Tôi đang úp mặt xuống lớp cát nóng rãy. Cát chui vào đầy miệng, đầy cả lên mũi, đến nghẹt thở. Tôi biết phải đứng dậy gấp, hay ít nhất cũng phải trở người lại, nhưng xương khớp đau ê ẩm. Tôi ráng nhắm nghiền mắt, tập trung tinh thần chặn cơn đau khắp toàn thân. Cuối cùng, sau khi cố gắng hết sức để đứng dậy, hai bàn tay vừa chỏi xuống đỡ thân mình thì lớp cát nóng rẫy kia thiêu trụi mọi nỗ lực, nên tôi đành buông người ngã xuống.
“Marina ơi!” Tôi rên rỉ.
Không có tiếng cô bạn đáp trả. Không sao mở mắt, tôi đành dỏng tai lên nghe, dò tìm dấu vết sự sống ở xung quanh. Nhưng tất cả những gì tôi đang nghe được chỉ là tiếng gió rít cùng cát bay, quất đập khắp thân người.
Tôi cố mở miệng nhưng không thốt nổi lời nào. “Marina ơi! Còn ai nữa không, cứu mình với? Số Tám đâu rồi? Bé Ella đâu nữa rồi? Còn ai nữa?” Đầu óc tôi rối mù nên thầm cứu cả chú Crayton. Nằm im chờ hồi âm lúc lâu, tôi mới chợt nhớ đến cảnh chú Crayton đã chết. Trong đầu tôi lần lượt tái diễn cảnh bé Ella hai mắt nhòa lệ, bọn Mog tấn công dồn dập, tôi đan tay vào khuỷu tay Marina, Số Tám hô to: “Được rồi, chúng ta đi thôi.”
Mặt trời đỏ rực trên đỉnh đầu như đổ một chảo lửa lên cổ, lên vai. Cuối cùng, tôi cũng cố gắng lật ngửa người, giơ tay che bớt ánh mặt trời chói chang như xé mắt. Chậm rãi chớp đôi mi, tôi từ từ mở hé mắt. Xung quanh không một bóng người. Ngút ngàn toàn cát trắng. Tôi cố cử động đôi chân, trong đầu vẫn hy vọng những lời sau cùng của Số Tám: “Tôi hy vọng sẽ thành công. Tôi chưa thử qua với ai cả.”
Thực tế có vẻ lần này thất bại thực rồi. Cũng có thể mọi người đã dịch chuyển thành công, nhưng riêng tôi thì không. Vậy bé Ella và Marina đã được đưa đến đâu? Hai chị em có cùng đến đúng một nơi? Số Tám có ‘đoàn tụ’ được với hai người không? Hay chúng tôi lại phân tán mỗi người một ngả trên Địa Cầu này? Hay mình là kẻ duy nhất chịu cảnh đơn côi? Đầu óc tôi quay đảo điên cuồng với vô số khả năng, trường hợp đặt ra. Nếu lũ chúng tôi không chỉ mất mát mỗi chú Crayton mà mỗi đứa còn thất lạc một nơi xa lạ, đường đến đich kia lại càng thêm xa. Nỗi kinh hoàng cùng tức giận này khiến người tôi nôn nao khó chịu, muốn nôn mửa. Mọi công sức, mọi hy sinh của mấy chú cháu trong suốt chặng đường đến Ấn Độ tìm Số Tám như muốn trôi sông, trôi biển – có lẽ hậu quả còn tệ hơn là đừng có cuộc hành trình kia.
Tôi cô đơn dưới bầu trời trong vắt cùng vầng dương đang thiêu đốt mọi vật, trong đầu không có nổi một ý niệm là mình đang ở đâu? Trên thế giới này biết tìm đâu để gặp được một con người, một Chiến Binh Tinh Nhuệ? Hay chỉ là một con số không tròn trĩnh? Tôi căng mắt tìm mọi hướng, chứa chan hy vọng tìm thấy một hình ảnh thân thuộc: vóc dáng lảo đảo của Marina bên một đụn cát đang vẫy tay chờ đón, phía sau là bé Ella hay nụ cười rộng mở của Số Tám đang nhào lộn cả một quãng dài trên bãi cát. Nhưng nơi đây chỉ là một sa mạc - ở một chốn đèo heo hút gió.
Tôi ngẫm lại những lời Số Tám nói về thuật dịch chuyển tức thời này. Dù được đưa đến bất cứ nơi nào, cũng chỉ quanh quẩn gần những hòn đá Ánh Sáng Lorien kia mà thôi. Thậm chí không được truyền thừa thuật này, tôi hy vọng vẫn có thể khai thác khả năng của Ánh Sáng Lorien để hỗ trợ một thuật khác. Tôi quì xuống, điên cuồng đào bới xung quanh. Hoàn toàn mù tịt về vị trí hiện tại của mình, về phương hướng phải tìm, tôi vẫn tuyệt vọng đào bới xuống nền cát nóng. Tuyệt vọng đến mức không nhận ra đôi tay như muốn cháy bỏng vì lớp cát kia.
Đào mải miết, tôi chỉ tìm thấy những hòn đá tầm thường nhỏ xíu, nứt toác. Kiệt sức, mồ hôi túa khắp mặt, tràn vào mắt, tôi đành phải ngưng nghỉ. Tôi không thể phung phí chút sức còn lại theo kiểu này. Ưu tiên một là phải tìm nguồn nước và một chỗ trú thân. Vươn cổ ra đón làn gió, tôi hy vọng tìm thấy chút dấu vết – dù chỉ mong manh – của sự sống, nhưng tôi chỉ hoài công: tuyệt không một dấu vết hay bóng người. Toàn một màu cát, cát và cồn cát nối tiếp nhau chạy ngút tầm mắt. Tôi còn duy nhất mỗi một lựa chọn: tiếp tục cuốc bộ. Ngầng đầu nhìn trời, canh bóng sau lưng làm mốc, tôi bắt đầu nặng nề lê bước.
Tôi nhằm hướng bắc. Người không lớp áo khoác bảo vệ che chắn ánh nắng gay gắt, mắt không ngớt cay xè vì mồ hôi, mình mẩy liên tục ê ẩm vì cát bỏng không ngừng quất khắp toàn thân, tôi chưa bao giờ thấy mình yếu ớt như thời điểm hiện tại. Mỗi lần ngước mắt nhìn, tôi chỉ thấy một cảnh vật không hề thay đổi chạy xa tít tấp. Tôi cũng hiểu cơ thể chẳng mấy chốc sẽ không chịu nổi bầu trời nóng rãy kia. Dấn thêm vài bước, tôi hóa vô hình để tránh cái nóng ngùn ngụt ngột ngạt xung quanh. Như thế, nhỡ ai muốn tìm tôi sẽ gặp không ít phiền toái, nhưng tôi chẳng còn sự lựa chọn nào khác. Tiếp đến, tôi tập trung trí lực nhất bổng cơ thể khỏi mặt đất, để đôi chân thoát cảnh nóng. Càng lên cao, thấy bãi cát càng dài – đúng như mình dự đoán – cát nối tiếp cát. Mỗi khi vượt qua một đụn cát, tôi lại nheo mắt, hy vọng phát hiện phía xa xa một con đường hay chút dấu vết của một cuộc sống hiện đại. Nhưng thứ duy nhất chệch khỏi quĩ đạo mênh mông cát này là dăm ba cây xương rồng rộ lên một thứ hoa quỉ quái cùng vài mẫu gỗ hóa thạch. Bầu trời trong vắt như chế nhạo tôi: không một vệt mây – dù là nhỏ nhất – nên hy vọng tạo chút mưa đành rơi vào quên lãng. Đến được bên cây xương rồng, tôi xé toạc ra tìm nước nhưng chỉ thêm thất vọng vì lượng nước quá ít, không đủ cho cơn khát đang dằn vặt.
Cuối cùng, khi sức lực và trí lực đã mòn thành một tờ giấy mỏng, chợt phía chân trời xuất hiện một dãy núi, nhen lên trong tôi chút hy vọng được cứu rỗi. Những ngọn núi kia thoạt trông thì rất gần: chỉ dăm ba bước là tới, nhưng muốn biết đích xác bao xa quả thật không dễ. Nhất định không phải là gần, hết ngày hôm nay vẫn không thể tới. Tuy nhiên, như vậy cũng đã đủ làm sống lại niềm tin nơi tôi. Tôi thừa hiểu mình phải tìm được một chốn trú thân.
Tôi lại hiện hình, với hy vọng có người bắt gặp mình. Nhìn lên bầu trời, đây là lần đầu tôi thấy chút gợn mây trong ngày. Tim đổ dồn và tôi cảm nhận được một luồng sức mỏng manh mới lạ chưa từng thấy. Tôi tập trung sức lực, gieo vào vầng mây trên đầu kia một tiếng sấm – nhỏ nhoi, đơn lẻ. Cơn mưa ào xuống ngắn ngủi nhưng lớn. Chỉ có thế tôi mới tiếp tục trụ được mà đi tiếp.
Tôi tiếp tục đi, đi mãi đến lúc chạm được một lớp hàng rào kẽm gai thấp. Sau lớp rào, xa xa ẩn hiện một con lộ đất. Đây là dấu vết sự sống đầu tiên tôi bắt gặp. Tim đập rộn, tôi bước nhanh hơn. Theo con lộ khoảng một dặm Anh, tôi đến một ngọn đồi nhỏ, và ráng hết sức trèo qua. Bên kia đồi, những ngôi nhà nhỏ hiện lên như một điều huyền diệu. Tôi không tin nổi vào mắt mình. Đây là cảnh thực, hay chỉ là mơ?
Nhưng không. Càng tiến đến gần, tôi càng tin ở mắt mình. Các cấu trúc kia, những dấu vết sự sống kia, tất cả đều là thực. Thật bất hạnh, khi đến gần hơn nữa, tôi mới phát hiện những ngôi nhà này lỗ chỗ những lỗ thủng, những bộ khung nhà bằng gỗ vì bỏ hoang cho gió sa mạc vờn giỡn cùng năm tháng giờ như muốn sụm. Những căn nhà này là đại biểu của thị trấn, của một nơi chốn bạn bị ghim vào không một chút vẫy vùng. Tôi đã đến một thị trấn không bóng người – một thị trấn ma.
Không để cơn thất vọng kịp quất ngã, tôi tập trung dò xét những dấu vết còn sót. Những dấu vết của con người trước thị trấn thành một chốn hoang phế cho cô hồn dã quỉ trú ngụ. Hệ thống ống nước còn không? Một cái giếng cũng được, có không? Lảo đảo rảo khắp thị trấn, chui vô rồi lại bước ra những căn nhà xiêu vẹo kia, tôi cố tìm chút nước. Bao nhu cầu khác đã gác qua một bên, giờ chỉ xoáy vào mỗi một từ nước, thứ thiết yếu nhất. Tôi cần tìm nước. Ai cũng cần nước, vì thế nơi này ắt hẳn phải có, quanh đây thôi, chẳng phải sao?
Không thấy. Hay chí ít là tôi không tìm ra. Tôi nghĩ, theo lẽ thường nơi đây xưa kia phải có một cái giếng. Nhưng giờ đây chẳng có gì cả, tôi không tìm thấy gì. Bị cát vàng vùi lấp hay bị người ngoài hành tinh bưng đi mất? Có trời mới biết! Cơn thất vọng đến tột cùng tràn vào mọi ngóc ngách. Một mình, không nước, không thức ăn, không một chốn trú ẩn ra hồn. Tôi gào thét đến kiệt sức: “Có ai đây không? Làm ơn trả lời đi! Có ai không? Ai cũng được?”
Một thanh đòn gỗ rên một tiếng kẽo kẹt ở mé phải. Nhưng tôi chẳng hề chờ mong một tiếng trả lời như vậy.
Nhìn vào từng căn nhà một, quả như tôi dự đoán, càng lúc càng trống huếch trống hoác. Biết chắc mình là kẻ duy nhất đang tồn tại ở thị trấn này, tôi chọn một góc đường tạm nghỉ: nơi đây có lẽ trước kia là một tiệm tạp hóa. Dùng trí tưởng tượng, tôi hình dung một cửa tiệm chất cao những thức ăn nước uống, đành lấy ảo tưởng làm chút an ủi. Tôi hình dung mình như đang cùng những Chiến Binh Tinh Nhuệ quây quần tại nơi này. Tôi đang lúi húi nấu nướng đãi mọi người một bữa tiệc thịnh soạn. Quanh chiếc bàn dài, Marina ngồi giữa Số Tám và bé Ella. John ngồi đầu bàn còn tôi thì ngồi cuối. Số Chín và Số Năm cũng đang quây quần cùng mọi người. Cả bọn đùa giỡn, kể cho nhau những nơi chốn từng in dấu chân mình. Tiếng cười rôm rả, tiếng hoan hô khen ngợi vì bữa tiệc tôi đãi vang lên không ngớt. Tôi đáp trả đại ý là tôi thật hạnh phúc vì mọi người sau cùng đã tề tựu được ở nơi này.
“Tới giờ này, ký ức đẹp nhất của mỗi người chúng ta về Địa Cầu này sẽ là những gì?” Tôi tưởng tượng Marina sẽ hỏi cả bàn.
John đáp: “Chính thời điểm này. Chính xác là lúc này, ngạy tại chỗ này. Được an toàn, cùng với mọi người quây quần tại đây.”
Cả bọn đều nhất trí, nâng cốc chúc mừng cuộc hội ngộ sau nhiều gian nan trắc trở. Số Năm đứng dậy, rời phòng rồi quay lại, trên tay là một chiếc bánh kem sô cô la khổng lồ. Mọi người la ó tán thành rồi đĩa bánh được chuyển khắp bàn. Cắn một miếng, tôi mới nhận ra đây là món ngọt ngào nhất mình từng nếm.
Tất nhiên, những hình ảnh vừa qua chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng. Lúc này tôi là một kẻ cô độc, muốn quẫn trí, ngồi trong một tiệm tạp hóa đổ nát hoang phế ở giữa sa mạc. Tôi không thể cùng quẫn hơn vì vừa phải rời khỏi thế giới mộng ảo đang náo nhiệt tiệc liên hoan cùng các Chiến Binh Tinh Nhuệ để đối mặt cùng thực tại tàn khốc – miệng vẫn tóp tép nhai những món ăn ảo kia. Nhai nuốt không khí với nụ cười thỏa mãn. Tôi lắc đầu cho rơi những giọt nước mắt đang đọng trên mi. Tôi chưa một lần dám đối đầu với bọn Mog, chỉ lây lất sống trong phòng giam của bọn chúng, chứng kiến cảnh cô Katarina chết mà mình bất lực để rồi cuối cùng đơn độc kết thúc chuyến phiêu lưu tại chốn sa mạc xa xăm này. Tôi co chân lên rồi tựa đầu lên gối. Tôi phải lên một kế hoạch thoát cảnh hiểm nghèo này.
Trời vẫn nắng cháy cát cháy đá khi tôi rời cái thị trấn đìu hiu kia. Đã dưỡng sức tránh ánh mặt trời, giờ tôi phải tiếp tục dấn bước trước khi chút tàn lực cũng bị cái sa mạc đói ngấu này nuốt chửng hết. Tôi bước trên cát nóng bỏng khoảng một dặm Anh về phía dãy núi, mãi đến khi cả đôi chân cùng bao tử co rút, cứng đơ như bị vọp bẻ. Dùng chút trí lực còn sót, tôi bứng nhổ mấy cây xương rồng xung quanh chắt lấy một ngụm nước hiếm hoi.
Tôi tập trung vận dụng Biệt Năng, cố sức tạo một cơn sấm với chút vần mây trên đầu, nhưng kết quả chỉ là một cơn lốc cát vùi lấp đến tận đầu gối.
Lần đầu tiên tôi không chỉ thấy sợ mà còn hãi hùng trước viễn cảnh phải chết tại nơi này. Chỉ còn là một cái xác vất vưởng giữa sa mạc mênh mông. Các Trưởng Lão đã chọn tôi làm chiến sĩ gánh vác trách nhiệm cứu vớt toàn dân tộc Lorien, vậy mà giờ đây tôi lại sắp mất mạng giữa mịt mù cát nóng.
Dường như tôi đang bắt đầu một cơn hãi hùng, gần như sắp đánh mất bản thân. Tôi ráng bám víu vào chút ý niệm: mình không thể làm kẻ chiến bại – giữa cảnh trời đất hoang mang này, tất cả sẽ chấm hết nếu chút ý niệm kia không thể tồn tại. Tuyệt vọng, tôi nhớ lại cảnh tượng đêm trước: bữa tiệc liên hoan trong giấc mơ hồng với các Chiến Binh Tinh Nhuệ. Để bản thân không một phút buông lơi, chấp nhận thua cuộc, tôi tiếp tục cơn tưởng tượng, vội vã nói ra miệng những gì đang lộn xộn trong tâm trí.
Này, Marina, chuyện phía bồ sao rồi? Mình à? Mình kẹt trong sa mạc, đang hướng về một ngọn núi nào đó, cũng không rõ nữa. Mình đoán chắc mình đang ở New Mexico, dựa theo lời Số Tám nói về những chốn cậu ta đã dịch chuyển tức thời. Mình đã đuối sức lắm rồi, Marina ạ. Mình không biết còn trụ được bao lâu nữa. Cũng chẳng biết bồ ở đâu cả, nhưng bồ làm ơn, nhớ nhé, một khi đã tới đích, ràng tìm đường mà đến với mình, ráng tìm ra mình.
Ella, em hả? Em có biết chị ân hận về chuyện chú Crayton lắm không? Nhìn cảnh chú mất đi buộc lòng phải để chú lại Ấn Độ, chị xót xa lắm. Chị hứa với em, chúng ta sẽ trả thù cho chú, và chị sẽ là người đi đầu. Nếu chị thoát khỏi sa mạc này, chị sẽ trả thù cho tất cả người dân Lorien.
Số Tám ơi, tôi không tìm thấy hòn đá Ánh Sáng Lorien rồi. Tôi không thấy – dù chỉ một mảy may – chút thức ăn, thức uống, chỗ tạm trú, chút ánh sáng văn minh của sự sống. Tôi thấy mình cô độc quá. Số Tám có thể cho tôi biết hòn đá đó nơi nào không? Tôi muốn thoát khỏi chốn quỉ quái này, muốn về với mọi người.
Lúc này, tôi chẳng hề thấy mình lố bịch khi cuồng loạn tự đối tự đáp với mọi người, quên khuấy mất thực tế là có thể Marina cùng mọi người đang cách tôi nửa vòng trái đất. Tôi nhắm nghiền mắt, tuyệt vọng đợi chờ tiếng đáp. Tất nhiên, không một tiếng vang. Vì thế, tôi tiếp tục lê bước. Thêm một bước chân dấn tới, thêm một lần khó khăn, vất vả. Tôi bắt đầu liêu xiêu bước nghiêng bước ngả, lúc bên trái, khi bên phải, rồi suýt ngã úp, may mà gượng kịp. Tuy vậy, cuối cùng tôi không thể gắng tiếp nên té sấp ra trước. Đầy cam chịu, tôi đành phải bò tới, hai mắt nhắm nghiền tránh ánh nắng gay gắt. Một lát sau, tôi ngẩng đầu kiểm tra xem mặt trời còn đổ lửa từ trên cao không? Lúc này tôi lại nghĩ rằng mình đang bắt gặp một ảo ảnh: trước mặt khoảng hơn trăm bộ là một cánh cổng bằng thép đặc, cao hơn hai mươi bộ, bên trên chằng chịt các vòng dây thép gai. Cách xa cả đoạn đường dài, tôi vẫn nghe thấy điện truyền rì rầm. Hàng rào đang được sạc điện. Đi tiếp hết đoạn đường dài kia, tôi mới dám tin rằng đây là cảnh thực.
Tuy không biết phía sau cánh cửa ẩn giấu những gì, nhưng vì đã quá suy nhược và vào thế đường cùng, tôi cố sức bò đến bên cổng, gượng ngồi dậy. Hai tay khoa lên trời, tôi hy vọng có người nhìn thấy mình mà đến.
Tôi cố gắng mãi, nhưng cổ họng bỏng rát khô cằn như lớp giấy nhám, nên chỉ thốt được ít tiếng thì thầm: “Làm ơn cứu tôi với!”
Nhưng cánh cửa vẫn im lìm không mở, không bóng người xuất hiện. Tôi thả người trượt xuống bãi cát, cố gom sức tàn chuẩn bị cho đòn cuối. Tôi lăn người vài vòng, gắng lấy sức đứng dậy kiểm tra hàng rào. Nếu chỉ là chút điện đang truyền vào lớp hàng rào này thì có ý nghĩa gì so với cơn đói, cơn khát đang dày vò, quằn xéo thân thể tôi? Nhìn quanh, tôi tìm thấy một cây xương rồng nhỏ, bèn ném nó lên không, cây xương rồng rơi xuống hàng rào. Tức thời vang lên tiếng nổ lép bép cùng tiếng xì xèo. Những mẩu xương rồng cháy thành than rơi xuống đất vẫn nghi ngút khói.
Tôi thả người khuỵu xuống: quì sụp xuống, đổ sang bên và cuối cùng ngả bật ngửa. Mắt nhắm nghiền. Tôi cảm nhận đôi môi đang khô giộp lên. Có tiếng máy móc phía sau khẽ vọng tới, nhưng tôi không đủ sức nhấc đầu lên để nhìn. Tôi đang dần mất đi ý thức. Một tiếng vọng xoáy vào tai và tiếp theo là tiếng vo vo ầm ì nhè nhẹ. Vài giây sau, tôi dám thề mình đã nghe thấy tiếng bé Ella.
Dù chị ở đâu, chị Số Sáu, em luôn hy vọng chị sẽ an toàn, giọng bé Ella vang lên.
Một tiếng cười cộc gằn bật khỏi miệng tôi, nối tiếp là tiếng thổn thức. Tôi dám chắc nếu trong người còn chút nước nào thì sẽ vắt kiệt thành dòng nước mắt tuôn rơi kia. Bé Ella, chị đang hấp hối trong một sa mạc, tôi đáp lời. Cái sa mạc có những ngọn núi đó. Một ngày kia chị sẽ gặp lại em tại Lorien, Ella ạ.
Tôi lại nghe tiếng đáp lại, nhưng lần này không nghe nổi em nói những gì. Giọng em bị một tiếng ồn ào đứt quãng chợt vang trong đầu nhấn chìm nghỉm. Và tôi cảm nhận được tiếng động kia: tiếng một cơn gió mạnh từ trên cao giật từng sợi tóc dựng đứng lên. Tôi chầm chậm mở mắt. Phía trên là ba chiếc trực thăng màu đen đang lượn quanh. Trên đó, những người đàn ông thét to bắt tôi giơ hai tay lên khỏi đầu, nhưng tôi chỉ còn đủ sức để nhắn mắt lại.