra đức vua của Cung điện thần kỳ chính là tên ăn mày chết tiệt ở gian đại sảnh.

- Thưa ngài, - chàng lắp bắp nói... - Bẩm đức ông... Tâu điện hạ... Không biết tôi phải gọi ông bằng gì? - Cuối cùng chàng nói, đã lên tới đỉnh cao; không biết nên tôn xưng hơn nữa hoặc tụt xuống.

- Đức ông, bệ hạ hoặc anh bạn, tùy mày muốn gọi tao là gì cũng được. Nhưng nhanh lên. Mày có cần nói gì để bào chữa hay không?

- Bào chữa! - Gringoire thầm nghĩ, đáng sợ thật. Chàng lắp bắp nói:

- Tôi là người sáng nay...

- Quỷ tha ma bắt mày! - Clopin ngắt lời, đồ vô lại, tên mày là gì, nói ngay đi. Nghe đây. Mày đang đứng trước ba vị quốc vương hùng cường: tao là Clopin Trouillefou, vua xứ Thunes, người kế vị Khất cái đại vương Coësre, chúa tể tối cao vương quốc tiếng lóng; lão già vàng bủng mày thấy ngồi kia, đầu chít khăn lau, đó là Mathias Hungadi Spicali, quận công xứ Ai Cập và xứ Bohême; còn lão béo không nghe ta nói và đang vuốt ve con đĩ, đó là Guillaume Rousseau, hoàng đế xứ Galilée. Chúng tao đang xét xử mày. Mày bước vào vương quốc tiếng lóng mà lại không phải dân nói lóng, mày đã vi phạm đặc quyền của thành phố chúng tao. Mày sẽ bị trừng phạt, trừ phi mầy là đại bợm, cắt túi, ăn mày giả ốm, ăn mày giả bị bỏng, theo tiếng nói người lương thiện tức là ăn cắp, ăn mày, du đãng. Mày có thuộc loại đó không? Thử biện bạch đi. Hãy chứng minh tư cách của mày xem nào.

- Chao ôi! - Gringoire thốt lên, - tôi lại không có được cái vinh dự đó. Tôi là tác giả...

- Thế là đủ rồi, - Trouillefou nói luôn, không để chàng kịp hết lời. - Mày sẽ bị treo cổ. Thưa các ngài thị dân lương thiện! Như vậy kể cũng bình thường thôi, vì các ngài xử người chúng tôi ở chỗ các ngài thì chúng tôi lại xử người của các ngài ở đây. Luật lệ các ngài dùng với ăn mày, ăn mày sẽ dùng lại với các ngài. Nếu luật lệ tàn ác thì lỗi là ở các ngài. Thỉnh thoảng cũng nên để mọi người nhìn thấy một khuôn mặt lương thiện nhăn nhó trên sợi dây thòng lọng gai: cái đó làm cho sự việc sẽ cao quý hơn. Thôi nhé, anh bạn, hãy vui vẻ cởi bộ quần áo tã đưa cho cô ả kia. Tao sẽ sai treo cổ mày để mua vui cho cánh ăn mày, còn túi tiền của mày để họ mua rượu. Nếu cần giối giăng thì đây kia, trong cối đá, có pho tượng Chúa cha bằng đá rất tốt, bọn tao thó được ở nhà thờ Saint-Pierre-aux-Boeuf. Mày có bốn phút để trút linh hồn vào đầu lão ta.

Lời hắn nói thật khủng khiếp.

- Chà, khá lắm! Clopin Trouillefou thuyết pháp như một đức thánh cha giáo hoàng, - hoàng đế xứ Galilée vừa thốt lên, vừa đập vỡ cái cốc vại để kê chân hắn.

- Thưa quý vị hoàng đế và quốc vương, - Gringoire điềm đạm nói (chính tác giả cũng không hiểu sao anh ta lại trở nên cương quyết và nói năng dõng dạc đến thế), - các vị lầm rồi. Tôi tên là Pierre Gringoire, tôi là nhà thơ đã viết vở thánh kịch sáng nay được trình diễn tại gian đại sảnh Tòa pháp đình.

- A, thế ra là mày, thằng thi sĩ! - Clopin nói, - Lạy Chúa, lúc đó tao cũng ở đấy! Này, anh bạn, chả lẽ chỉ vì sáng nay mày làm chúng tao chán ngấy mà tối nay mày khỏi bị treo cổ hay sao?

Thật khó mà thoát nạn. Gringoire thầm nghĩ. Tuy nhiên, chàng vẫn cố một lần cuối; chàng nói:

- Nhưng tôi cũng không hiểu tại sao các nhà thơ lại không được xếp cùng bọn với ăn mày, Aesopus từng là du đãng; Homerus từng là ăn mày; Mercurius từng là ăn cắp...*

Aesopus, Homerus, Mercurius: Là tiếng Latinh của các tên thường gọi là Aesop, Homère, Mercuria.

Aesop (thế kỷ 7-8 trước công nguyên): Nhà thơ ngụ ngôn Hy Lạp.

Homère (thế kỷ 9 trước công nguyên): Nhà thơ Hy Lạp.

Mercuria: Thần hùng biện, thương mại và trộm cắp.

Clopin ngắt lời:

- Thế ra mày định ăn nói quắt quéo để làm rối óc chúng tao phải không? Thôi đi hãy cúi đầu chịu treo cổ, đừng có lắm lời nữa!

- Thưa quốc vương xứ Thunes, xin lỗi điện hạ, - Gringoire cãi lại, quyết đấu tranh đến cùng. - Ngài cũng cần nghe đã... Khoan nào!... Hãy nghe tôi.. Ngài không thể không nghe tôi nói mà đã vội kết tội...

Tuy nhiên, giọng chàng thiểu não đã bị át trước tiếng ồn ào vây quanh. Thằng bé càng nạo chảo hăng hái hơn bao giờ hết; tệ hơn nữa, một mụ già lại vừa đặt lên cái kiềng cháy đỏ một sanh đầy mỡ, kêu xèo xèo trên ngọn lửa như tiếng lũ trẻ hò reo đuổi theo một ông địa.

Trong lúc đó, Clopin Trouillefou như đang bàn bạc một lát với quận công Ai Cập và hoàng đế xứ Galilée, gã này đã say mèm. Rồi hắn thét lên the thé:

- Im lặng nào!

Song cái chảo và cái sanh rán mỡ lại không chịu nghe lời hắn, mà cứ tiếp tục song ca, nên hắn nhảy từ trên thùng xuống đá cái chảo cùng đứa bé lăn lông lốc văng xa đến mười thước, đá luôn cái sanh đổ tung tóe hết mỡ xuống đống lửa, rồi trịnh trọng leo lên ngai, không thèm để ý đến tiếng khóc nức nở của thằng bé lẫn tiếng mụ già càu nhàu vì bữa ăn thế là đi tong, đang biến thành ngọn lửa sáng trắng đẹp đẽ.

Trouillefou ra hiệu, thế là quận công, hoàng đế các trùm sỏ và lũ ăn mày giả hủi tiến tới vây quanh hắn thành hình móng ngựa, còn Gringoire vẫn bị giữ chặt đứng giữa. Đó là một vòng bán nguyệt những khố rách, áo ôm, trang kim, chàng nạng, rìu búa, cẳng chân loạng choạng, cánh tay trần to tướng, mặt mũi quái gở, phờ phạc và ngu độn. Giữa cuộc họp bàn tròn những ăn mày, Clopin Trouillefou, như vị thủ lĩnh của nghị viện, vị quốc vương của triều đình, vị giáo hoàng của tuyển cử hội, chế ngự mọi người trước hết bằng tất cả chiều cao chiếc thùng, sau đó bằng cái vẻ thật kiêu kỳ, dữ tợn và khủng khiếp, làm tròng mắt long sòng sọc và nét mặt man rợ càng tôn thêm vẻ thú vật của nòi giống ăn mày. Trông y như chiếc thủ lợn rừng giữa đám mõm lợn nhà.

- Nghe đây, - hắn vừa bảo Gringoire vừa đưa bàn tay sần sùi xoa cái cằm méo nó, - không có lý gì mày lại không bị treo cổ. Kể ra mày cũng sẽ thấy khó chịu đấy; dĩ nhiên thôi, chỉ tại lũ thị dân chúng mày chưa quen mà. Chúng mày coi đó là chuyện quá to tát. Dù sao, tụi tao cũng không muốn làm hại mày. Đây là một cách để thoát nạn hiện nay. Mày có muốn nhập bọn với chúng tao không?

Đề nghị đó quả thực tác động mạnh đến Gringoire, chàng đang thấy cuộc đời sắp chấm dứt và bắt đầu tuyệt vọng. Chàng vội bám chặt lấy nó.

- Tất nhiên tôi rất muốn, muốn lắm, - chàng nói.

- Mày bằng lòng gia nhập dân đoản kiếm à? - Clopin hỏi lại.

- Gia nhập dân đoản kiếm ư? Xin bằng lòng. - Gringoire trả lời.

- Mày chấp nhận là thành viên của dân miễn thuế chứ? - Vua xứ Thunes hỏi thêm.

- Là dân miễn thuế.

- Thần dân của vương quốc tiếng lóng.

- Của vương quốc tiếng lóng.

- Hành khất?

- Hành khất.

- Từ trong thâm tâm?

- Từ trong thâm tâm.

- Báo trước cho mày biết, - nhà vua nói tiếp, - cũng không vì thế mà mày thoát khỏi tội treo cổ.

- Ma quỷ! - Nhà thơ thốt lên.

- Có điều là sau này mới bị treo cổ, một cách long trọng hơn, - Clopin thản nhiên nói tiếp, - do phí tổn của đô thành Paris tốt bụng, trên đài treo cổ bằng đá rất đẹp và bởi những người dân lương thiện. Đó cũng là điều an ủi cho mày.

- Ngài nói đúng, - Gringoire đáp.

- Lại còn nhiều lợi lộc khác nữa. Với tư cách là dân miễn thuế, mày sẽ không phải nộp thuế bùn, thuế người nghèo, thuế đèn phố mà bọn thị dân Paris phải trả.

- Đồng ý như vậy, - nhà thơ nói. - Tôi bằng lòng. Tôi là ăn mày, dân nói lóng, dân miễn thuế, dân đoản kiếm, tùy ngài muốn sao cũng được. Và tâu quốc vương xứ Thunes, tôi đã như thế từ lâu rồi, vì tôi là triết gia; chắc ngài cũng biết là et omnia in philosophia, omnes in philosopho continentur*.

“Và triết học chứa đủ mọi thứ, triết gia chứa đủ hạng người”.

Vua xứ Thunes cau mày, bảo:

- Anh bạn, anh cho ta là người thế nào? Mày ba hoa cái thứ tiếng lóng Do Thái nước Hung gì đấy? Tao không biết Do Thái, không cần phải là Do Thái mới thành kẻ cướp được. Tao cũng không thèm ăn cắp nữa. Tao đã vượt lên trên cái đó, tao giết người. Cắt cổ à, ừ; cắt hầu bao ư, không.

Gringoire cố lựa lời xin lỗi giữa những câu nói ngắn ngủi, mỗi lúc một thêm hổn hển vì tức giận đó:

- Xin Đức ông tha tội. Đó không phải tiếng Do Thái mà tiếng Latinh.

- Tao đã bảo mày tao không phải là dân Do Thái. - Clopin nổi giận nói tiếp, - tao sẽ treo cổ mày, đồ Do Thái giáo chết tiệt! Kể cả cái thằng ăn mày bé nhỏ giả lái buôn phá sản xứ Judée đứng cạnh mày, tao chỉ chờ ngày thấy nó bị đóng đinh lên mặt quầy, như đồng tiền giả vốn chính là nó!

Vừa nói vậy, hắn vừa chỉ gã Do Thái người Hung bé nhỏ râu ria, từng đón đường Gringoire bằng câu facitote caritatem, nó không biết thứ tiếng nào khác nên đang ngạc nhiên nhìn sự tức giận của vua xứ Thunes đổ vấy lên đầu mình.

Cuối cùng, đức ông Clopin nguôi giận.

- Đồ ba que xỏ lá! - Hắn bảo nhà thơ, - thế mày bằng lòng làm hành khất chứ?

- Tất nhiên, - nhà thơ trả lời.

- Chỉ bằng lòng chưa đủ, - Clopin quàu quạu nói. - Thiện chí cũng không góp thêm được củ hành nào vào nồi canh, mà chỉ dùng để lên thiên đường, còn thiên đường và xứ tiếng lóng lại là hai chuyện khác nhau. Muốn được nhận vào xứ tiếng lóng, phải chứng tỏ mình cũng biết một món gì, do đó mày phải lục túi bù nhìn.

- Tôi xin lục tất cả những gì ngài muốn. - Gringoire nói.

Clopin vẫy tay. Vài dân tiếng lóng bước ra khỏi đám người quây tròn và lát sau quay lại. Họ khiêng tới hai cái cột, chân cột đóng đế ngang, để dễ dựng đứng trên mặt đất. Hai đầu cột nối liền bằng xà ngang, tất cả hợp thành cái giá treo cổ lưu động xinh đẹp mà Gringoire may mắn được nhìn thấy dựng lên ngay trước mặt chỉ trong nháy mắt. Chẳng còn thiếu thứ gì, kể cả sợi thừng đu đưa duyên dáng dưới xà ngang.

- Không biết chúng định giở trò gì thế này? - Gringoire lo lắng, thầm hỏi. Nhưng chàng lập tức hết lo khi nghe tiếng chuông lắc. Đó là hình nộm mà bọn hành khất dùng sợi thừng treo cổ lên, một thứ bù nhìn đuổi chim, mặc áo đỏ, đeo đầy mình mõ và chuông nhỏ đủ để trang bị ba mươi con la giống Castilla. Mấy trăm cái chuông nhỏ đó rung lên chốc lát theo sợi dây thừng đu đưa, rồi im dần và cuối cùng tắt hẳn, khi hình nhân trở lại bất động theo định luật của chiếc đồng hồ quả lắc, đã từng hạ bệ những đồng hồ nước và đồng hồ cát.

Lúc đó, Clopin mới chỉ cho Gringoire chiếc ghế đẩu cũ khập khiễng đặt dưới hình nộm:

- Trèo lên đi.

- Chết mất! - Gringoire kêu lên, - tôi đến ngã gãy cổ thôi. Cái ghế của đức ông khập khiễng như câu thơ ngũ lục của Martial; một chân sáu còn chân kia là năm.

- Trèo lên, - Clopin bảo.

Gringoire bước lên ghế và cuối cùng giữ được thăng bằng sau khi lắc lư cả đầu lẫn tay.

- Bây giờ, - vua xứ Thunes nói tiếp, - mày hãy bắt chéo chân phải sang chân trái rồi kiễng chân trái lên.

- Tâu đức ông, - Gringoire nói, - thế ra ngài nhất định bắt tôi phải ngã què cẳng à?

Clopin lắc đầu.

- Anh bạn, nghe đã, anh nói nhiều quá. Nói tóm lại, hãy làm như sau: Mày hãy đứng kiễng chân, đứng như tao nói; như vậy mày sẽ với tới túi áo người nộm; mày hãy lục soát rồi móc lấy ví tiền trong đó; nếu làm xong mọi việc mà không nghe thấy tiếng chuông nào, thế là được; mày sẽ làm hành khất. Chúng tao chỉ còn mỗi việc đánh đòn mày trong tám ngày.

- Lạy Chúa! Tôi xin chịu, - Gringoire nói. - Thế nhỡ tôi làm rung chuông thì sao?

- Thì sẽ bị treo cổ. Hiểu chưa?

- Tôi vẫn chẳng hiểu gì cả. - Gringoire trả lời.

- Hãy nghe thêm lần nữa, mày hãy lục túi hình nộm và móc lấy ví tiền; chỉ cần đang làm mà có tiếng chuông kêu là mày sẽ bị treo cổ. Thế nào, hiểu chưa?

- Thôi được, - Gringoire nói; - tôi hiểu rồi. Rồi sau thì sao?

- Nếu móc được túi tiền mà không làm chuông kêu, mày sẽ là hành khất và được đánh đòn trong tám ngày liền. Bây giờ chắc hiểu rồi chứ?

- Không, thưa đức ông, tôi càng không hiểu. Như thế, tôi được lợi gì? Một đằng phải treo cổ, một đằng bị đánh đòn...

- Thế còn hành khất? - Clopin nói, - được làm hành khất thì sao? Dễ thường xoàng đấy hẳn? Vì lợi ích của mày mà chúng tao đánh đòn, để dạn đòn dần.

- Xin đa tạ ngài, - nhà thơ trả lời.

- Thôi, nhanh lên, - nhà vua giậm chân lên cái thùng kêu vang như tiếng trống cái. - Lục túi hình nộm đi, mà làm mau lên. Tao bảo trước lần cuối, chỉ cần nghe thấy tiếng chuông là mày sẽ thế chân thằng bù nhìn.

Lũ dân nói lóng hoan hô lời lẽ của Clopin và quây tròn xung quanh giá treo cổ, cười vang nhẫn tâm, khiến Gringoire thấy mình làm trò vui cho chúng quá nhiều, đâm hết cả sợ. Thế là không còn hy vọng gì hết, trừ cái may mắn mong manh sẽ thành công trong việc ghê gớm buộc phải làm. Chàng quyết định liều một phen, nhưng trước hết không thể không thiết tha cầu khẩn người nộm sắp bị móc túi và có lẽ nó còn dễ mủi lòng thương hại hơn bọn hành khất. Trăm ngàn chuông nhỏ với quả lắc đồng nhỏ xíu, giống như bấy nhiêu miệng rắn độc há hốc, sẵn sàng cắn và rít lên.

- Ôi! - Chàng thầm nói, - lẽ nào cuộc sống ta lại phụ thuộc vào từng tiếng rung của những chuông này! Ôi! - Chàng chắp tay khấn, - hỡi chuông, đừng buông lời! Hỡi khánh, đừng đánh tiếng! Hỡi lục lạc, đừng lúc lắc!

Chàng thử van xin Trouillefou lần cuối.

- Thế nhỡ gió thổi thì sao? - Chàng hỏi.

- Mày vẫn cứ bị treo cổ như thường, - hắn trả lời không do dự.

Thấy không còn thể lần khân, trì hoãn, lẩn tránh được nữa, chàng đành dũng cảm hành động. Chàng bắt chéo chân sang chân trái, đứng kiễng chân trái và giơ tay lên; nhưng đúng lúc sờ vào hình nộm, người chàng vốn chỉ đứng lò cò một chân, liền loạng choạng trên chiếc ghế khập khiễng ba chân; bất giác chàng định vịn vào hình nộm, liền bị mất thăng bằng và ngã phịch xuống đất, choáng váng vì trăm ngàn tiếng chuông từ người nộm vang lên tàn nhẫn, nó bị bàn tay vịn vào, liền quay tròn rồi hiên ngang đu đưa giữa hai cột.

- Chết tôi rồi! - Chàng thét lên, ngã lăn quay, mặt úp xuống đất như chết rồi.

Lúc đó, chàng vừa nghe thấy tiếng chuông khủng khiếp vang trên đầu, lẫn tiếng cười quái đản của lũ ăn mày, cùng tiếng Trouillefou sai bảo:

- Dựng ngay thằng ngốc đó dậy cho tao, rồi lập tức treo cổ nó lên.

Chàng nhổm dậy. Thằng bù nhìn đã được tháo ra để nhường chỗ cho chàng.

Lũ nói lóng bắt chàng trèo lên ghế. Clopin lại gần, đặt dây thòng lọng vào cổ rồi vỗ vai bảo:

- Vĩnh biệt anh bạn nhé! Bây giờ đừng hòng thoát nạn, dù sao mày cũng sẽ chết không kịp ngáp.

Cặp môi Gringoire khẽ thốt lên xin tha tội. Chàng đưa mắt nhìn quanh. Nhưng chẳng còn hy vọng, mọi người đều cười.

- Bellevigne de l’Étoile, hãy trèo lên xà ngang, - vua xứ Trouillefou bảo gã hành khất đồ sộ đang bước ra khỏi hàng.

Bellevigne de l’Étoile nhanh nhẹn trèo lên dóng gỗ bắc ngang và lát sau, Gringoire ngước cặp mắt khiếp hãi nhìn thấy hắn ngồi xổm ở cái xà trên đầu.

- Bây giờ, - Clopin Trouillefou nói tiếp, - hễ tao vỗ tay thì mày, Andry le Rouge, mày sẽ lấy đầu gối hất đổ cái ghế, François Chante-Prune, mày sẽ đánh đu vào chân thằng khốn kiếp: còn Bellevigne, mày nhảy lên vai nó; và cả ba đứa cùng một lúc, hiểu chưa?

Gringoire rùng mình.

- Sẵn sàng cả chưa?

Clopin Trouillefou hỏi ba tên nói lóng đang sẵn sàng nhảy xổ vào Gringoire như ba con nhện xông vào con ruồi. Gã nạn nhân tội nghiệp chờ đợi hãi hùng giây lát, trong khi Clopin ung dung lấy chân đá hất vào đống lửa mấy cành nho chưa cháy tới.

- Sẵn sàng cả rồi chứ? - Hắn hỏi lại và xòe tay định vỗ. Chỉ một giây nữa, thế là xong.

Nhưng hắn bỗng dừng lại, như nảy ra một ý định đột ngột.

- Khoan đã! - Hắn nói; - tao quên mất!... Theo tục lệ, ta không thể treo cổ một người trước khi hỏi xem có mụ đàn bà nào muốn lấy nó không. Này bạn, đó là dịp may cuối cùng cho mày. Mày phải kết hôn hoặc với con ăn mày hoặc với dây thòng lọng.

Luật lệ Bohémienne này, đối với độc giả, có vẻ quái gở thật đấy, nhưng hiện nay vẫn còn được ghi lại đầy đủ trong pháp chế cổ nước Anh. Hãy đọc Burington’s Observations thì rõ.

Gringoire thở phào. Đây là lần thứ hai trong vòng nửa giờ, chàng sống lại. Cho nên chàng cũng không tin tưởng lắm.

- Này! - Clopin trèo lên thùng thét to. - Hỡi bọn đàn bà, lũ giống cái, trong chúng mày, kể từ mụ phù thủy đến con mèo cái của mụ, có đứa khốn kiếp nào muốn lấy thằng khốn kiếp này không? Nào, Colette la Charonne! Élisabeth Trouvain! Simone Jodouyne! Marie Piédebou! Thonne la Longue! Bérarde Fanouel! Michelle Genaille! Claude Ronge-Oreille! Mathurine Girorou! Nào! Isabeau la Thierrye! Lại đây rồi xem đi! Một thằng đàn ông cho không! Đứa nào muốn lấy hả?

Gringoire trông thiểu não như vậy, hắn chẳng ngon mắt lắm. Các mụ ăn mày xem ra rất ít xúc động về đề nghị đó. Anh chàng khốn khổ thấy họ đáp:

- Không! Không! Cứ treo cổ nó lên, bọn tôi càng thích.

Tuy nhiên có ba mụ bước ra khỏi đám đông, và đến đánh hơi anh chàng xem sao. Đầu tiên là một ả phục phịch mặt vuông trằn trặn. Nó chăm chú ngắm cái áo ngắn tã nát của vị triết gia. Tấm áo khoác vải thô đã cũ và còn thủng lỗ chỗ hơn cả chiếc chảo rang hạt dẻ. Ả cau mặt:

- Đồ tã rách! - Nó làu bàu và hỏi Gringoire: - Áo choàng đâu?

- Tôi đánh mất rồi, - Gringoire đáp.

- Mũ đâu?

- Họ lột rồi.

- Giày đâu?

- Nó sắp mòn hết đế rồi.

- Túi tiền đâu?

- Chao ôi! - Gringoire ấp úng nói, - một xu dính túi cũng chả có.

- Thế thì hãy chịu treo cổ và nói cảm ơn đi! - Mụ ăn mày nói, rồi quay lưng đi.

Mụ thứ hai, già, đen nhẻm, nhăn nheo, xấu xí, xấu đến mức làm bẩn cả cung điện thần kỳ, đi vòng quanh Gringoire. Chàng gần như run lên chỉ lo mụ ta không vời đến. Nhưng mụ ta lẩm bẩm:

- Hắn gầy quá; - rồi mụ bỏ đi.

Ả thứ ba là một đứa con gái khá tươi trẻ và không đến nỗi xấu lắm.

- Cứu tôi với! - Anh chàng khốn khổ khẽ van xin. Nó thương hại ngắm nghía chàng giây lát, rồi cúi nhìn xuống, sửa lại nếp váy và đứng đó lưỡng lự, chàng dõi theo mọi cử chỉ; đây là tia hy vọng cuối cùng. Nhưng rồi cô gái bảo:

- Không! Không! Guillaume Longuejoue đánh tao mất.

Nó quay trở lại đám đông.

- Này bạn ơi, mày không may rồi. - Clopin nói.

Rồi hắn đứng lên thùng, hỏi:

- Không ai mua à? - Hắn rao lên, bắt chước giọng mõ tòa bán đấu giá, làm mọi người cười rộ, - một lần, không ai mua à? Hai lần, ba lần!

Rồi quay lại giá treo cổ, hắn gật đầu:

- Cho qua.

Bellevigne de l’Étoile, Andry le Rouge, François Chante-Prune lại gần Gringoire.

Giữa lúc đó, một tiếng reo lên từ đám dân nói lóng:

- Esmeralda! Esmeralda!

Gringoire giật mình và quay lại phía vừa cất tiếng reo. Đám đông giãn ra nhường lối cho một khuôn mặt sáng ngời, trong trắng.

Đó là cô Bohémienne.

- Esmeralda! - Gringoire thốt lên xúc động kinh ngạc vì cái tên thần kỳ đó đột ngột nối liền mọi kỷ niệm trong ngày của chàng.

Nhân vật hiếm có này, bằng vẻ quyến rũ và sắc đẹp, như chinh phục được cả Cung điện thần kỳ. Dân nói lóng cả nam lẫn nữ nhẹ nhàng dạt sang bên để nhường lối và khuôn mặt tàn bạo của chúng bỗng tươi tỉnh trước cái nhìn cô gái.

Cô nhanh nhẹn bước tới gần nạn nhân. Con dê Djali xinh đẹp theo sau. Gringoire đang như người sắp chết. Cô lặng lẽ nhìn chàng một lát.

- Bác sắp treo cổ người này à? - Cô nghiêm trang hỏi Clopin.

- Ừ, cô em ạ, - vua xứ Thunes trả lời, - trừ phi cô lấy hắn làm chồng.

Cô khẽ bĩu môi dưới thật duyên dáng.

- Tôi bằng lòng lấy, - cô nói.

Đến đây, Gringoire càng tin chắc từ sáng đến giờ mình toàn sống trong mơ và đây là mơ tiếp.

Quả thực, kịch biến tuy duyên dáng nhưng quá mạnh mẽ.

Họ tháo thòng lọng, cho nhà thơ bước xuống ghế. Chàng phải ngồi thụp xuống vì quá xúc động.

Quận công Ai Cập không nói nửa lời, mang tới cái vò đất sét. Cô Bohémienne trao nó cho Gringoire.

- Anh hãy đập xuống đất đi, - cô bảo chàng.

Cái vò vỡ tan.

- Hỡi chú em, - quận công Ai Cập liền đặt hai tay lên trán họ, - cô ta là vợ của chú; hỡi cô em, chú ấy là chồng của cô. Trong vòng bốn năm. Cô chú đi thôi.

Ca —★— Nhà Thờ Đức Bà Paris Văn học Kinh điển ebook©MotSAch TVE-4u©VCTVEGROUP —★— Nhà Xuất Bản Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh 2000
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.