Tôi đang nằm trên giường, tận tình thưởng thức thành quả chọn phòng và thả mình bên những chiếc gối êm ấm như thần tiên để sẵn trên giường. Đầu óc vừa lơ mơ được một lúc thì nghe tiếng căn hộ mở cửa ra, tiếng Số Chín rì rầm nói chuyện với ai đó. Tôi bật dậy cảnh giác, tim đập dồn. Khi ấy, tôi mới nhận ra đấy là nhân viên trực cổng tòa nhà chuyển mấy rương đồ đạc lên phòng. Tôi nằm lại. Bernie Kosar liếm gang bàn chân nói nó đi kiếm chút thức ăn.
“Chút nữa tớ cũng qua đó với cậu.” Tôi đáp lời BK, mắt trừng nhìn trần nhà, hai tay kê sau gáy.
Trần nhà có một lớp hoa văn thanh mảnh. Mí mắt nặng dần. Tôi chợt nhận ra mình không còn nhìn trần nhà nữa. Tôi đang ở ngoài trời, tuyết đang rơi.
“Tập trung nào, John!” Tôi nghe tiếng gọi giật từ phía sau. Quay lại thì thấy chú Henri đang ôm một đống dao bếp, cài xéo lấp ló sau lưng thêm một mũi dao.
“Chú Henri, mình đang ở đâu đây?” Tôi thét lớn.
“Hồi nãy con bị trúng đầu phải không?” Chú Henri hỏi. Chú đang mặc quần jeans và áo khoác trắng, áo quần đều tơi tả và nhuốm máu. Sau lưng chú, không biết ở đâu, hắt ra một thứ ánh sáng xanh, nhưng khi tôi cố nhìn cho rõ, vươn cổ đảo mắt xung quanh, thì chú Henri giận dữ: “Cố lên John! Làm gì mà cứ như mới tới đây lần đầu vậy? Chú cần cháu phải bắt đầu học cách tập trung tư tưởng. Ngay bây giờ.”
Trước khi tôi kịp phân trần, chú đã phóng ngay một mũi dao ghim thẳng vào mặt tôi, và phải đến giây cuối cùng tôi mới thoát trong gang tấc. Chú phóng luôn mũi thứ hai, thứ ba, và thứ tư. Tôi chặn rớt từng con một, nhưng chú còn cả một kho dao. Tôi ráng sức chống trả, nhưng càng lúc càng chật vật. Các mũi dao về sau càng lúc càng nhanh, phi vun vút.
“Chúng ta hồi nãy đang học chạy mà!” Tôi thét trả chú Henri, thân người lách tránh hai mũi dao đang song phi.
Mũi dao tiếp chú phóng thật nhanh, đến mức dù gạt rơi tay cũng sướt chảy máu. Chú thét: “Đâu phải lúc nào cũng ru rú trong Chicago, lơ lửng trên những tầng mây, nhớ chưa John!”
Mũi dao cắm tới, tôi chụp ngay cán rồi vút mạnh xuống sân tuyết trắng. Mảng tuyết xung quanh hóa đen kịt. Tôi chộp con dao tiếp và lại cắm xuống sân. “Nếu tìm thấy được nơi phù hợp, ta đã có một mái ấm thực sự rồi! Nhưng mình trước giờ đâu thực sự tìm tòi cho đàng hoàng. Bộ chú kết với thị trấn Paradise này hả? So với mọi nơi khác sao?”
“Chú đã cố hết sức rồi cháu ạ. Đây là nơi Malcolm Goode từng ở! Cháu đã tìm thấy cái máy tính bảng rồi, nhưng cháu thậm chí cũng chẳng rờ đến nó!” Chú Henri la to đáp. Ánh sang xanh sau lưng chú chợt tắt, bóng đen trên nền tuyết trắng lan rộng dần; một lát sau, hai chú cháu đang bơi trên một vùng biển đen tối. Chú Henri rút ngọn đao trên lưng chém xả xuống. Hai bàn tay tôi ép sát vô hông cố sức lách tránh. Lưỡi dao bay lượn trong không trung, lướt sát người, hết đợt này lại ùa đợt tiếp, và tôi thấy sắp bị chém vào huyệt mi tâm giữa trán. Mũi đao cách đích khoảng nửa thước, một bàn tay khổng lồ vươn ra bắt lấy. Là Setrákus Ra. Chỉ một động tác khéo léo, hắn đã nắm chặt cán đao, hoành ngang vai rồi hạ xuống, chém tiếp vào tôi.
Khi mũi đao cắm ngập vào sọ, tôi nghe hắn la to: “Pizza nguội rồi kìa!”
Tồi ngồi bật dậy, hóa ra mình vẫn trên giường, trong tòa nhà Hancock. Người tôi ướt đẫm mồ hôi, miệng thở hổn hển. Số Chín đang đứng ở cửa cầm đĩa đựng nguyên miếng pizza, miệng đầy thức ăn. Cậu ta vừa nhai vừa nói: “Thiệt chứ, ông bạn, ăn nóng mới ngon. Rồi còn luyện tập một chút trước khi hẹn hò với hai em gái nữa chứ.”
“Tôi vừa lại mơ thấy Setrákus Ra.” Tôi nói, giọng đều đều, lưỡi như dính lại. “Cả chú Henri nữa.”
Số Chín nuốt miếng bánh, một tay quơ quơ trước mặt, tay kia giữ rịt miếng bánh: “Ô, vậy hả? Quên đi là vừa. Toàn mộng với mị. Tôi vẫn hay tự nhủ như vậy, và sự thật luôn thế.”
“Vậy cậu có biện pháp chính xác nào để mơ cho trúng không?” Tôi vội hỏi nhưng cậu ta đã ra khỏi phòng. Tôi tuột xuống giường và hấp tấp vấp ngay ở ngoài cửa. Tôi thấy Bernie Kosar đang hung hăng ‘xử’ miếng bít tết rã đông trên sàn bếp. Phần pizza của tôi đang bốc khói nghi ngút trên bàn. Đã lâu không mơ thấy chú Henri nên cố tình quên hình ảnh mơ quả không dễ. Vừa ăn pizza, tôi vừa nghĩ đến những ngọn phi đao trong mơ, cảnh trời tuyết, tình huống hai chú cháu cùng thét khi mũi đao kia cắm vào người tôi. Chú có nhắc đến cái máy tính bảng, nhưng tôi vẫn thấy bất lực, không mày mò được gì hơn nên chỉ thỉnh thoảng liếc qua một chút. Trong thời gian qua, tôi quả ít ngó ngàng tới nó vì vẫn chưa hết cơn tức do cái máy hình như không hoạt động. Tôi nhấc chiếc Hộp khỏi ghế, mở nắp rồi lấy cái máy ra.
Màn hình vẫn một màu trắng xóa đáng ghét như mọi lần. Chỉ là một miếng kim loại vuông vắn với một màn hình không hoạt động, trắng xóa, vô dụng. Không sao kích hoạt được máy. Tôi lật tới lật lui rồi kiểm tra mấy cổng truyền năng lượng và dữ liệu. Các cổng đều có hình tam giác, khác hẳn với những loại thường gặp trên thị trường.
“Số Chín ơi!” Tôi gọi lớn.
Từ phòng giám sát, cậu ta đáp: “Trong này nè!”
Tôi ngoạm một miếng pizza rồi vừa nhai vừa sang phòng Số Chín, tay cầm theo cái máy tính bảng. Số Chín đang ngồi trên ghế xoay có bánh xe, hai chân gác lên mặt bàn điều khiển dài thượt nằm giữa mấy cái màn hình. Phần lớn các màn hình đều phân làm bốn cảnh. Số Chín gõ bàn phím đặt trong lòng, các màn hình xoay chuyển. Không có gì đáng chú ý.
Số Chín nháy mắt: “Cậu muốn tôi ưu tiên kiểm tra cái gi đây?”
“Ừ, nhập giùm tôi một cái tên. ‘Sarah Hart’ đi.”
Số Chín giật mái tóc đen dài của mình. “Á… a, thiệt hả, cậu ngốc? Trung trinh oanh liệt vậy hả? Chuyện nát đến thế này mà cái tên đó vẫn là ưu tiên một hả?”
“Đầu tôi chỉ nghĩ mấy cái tên này mà thôi.” Tôi đáp. “Cứ gõ đi.”
Số Chín nhập tên Sarah, nhưng tôi thất vọng khôn cùng vì chỉ hiện các thông tin vớ vẩn đại loại như thành tích học tập. Tôi bắt cậu ta tra tiếp các tên khác như khu ‘Paradise, Ohio’, ‘Sam Goode’ và ‘Henri Smith’. Các thông tin tìm được tôi đều đã biết: ngôi trường trung học bị tiêu hủy, hoạt động khủng bố nội địa, phần thưởng cho ai cung cấp thông tin liên quan đến hoặc tự tay bắt giữ lấy thủ phạm. Tôi chìa cái máy tính bảng cho Số Chín: “Nghe nè, Số Chín. Cậu giúp tôi cái này đi.” Tôi kể cậu ta nghe toàn bộ giấc mơ, về lời nhắn của chú Henri với cái máy tính.
“Cậu ngốc, ấm đầu cũng vừa vừa.” Số Chín nói. “Giấc mơ của cậu toàn chuyện riêng tư. Lại bảo tôi vọc cái máy này nữa. Lỡ hư hao gì rồi sao?”
“Cậu tha hồ mà quậy!” Tôi thở dài.
Cậu ta lật xấp ngửa cái máy tính rồi lấy tay dò từng phân một trên màn hình. Sau đó kiểm tra qua mấy cổng truyền dữ liệu. Số Chín tặc lưỡi: “Tôi nghĩ là…” Nói chưa dứt, cậu ta trượt chiếc ghế xoay mòng, rồi đi đến góc phòng chất cao những chiếc hộp màu nâu đã khui mở đặt trên một cái kệ. Số Chín thò tay vào cái hộp phía trên nói: “Tôi đã biểu mang mấy cái hộp này từ kho lên đây hết rồi. Mấy thứ này là gửi đến chú Sandor. Tôi muốn coi trong đó có gì giúp liên tưởng mấy món này với nhau…” Cậu ta gạt hai chiếc hộp đầu sang bên rồi giật mạnh cái hộp thứ ba ra khỏi kệ. Cậu ta mở nắp, lấy hai cái máy tính xách tay mới toanh và thét to: “Trúng mánh!” Số Chín bật đứng dậy, vẻ đắc thắng, tay giơ một sợi dây đen dày. Một đầu dây, thực kinh ngạc, là đầu cắm hình tam giác – thoáng nhìn thì y hệt với cổng dữ liệu trên máy tính bảng của tôi.
“Cái đó ở đâu ra vậy?”
“Tôi không biết. Chú Sandor mang theo từ Lorien đến đây đấy. Trước đây tôi cũng không có dịp nhìn thấy mấy món này, chứ đừng nói là sử dụng chúng. Tôi đã mấy lần lân la đến nhưng chú Sandor cứ khư khư giữ riết, không cho đụng vô, vì vậy không đi tới đâu. Nhưng cũng đôi lúc tôi lén được chút xíu. So với thiết bị trên trái đất, mấy món này khác biệt ra sao, tôi cũng không rành, vì thế lần này không chắc ăn lắm.”
Cậu ta lấy sợi dây dữ liệu, so đầu cắm hình tam giác với cổng dữ liệu trên cái máy của tôi. Hai đứa nín thở khi Số Chín cắm dây vào cổng. Vừa khớp, hai tên thở phào. Chậm rãi, cậu ta cắm đầu kia vào ổ cắm USB của cái máy vi tính cần nhất. Một làn đen hiện ngang trên màn hình máy tính bảng, vài giây sau hiện lên bản đồ Địa Cầu. Lần lượt, bảy điểm xanh nhấp nháy xuất hiện: hai khu vực Chicago, bốn ở khu vực Ấn Độ hay Trung Hoa, một hình như ở khu vực Jamaica.
“Ui…I, bạn thân mến.” Số Chín thốt lên rồi nín bặt một chút. “Tôi nghĩ tụi mình đó. Toàn bộ mấy đứa tụi mình.”
“Woa, cậu đúng. Vị trí của tụi mình, tất cả tụi mình.” Tôi thì thào. “Vậy mình không cần phải dùng thiết bị đại vũ trụ nữa rồi.”
“Khoan đã, sao có tới bảy chấm, tụi mình còn lại có sáu mạng mà.” Số Chín đăm chiêu cau mày.
Tôi ngả người ra sau thoải mái: “Chẳng phải tôi đã kể cậu là còn một con tàu nữa sao?”
“Ờ, hả, vậy thì đúng rồi.” Cậu ta đáp vẻ như một cậu học sinh ham hiểu biết vừa được giải đáp thắc mắc.
“Ừ, tôi biết trên đó có một em bé còn nằm ngửa. Con tàu này có lẽ cũng đáp xuống Địa Cầu! Như thế điều đó có nghĩa là…”
“Setrákus Ra phải đương đầu với bảy người chúng ta, không phải là sáu.” Số Chín ngắt lời tôi. “Càng đông càng vui!”
Trong lúc hai đứa đang mải thảo luận tình huống mới này, một ô vuông nhỏ xuất hiện ở góc phải màn hình máy tính bảng với hình tam giác lọt bên trong. Tôi chạm vào hình tam giác thì hai chấm xanh hiện trên bản đồ. Một khu vực Tây Nam nước Mỹ, một ở khu vực Bắc Phi, có lẽ là Ai Cập.
“Cậu thử nghĩ coi, hai cái này là gì vậy?” Tôi đặt câu hỏi. “Có phải là bom nguyên tử? Bom của bọn Mog? Khốn kiếp, cậu có nghĩ là tụi nó dám cho nổ tung Địa Cầu không?”
Số Chín vỗ nhẹ lưng tôi: “Không đâu. Cậu nghĩ lại đi. Bản đồ này là dành cho ưm… tụi mình. Còn bom của bọn Mog thì thuộc loại khác. Tôi nghĩ đây là phi thuyền của chúng ta, cậu ngốc à.”
Tôi không thốt nên lời. Việc này có ý nghĩa vô cùng to lớn. Nếu thực sự là vậy, những mơ ước kỳ diệu tôi từng ấp ủ sẽ có khả năng thành hiện thực. Tiêu diệt xong Setrákus Ra, Địa Cầu sẽ được giải cứu, chúng tôi sẽ thực sự được về nhà – về lại Lorien. Chúng tôi sẽ góp sức mang lại sự sống cho hành tinh này. Chúng tôi có thể về nhà. Tôi chợt thèm đến bất lực, muốn biết chính xác vị trí điểm sáng ở khu vực Tây Nam, địa điểm gần chúng tôi nhất. “Đây là đâu vậy?” Chỉ tay vào điểm sáng tôi hỏi Số Chín.
Số Chín tra bản đồ trên một màn hình lớn rồi đáp: “Điểm sáng phía tây thuộc khu vực New Mexico, còn điểm kia là khu vực Ai Cập.”
Vừa nghe chữ ‘phía tây’, tôi chợt nhớ lời tiết lộ cuối cùng của Đặc cảnh Walker. Lập tức tôi quyết định luôn: “Tụi mình cần đến đó. New Mexico.”