6A. Thật chứ? Tôi nhìn tấm thẻ lên máy bay, dòng chữ in lớn là số ghế ngồi, tự hỏi không hiểu chú Crayton chọn ghế này có dụng ý gì không. Có thể chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên, nhưng căn cứ theo diễn tiến mọi việc gần đây, tôi không còn mấy tin tưởng vào những chuyện tình cờ nữa. Tôi cũng sẽ chẳng ngạc nhiên nếu như Marina ngồi sau lưng tôi ở hàng số 7 và Ella thì ở tận hàng ghế số 10. Ấy, nhưng không, cả hai cũng đang ngồi yên lặng cạnh tôi, cùng săm soi tấm thẻ lên máy bay của mình. Là những con mồi luôn bị săn đuổi, chúng tôi lúc nào cũng trong trạng thái cảnh giác cao độ. Ai biết được bọn Mogadore sẽ đột ngột xuất hiện lúc nào.
Chú Crayton sẽ là người cuối cùng lên máy bay, sau khi chú đã theo dõi chắc chắn rằng không có kẻ nào trong đám kia cũng lên khoang và chỉ sau khi chú cảm thấy chuyến bay đã tuyệt đối an toàn.
Tôi kéo màn che cửa sổ lên nhìn toán nhân viên mặt đất đang hối hả làm việc dưới bụng máy bay. Thành phố Barcelona là một vệt mờ xa xa.
Đầu gối của Marina đang nảy tưng tưng theo nhịp chân điên cuồng sát sạt chân tôi. Cuộc chiến chống cả băng Mogadore bên bờ hồ ngày hôm qua, cái chết của Cêpan cô ấy, việc tìm chiếc Hộp – và giờ đây, lần đầu tiên cô phải rời khỏi thành phố cô đã – trong suốt gần mười năm – trải qua thời thơ ấu. Cô bạn đang rất căng thẳng.
“Mọi thứ ổn chứ?” Tôi hỏi. Mái tóc vàng mới nhuộm xòa xuống mặt khiến tôi giật mình. Tôi quên sáng nay mình vừa đổi màu tóc. Đây chỉ là một trong số các tiểu xảo phải làm trong bốn mươi tám giờ qua.
Marina thì thầm: “Mọi thứ có vẻ bình thường.” Mắt cô dán vào lối đi chật người phía trước. “Tụi mình an toàn, cho tới giờ này.”
“Tốt. Nhưng ý mình không định hỏi thế.” Tôi nhẹ nhàng ấn chân mình lên bàn chân của Marina, và cô ngưng lại. Cô nhanh chóng nhoẻn miệng cười xin lỗi rồi lại săm soi vé lên máy bay. Vài giây sau, Marina lại “rung đùi”, và tôi chỉ còn nước lắc đầu.
Tôi thấy thương Marina. Cô như một ốc đảo bị cô lập tại một trại trẻ mồ côi xa xôi hẻo lánh, sống cùng Cêpan của mình nhưng lại không được người giám hộ kia huấn luyện rèn giũa. Cêpan của Marina đã ‘quên’ lý do tại sao ngày xưa chúng tôi phải đến Địa Cầu này. Lúc này đây, tôi phải ra sức giúp đỡ Marina, giúp cô lấp đầy các chỗ trống kia. Tôi có thể tập cho cô kiểm soát sức lực, khi nào nên sử dụng Biệt Năng (là hệ thống gồm các tri thức, năng lực, thực lực vv đặc thù). Nhưng trước tiên, tôi đang cố tập Marina biết tin tưởng nơi tôi.
Bọn Mogadore sẽ phải trả giá cho những tội ác chúng đã gây nên. Vì đã cướp đi bao sinh mạng của những người chúng tôi từng yêu mến, tại đây – trên trái đất này – và nơi hành tinh Lorien. Nhiệm vụ riêng của tôi là tiêu diệt bọn chúng, đến tận tên cuối cùng và tôi dám chắc Marina cũng sẽ góp tay cùng tôi phục thù. Cô không những mất đi người bạn thân nhất là Héctor bên bờ hồ, mà cũng như tôi, cô phải chứng kiến cảnh Cêpan của mình bị sát hại. Mãi mãi trong tim mình, chúng tôi mang theo hình ảnh bi thảm đó.
Ella choàng tay qua người Marina: “Bên dưới có gì không vậy, chị Số Sáu?”
Tôi quay người về hướng cửa sổ. Bên dưới, các nhân viên bắt đầu dọn dẹp dụng cụ, kiểm tra những bước cần thiết cuối cùng. “Mọi chuyện vẫn ổn.”
Chỗ ngồi của tôi gần ngay cửa sổ, điều này làm cho tôi yên tâm. Không ít hơn một lần, tôi đã từng sử dụng Biệt Năng của mình để giúp phi công thoát nạn. Có lần, khi đang bay trên bầu trời nam Mexico, tôi đã dùng trí lực đẩy máy bay lệch sang phải hơn chục độ, chỉ vài giây trước khi đâm vào vách núi. Năm ngoái, tôi đã cứu mạng 124 hành khách trên một chuyến bay ngang qua bầu trời Kansas trong một cơn bão khốc liệt: phủ quanh khắp thân máy bay bằng một lớp đệm mây không khí mát rượi rồi lướt qua cơn bão như một viên đạn xuyên tờ giấy mỏng.
Khi các nhân viên mặt đất di chuyển sang chiếc máy bay kế tiếp, tôi theo dõi ánh mắt của Ella đang tìm kiếm trên khắp lối đi. Chúng tôi ai nấy đều mong nhìn thấy bóng dáng chú Crayton trong khoang máy bay này. Như thế có nghĩa là mọi việc đều ổn, ít ra là như vậy cho đến thời điểm hiện tại. Mọi ghế đều đã có người ngồi, trừ mỗi một chỗ phía sau Ella. Chú ấy đâu rồi nhỉ? Tôi liếc nhìn ra máy bay lần nữa, kiểm tra từng li từng tí xem có chuyện gì bất thường hay không.
Tôi cúi người xuống và đẩy cái ba lô sát vào dưới ghế. Vì ba lô hầu như không chứa gì nên dễ dàng gấp gọn lại. Chú Crayton đã mua cho tôi tại sân bay. Theo ý chú, ba đứa phải trông như ba cô bé học sinh trung học, giờ đang đi dã ngoại. Đây cũng là lý do vì sao trong lòng của Ella là cuốn sách giáo khoa sinh vật học.
“Số Sáu này!” Marina gọi. Tôi nghe thấy tiếng cô hết cài dây đai an toàn rồi lại mở - một cách lo lắng.
Tôi đáp: “Sao hả?”
“Bồ đã bao giờ đi máy bay chưa?”
Marina sinh ra trước tôi chỉ một năm, nhưng với ánh mắt đăm chiêu, mái tóc mới cắt điểm lên vài nét thạo đời, cô trông ra dáng thiếu nữ trưởng thành lắm. Vậy mà lúc này, cô lại đang cắn móng tay, co chân lên ngực như một đứa bé sợ hãi.
“Rồi.” Tôi đáp. “Không có gì đâu. Thực sự là một khi bồ bớt căng thẳng, bồ thấy chuyện này còn hấp dẫn là đằng khác.”
Ngồi trên chiếc máy bay này, tôi hướng về cô Katarina – Cêpan của tôi. Không vì tôi chưa từng bay cùng cô. Hồi tôi chín tuổi, chúng tôi đã bị một tên Mogadore ép phải thoát đi một chuyến nguy hiểm tận đường tơ kẽ tóc đến một con hẻm ở Cleveland khiến cả hai run bần bật và cả người đầy bụi. Cô Katarina sau đó đã đi tiếp đến Nam California. Căn nhà sàn hai tầng đang xuống cấp cạnh bờ biển hầu như chìm vào bóng đen của Sân Bay Quốc Tế Los Angeles. Mỗi giờ, cả trăm chiếc máy bay gầm thét trên đầu chúng tôi, khiến những lời giảng dạy hướng dẫn của cô (cũng như những giờ phút được chơi đùa cùng người bạn duy nhất thuở ấu thơ, một cô bé gầy gò nhà bên tên Ashley) luôn bị đứt đoạn.
Tôi đã sống dưới cánh những chiếc máy bay kia suốt bảy tháng. Chúng là chiếc đồng hồ báo thức cho tôi hàng sáng với những tiếng gào thét đập vào tận giường ngủ mỗi khi ánh mặt trời lên. Đêm đến, chúng là những bóng ma ám ảnh, bật giằng tôi khỏi giấc ngủ, khiến tôi chực tung mình khỏi chăn để chạy vào xe trong tích tắc. Vì cô Katarina không cho phép tôi lang thang xa nhà, những chiếc máy bay này còn là những ‘dòng nhạc réo rắt’ vọng tai mỗi chiều.
Một chiều nọ, khi đợt sóng âm rung dội từ chiếc máy bay khổng lồ đang bay qua đầu làm sánh lớp nước chanh trong ly nhựa, Ashley buột miệng nói: “Mình với mẹ tháng sau ghé thăm ngoại. Mình mong muốn chết! Cậu đã bao giờ đi máy bay chưa?” Ashley hay kể cho tôi nghe những nơi đã đi qua hay những chuyện nó đã làm cùng gia đinh. Vì biết cô Katarina và tôi ở suốt trong nhà, Ashley khoái tám để khoe tôi.
“Thì cũng…” Tôi ngập ngừng.
“Cậu nói gì thế? ‘thì cũng’ là sao? Cậu đã đặt chân lên một chiếc máy bay nào chưa? Thú nhận đi. Chưa chứ gì.”
Tôi vẫn còn nhớ cảm giác mặt nóng ran lên vì phát nghẹn. Ashley đã ép tôi đến nước này! Cuối cùng tôi đáp: “Chưa. Mình chưa bao giờ đặt chân lên một chiếc máy bay nào cả.” Khi ấy, tôi muốn nói cho nó biết rằng: tôi đã từng lên một thứ khác – to hơn, ngon lành hơn và dữ dằn hơn nhiều so với một cái máy bay cỏn con. Tôi muốn cho nó hay là tôi đã bay trên một phi thuyền từ một hành tinh khác có tên Lorien đến Địa Cầu này, rằng tôi đã vượt một quãng đường đến những một trăm triệu dặm. Nhưng tôi không dám nói, vì biết phải giữ kín chuyện hành tinh Lorien.
Ashley cười vang nhạo tôi. Chẳng thèm chào tạm biệt, nó quày quả chạy về nhà chờ cha đi làm về.
“Tại sao mình chưa lần nào đi máy bay vậy cô?” Tối đó tôi hỏi cô Katarina lúc cô nép sau tấm màn che cửa sổ phòng ngủ của tôi để theo dõi động tĩnh bên ngoài.
“Nè Số Sáu!” Cô vừa trả lời quay lại nhìn tôi rồi vội chỉnh sửa: “Ý cô là, Veronica, con nè, đi máy bay thì nguy hiểm lắm. Lên đó, coi chừng mắc bẫy liền! Con thử nghĩ coi, đang bay cách mặt đất vài ngàn dặm mà lỡ bọn Mogadore xuất hiện sau khi bám lên cùng máy bay thì sao?”
Tôi biết quá rõ kết cục câu chuyện loại này. Trong đầu tôi nảy ra bao hình ảnh hỗn loạn: hành khách trên máy bay thét la sợ hãi, co người trốn dưới ghế khi hai ba tên lính ngoài hành tinh kia lăm lăm chiếc kiếm xộc giữa lối đi. Nhưng chuyện này cũng không ngăn nổi ước mơ giản dị nơi tôi: được làm một điều bình dị như bao con người bình thường khác – đáp máy bay từ thành phố này sang thành phố kề cận. Tới ngày này, tôi đã ở trên trái đất không biết bao năm tháng, nhưng cũng không được làm lắm điều mà trẻ con nơi này vẫn xem là chuyện nhỏ. Chúng tôi thậm chí hiếm khi dám ở lâu lại một nơi, nên gặp gỡ các bạn nhỏ khác cũng là chuyện khó gặp, đừng nói đến chuyện kết bè kết bạn với ai nữa. Ashley là cô bé đầu tiên mà cô Katarina cho phép vô nhà chơi với tôi. Đôi lúc, như hồi ở California, tôi thậm chí còn không được đi học, vì theo ý cô katarina, như thế sẽ an toàn hơn.
Tất nhiên tôi hiểu những biện pháp cần thiết này. Thông thường, tôi cũng không để tâm lắm. Nhưng cô Katarina thấy rõ tôi chịu tác động không ít vì thái độ ‘trên cơ’ của Ashley. Thấy vẻ im lặng của tôi trong suốt mấy ngày, cô chắc cũng cầm lòng không được, nên trước sự ngạc nhiên của tôi, cô đã mua cặp vé khứ hồi cho hai cô cháu đi Denver. Đi đâu cũng được – cô biết tôi chỉ muốn được bay.
Quá phấn khích, tôi khoe ngay với Ashley.
Nhưng vào ngày khởi hành, tới lúc đứng ngay bên ngoài sân bay, cô Katarina chợt lưỡng lự. Cô trông có vẻ như dại hẳn. Cô lùa tay vào mái tóc đen cắt ngắn. Tóc cô mới nhuộm hồi đêm qua, chỉ nhằm tạo ra một bộ dạng mới. Một gia đình năm người đang đi ngang qua chúng tôi bên hàng rào chắn, kéo theo mớ hành lý nặng nề lỉnh khỉnh, và bên trái tôi là hình ảnh một bà mẹ ướt đẫm nước mắt vẫy chào tạm biệt hai cô con gái nhỏ. Tôi không có một ước mơ nào hơn: được chia sẻ một phần trong cảnh đời thường nhật rất bình dị này. Cô Katarina đăm đăm nhìn mọi người xung quanh, quên bẵng tôi đang bồn chồn bên cạnh.
Cuối cùng cô nói: “Thôi, mình về con. Cô xin lỗi con, Veronica à. Nhưng chuyện này không đáng.”
Chúng tôi lái xe về trong thinh lặng, để tiếng máy bay gầm rú trên đầu trả lời hộ. Khi bước ra khỏi xe, tôi thấy Ashley đang ngồi trên thềm trước cửa nhà. Nhìn tôi bước vào nhà, con nhỏ vọng tới một câu “đồ ba xạo”. Còn nỗi nhục nào hơn!
Nhưng đúng là, tôi là ‘đồ ba xạo’. Số phận thật trớ trêu! Từ ngày đặt chân lên Địa Cầu này, tôi đã phải nói dối biết bao điều: tên mình, quê quán, nguyên quán, lý do tại sao không được phép ngủ đêm tại nhà một cô bạn cùng lớp. Nói dối là nghề của tôi và cũng nhờ thế mà tôi sống sót tới nay. Nhưng khi Ashley hôm đó gọi tôi là “đồ ba xạo”, vào lúc tôi nói thực, lòng tôi dậy lên nỗi giận dữ khôn nguôi. Tôi lao vào phòng, đóng sầm cửa lại, đấm mạnh vào tường.
Quá ngạc nhiên, tôi đấm thủng cả bức vách dày.
Cô Katarina tông cửa phòng ra, vung con dao bếp lên chuẩn bị chiến đấu. Cô ngỡ tiếng động vừa rồi là do bọn Mog. Khi thấy ‘kiệt tác’ của tôi, cô phát hiện ngay trong người tôi có bước chuyển biến lớn. Hạ con dao xuống, cơ mỉm cười: “Hôm nay mình không đi máy bay, nhưng là ngày sau con bắt đầu được huấn luyện rồi.”
Bảy năm sau, lúc này đang ngồi trên máy bay cùng Marina và Ella, tôi vẫn còn nghe tiếng nói cô Katarina vang lên trong đầu: “Lên đó, coi chừng mắc bẫy liền!” Nhưng bây giờ, tôi đã có chuẩn bị để đón đợi tình huống này xảy ra, một sự chuẩn bị ngoài dự liệu của cả cô Katarina lẫn của tôi.
Trong suốt những năm sau đó, tôi bay đến hàng chục lần, tất cả đều xuôi chèo mát mái. Tuy nhiên, đây là lần đầu tiên tôi không dùng Biệt Năng của mình để kiểm tra khắp khoang máy bay. Tôi biết mình hiện giờ đã mạnh hơn rất nhiều. Theo năm tháng, sức chiến đấu của tôi càng ngày càng nâng cao. Nếu có một hai tên Mog trên máy bay lao đến trước mặt tấn công tôi, đối diện chúng sẽ không còn là một cô gái nhỏ yếu ớt nữa. Tôi biết năng lực của bản thân. Giờ tôi là một người lính, một chiến sĩ. Tôi lè kẻ khiến đối phương phải sợ hãi,không còn là con mồi cho kẻ khác săn đuổi.
Marina thả lỏng đầu gối, ngồi thẳng dậy, thở ra một hơi dài. Cô nói khẽ khàng: “Mình sợ. Mình chỉ muốn tan vào không khí.”
Tôi trầm giọng: “Chuyện rồi sẽ ổn thôi.”
Cô bạn nhoẻn miệng cười và tôi mỉm cười đáp lại. Hôm qua trên chiến trường, Marina đã chứng tỏ mình là một đồng đội đáng tin cậy với phần Biệt Năng thần kỳ, độc đáo. Cô có thể thở trong nước, nhìn trong bóng đêm, chữa lành bệnh tật và mọi vết thương. Như mọi Chiến Binh Tinh Nhuệ, cô cũng có khả năng dùng trí lực điều khiển sự vật. Và vì chúng tôi quá gần nhau, tôi Số Sáu và cô Số Bảy, sự liên hệ giữa hai người càng thêm đặc biệt. Khi lời nguyền còn hiệu lực, muốn sát hại chúng tôi, phải đi đúng thứ tự, và bọn Mogadore sẽ phải bước qua xác tôi rồi mới giết được Marina. Và bọn chúng chưa bao giờ đốn ngã được tôi.
Ella ngồi phía bên kia Marina. Trong khi tiếp tục đợi chú Crayton, cô bé mở cuốn sách sinh học ra, chăm chú lật từng trang. Trước tình huống này, cắm cúi đọc như thế là không nên, và tôi định nhoài người sang nhắc nhở. Nhưng rồi tôi phát hiện cô bé chẳng hề đọc sách. Ella chỉ giả vờ giở sách, giả vờ lật trang để ngụy trang, thực sự đang dùng trí lực theo dõi tình hình xung quanh. Mọi chuyện vẫn nằm trong tầm kiểm soát.
Ella được chú Crayton gọi là Aeternus, tức người có khả năng thay đổi tuổi tác. Hiện nay, cô bé còn nhỏ, và Biệt Năng chưa phát triển trọn vẹn. Cần phải có thời gian, tuy rằng lúc này cô bé như đã mất kiên nhẫn trước sự ì ạch, chậm lụt của bản thân.
Ella đã đến trái đất trên một con tàu khác, sự tồn tại của con tàu này tôi hoàn toàn không biết, mãi đến khi, theo lời Số Bốn là John Smith kể lại, cậu đã thấy được điều này trong giấc mơ. Khi ấy Ella chỉ là một đứa bé gái còn ẵm ngửa, vậy hôm nay cô mới mười hai. Chú Crayton nói rằng chú là một Cêpan không chính thức của Ella; vì khi ấy, mọi việc xảy ra quá gấp gáp, nên chú chưa được chính thức bổ nhiệm. Như mọi Cêpan khác, chú có nhiệm vụ giúp Ella phát huy Biệt Năng của cô bé. Theo lời chú, trên tàu vũ trụ của Ella, còn có cả một bầy Chimæra, đấy là những con thú từ hành tinh Lorien có khả năng biến hình và chung sức chiến đấu cùng chúng tôi.
Tôi mừng là có Ella ở cùng. Sau khi Số Một, Số Hai và Số Ba đã chết, còn lại sáu người chúng tôi. Với Ella, chúng tôi sẽ là bảy người. Số Bảy sẽ may mắn, nếu bạn tin dị đoan. Tôi thì không. Tôi chỉ biết tin vào thực lực của chính mình.
Cuối cùng, chú Crayton cũng xuất hiện, len lỏi dọc theo lối đi, tay cầm chiếc cặp đen. Chú đeo kính và mặc bộ vest nâu có vẻ hơi quá khổ. Dưới chiếc cằm mạnh mẽ là cái cà vạt màu xanh dương, chú đóng vai thầy giáo của chúng tôi.
“Chào các cô gái,” chú nói, ngừng bên chúng tôi.
“Chào thầy Collins,” Ella đáp.
Marina nói: “Máy bay không một chỗ trống.” Đây là mật mã báo hiệu mọi người đều có mặt đầy đủ, an toàn trên máy bay. Muốn báo chú tình hình phía dưới mặt đất vẫn bình thường, tôi nói: “Con tính sẽ cố ngủ một giấc.”
Chú gật đầu và ngồi xuống chỗ của mình, ngay phía sau Ella. Chồm người ra phía trước, giữa Marina và Ella, chú nói: “Mấy con ráng tận dụng thời gian trên máy bay nhé. Tập trung học bài vào.”
Câu này hiểu ngầm là chúng tôi chớ buông lơi cảnh giác.
Tôi không biết nên nghĩ gì về chú Crayton khi hai chú cháu gặp nhau lần đầu. Chú vẻ nghiêm khắc, dễ mất bình tĩnh, nhưng con tim chú biết đặt đúng chỗ, và chú có kiến thức về thế giới cũng như các vấn đề thời sự - phải nói là nhiều vô kể. Dù chính thức hay chưa, chú đã nghiêm túc đảm nhận vị trí của một Cêpan. Chú nói sẵn sàng hy sinh làm bất cứ điều gì để đánh bại bọn Mogadore – để trả thù cho chúng tôi. Tôi hoàn toàn tin tưởng nơi chú.
Tuy nhiên, khi lên chiếc máy bay đáp đến Ấn Độ này, tôi vẫn thấy đôi chút miễn cưỡng. Tôi muốn quay lại Mỹ ngay, về với John và Sam. Nhưng ngày hôm qua, khi đang đứng trên con đập chắn nước, nhìn về phía những xác chết vương vất nơi ven hồ, chú Crayton nói rằng gã thủ lãnh quyền uy của bọn Mogadore là Setrákus Ra – nếu chưa thì mấy bữa nữa – cũng sẽ tới trái đất. Setrákus Ra đến đây là dấu hiệu cho thấy chúng đã đánh hơi được mối de dọa nơi chúng tôi và sau đó sẽ là cả một chiến dịch tiêu diệt. Setrákus Ra thuộc loại bất khả chiến bại. Chỉ mỗi Pittacus Lore là Trưởng Lão mạnh nhất hành tinh Lorien mới đánh lại hắn. Chúng tôi phát hãi. Nếu hắn bất khả chiến bại, vậy số phận của bọn tôi sẽ ra sao? Khi Marina đặt vấn đề: làm sao chúng tôi có thể chống lại Setrákus Ra, chú Crayton hé ra một tin chấn động cả bọn, đây là điều mà tất cả Cêpan đều tin tưởng: một Chiến Binh Tinh Nhuệ - tức là một trong chúng tôi – sẽ tiếp nhận sức chiến đấu của trưởng lão Pittacus Lore, sẽ mạnh như chính ông và sẽ đủ sức đánh bại Setrákus Ra. Chúng tôi chỉ biết người đó không phải là Số Một, Số Hai và Số Ba, vì đây phải là một kẻ còn sống trong số còn lại này. Chúng tôi phải chờ đợi xem đấy là ai và vớt vát một hy vọng rằng sức mạnh kia sớm bộc phát.
Theo chú Crayton, chú đã biết đấy là ai – người Chiến Binh Tinh Nhuệ với sức mạnh của Pittacus Lore.
Sau đó chú nói: “Chú mới đọc mấy tin tức, thấy ở Ấn Độ có một cậu bé với sức mạnh thần kỳ. Cậu ta sống trên dãy Hi Mã Lạp Sơn cao vút. Một số người cho đấy là hóa thân của thần Vishnu, theo một số khác, đấy là một tên lừa bịp có năng lực thay hình đổi dạng.”
“Giống con vậy hả ba?” Ella hỏi kiểu xưng hô cha con này khiến tôi ngạc nhiên. Tôi không khỏi hơi chạnh lòng, có chút ganh tỵ vì cô bé còn Cêpan, vẫn còn người để dựa vào.
“Cậu ấy không thể thay đổi tuổi tác, Ella à. Cậu ta có thể biến hình thành các loài thú này nọ. Càng tìm hiểu thêm về cậu bé này, chú càng tin chắc đây là một Chiến Binh Tinh Nhuệ như bọn cháu, và chú càng thêm tin tưởng rằng đây là người có được tập trung đầy đủ Biệt Năng, là người đủ sức chống và tiêu diệt Setrákus Ra. Chúng ta cần tìm ra cậu bé – càng sớm càng tốt,”
Lúc này tôi không muốn chơi trò săn vịt trời quá phiêu lưu này. Tôi biết John hiện đang ở đâu cũng như vị trí cậu ấy sẽ đến. Tôi vẫn nghe giọng cô Katarina vang bên tai, khẩn thiết khuyên tôi nên hành động theo tiếng nói bản năng của mình, có nghĩa là liên lạc với John sẽ là ưu tiên hàng đầu, sau đó hẵng làm chuyện khác. Đây là nước ít nguy hiểm nhất. Chắc chắn là ít nguy hiểm hơn nếu so với chuyện bay vòng vòng trên trời chỉ vì chút linh cảm của chú Crayton cùng mớ tin đồn vô cớ trên internet.
“Đây có thể là một cái bẫy rập.” Tôi đáp lời chú. “Nhỡ như những câu chuyện kia được dàn dựng là để nhằm vào chúng ta, vậy chẳng phải những gì mình đang cố vùng vẫy chỉ là để chui vào chiếc rọ kia?”
“Chú hiểu mối quan ngại của cháu, Số Sáu ạ. Nhưng cháu cứ tin ở chú. Chú là bậc thầy cấy tin giả trên mạng mà. Trường hợp này hoàn toàn khác. Vì có vô số nguồn khác nhau nhưng đều hướng đến cậu bé Ấn Độ kia. Cậu ta chưa một lần chạy đi đâu, trốn đi đâu cả. Cậu ta đơn giản là vẫn tồn tại ở đấy và có vẻ có nhiều quyền năng. Nếu cậu bé cũng như tụi cháu, chúng ta phải gặp được cậu ta trước bọn Mogadore. Ngay khi chuyện này làm xong, chúng ta sẽ sang Mỹ gặp Số Bốn.” Chú Crayton đáp.
Marina nhìn tôi. Cô muốn gặp John không kém gì tôi – cô đã theo dõi sát sao trên mạng các tin tức về John và có cùng linh cảm (và cảm nhận được tôi xác nhận): John là một trong chúng tôi. Marina hỏi: “Chú hứa chắc chứ?” Chú Crayton gật đầu.
Giọng cơ trưởng vang lên, cắt ngang dòng suy nghĩ mơ màng của tôi. Máy bay chuẩn bị cất cánh. Tận đáy lòng, tôi rất muốn chuyển hướng máy bay, nhắm hướng Tây Virginia mà đáp, đến với John và Sam. Hy vọng hai người vẫn bình yên. Hình ảnh John bị bắt giam không thể rứt khỏi tâm trí tôi. Lẽ ra tôi không nên kể với John về căn cứ trên núi của bọn Mog, nhưng vì John muốn đoạt lại chiếc Hộp, mà tôi không đủ khả năng thuyết phục cậu gạt chuyện đó sang một bên.
Máy bay chầm chậm chạy trên phi đạo và Marina thộp lấy cổ tay tôi: “Mình thực lòng muốn có Héctor ở đây. Cậu ta biết phải nói gì với mình trong giờ khắc này.”
“Chị đừng sợ gì cả.” Ella nói, đưa tay nắm chặt bàn tay bên kia của Marina. “Chị còn em với chị Số Sáu mà.”
“Hay tụi mình kiếm chuyện gì vui vui cùng nói nha?” Tôi gợi ý.
“Cảm ơn mấy bồ.” Marina nói, mấy lời nghe như muốn nghẹn. Để mặc móng tay cô hằn sâu vào cô tay, tôi nhoẻn cười trấn an. Chỉ vài giây nữa thôi, chúng tôi đã ở trên bầu trời.