Thần Thoại Về Các Loài Tiên

Lượt đọc: 1324 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
France.

❊ ❊ ❊

Pourquoi faut-il s'émerveiller

Que la raison la mieux sensée,

Lasse souvent de veiller,

Par des contes d'ogre et de fée

Ingenieusement bercée,

Prenne plaisir à sommeiller?

Perrault.

Thần thoại về các nàng tiên ở nước Pháp, xét về mặt địa lý, có thể được chia thành hai phần: miền Bắc và miền Nam, tức vùng Langue d'Oil và Langue d'Oc. Chúng ta sẽ bắt đầu với miền Nam, nơi giáp ranh với Tây Ban Nha. Về thần thoại của vùng này, Gervase xứ Tilbury, người từng sinh sống tại vương quốc Arles, đã để lại cho chúng ta một số chi tiết vô cùng thú vị, và các tài liệu khác cho phép chúng ta lần theo dấu vết của chúng cho tận ngày nay. Khi nhắc đến cư dân thành Arles, Gervase đã bày tỏ rằng:

"Họ cũng thường khẳng định rằng loài Drac thường hóa thành hình người, rồi tiến vào khu chợ công cộng từ sớm mà không khiến bất kỳ ai cảm thấy hoảng sợ. Người ta kể rằng những sinh vật này trú ngụ trong các hang động dưới lòng sông, và thỉnh thoảng, khi trôi dạt theo dòng nước dưới hình hài những chiếc nhẫn hoặc chiếc cốc bằng vàng, chúng lại dụ dỗ phụ nữ hoặc các thiếu niên đang tắm bên bờ sông; bởi vì, khi những người này cố gắng với lấy những gì họ nhìn thấy, họ sẽ bất ngờ bị tóm lấy và kéo thốc xuống đáy nước: và người ta nói rằng điều này xảy ra nhiều nhất với những người phụ nữ đang nuôi con bú, bị loài Drac bắt đi để chăm sóc cho đứa con bất hạnh của chúng; và đôi khi, sau khi đã trải qua bảy năm ở đó, họ lại quay về bán cầu của chúng ta. Những người phụ nữ ấy kể rằng họ đã sống cùng loài Drac và vợ của chúng trong những cung điện nguy nga, nằm sâu trong các hang động và bờ sông. Bản thân chúng tôi đã từng tận mắt chứng kiến một trong những người phụ nữ như thế, người đã bị bắt đi khi đang giặt quần áo bên bờ sông Rhone. Một chiếc bát gỗ trôi dạt ngang qua cô, và trong lúc cố gắng với lấy nó, khi đã ra đến vùng nước sâu, cô bị một con Drac kéo chìm xuống, rồi trở thành vú nuôi cho con của hắn ở tơi tận dưới lòng nước. Cô đã trở về mà không hề tổn hại gì, và hầu như không còn được chồng cùng bạn bè nhận ra sau bảy năm vắng bóng.

"Sau khi trở về, cô đã kể lại những chuyện kỳ diệu lắm, chẳng hạn như loài Drac sống bằng cách ăn thịt những kẻ mà chúng bắt cóc, và tự biến đổi hình hài thành con người; rồi cô kể rằng có một hôm, khi con Drac đưa cho cô một chiếc bánh ngọt nhân lươn để ăn, cô vô tình đưa những ngón tay dính đầy mỡ chùi lên một bên mắt và một bên mặt của mình, thế là cô lập tức được ban cho một thị lực cực kỳ sắc bén và rõ ràng dưới mặt nước. Khi thời hạn ba năm trôi qua, và cô đã quay về với gia đình, vào một buổi sáng nọ rất sớm, cô đã chạm trán con Drac tại khu chợ ở Beaucaire. Cô nhận ra hắn ngay lập tức, và sau khi chào hỏi, cô bèn hỏi thăm sức khỏe của phu nhân hắn cùng đứa nhỏ. Nghe vậy, con Drac liền đáp: 'Này nhé,' hắn nói, 'cô nhìn tôi bằng con mắt nào thế?' Cô liền chỉ vào con mắt mà cô từng chạm vào bằng mỡ cá: con Drac lập tức thọc ngón tay vào mắt cô, và từ đó hắn không còn hiển hiện cho bất kỳ ai thấy được nữa."

Bàn thêm về loài Drac, Gervase còn bổ sung rằng:

"Ngoài ra, bên bờ sông Rhone, ngay dưới trạm gác ở Cổng Bắc của thành phố Arles, có một vũng nước sâu của dòng sông... Tại những chốn nước sâu này, người ta bảo rằng loài Drac thường được nhìn thấy vào những đêm sáng trời dưới hình dạng của con người. Cách đây vài năm, suốt ba ngày liền, người ta nghe thấy rõ những lời sau đây vang lên ở khu vực bên ngoài cổng thành mà tôi vừa nhắc đến, trong khi một bóng người trông như đàn ông cứ chạy dọc theo bờ sông: 'Giờ đã qua, và người ấy vẫn chưa tới.' Đến ngày thứ ba, vào khoảng giờ thứ chín, khi bóng người ấy cất tiếng lớn hơn thường lệ, một thanh niên liền ngây thơ chạy nhào ra bờ sông, lao mình xuống và bị nuốt chửng; từ đó không ai còn nghe thấy tiếng vang ấy nữa."

Từ "Drac" thoạt nhìn có vẻ bắt nguồn từ chữ Draco; nhưng chúng ta nghiêng về giả thuyết nguồn gốc của nó xuất phát từ từ Duerg ở phương Bắc. Chúng ta phải nhớ rằng người Visigoth từng chiếm đóng vùng Provence và Languedoc trong một thời gian dài. Theo chúng tôi hiểu, từ này vẫn còn đang được sử dụng. Cụm từ *Fa le Drac*, trong tiếng Provençal, đồng nghĩa với *Faire le diable*. Goudelin, một nhà thơ người Provençal thế kỷ mười bảy, đã mở đầu tác phẩm *Castel en l'Ayre* của mình bằng những dòng sau:

Belomen qu' yeu faré le Drac

Se jamay trobi dins un sac

Cinc ô siés milante pistolos

Espessos como de redolos.

Câu chuyện kỳ thú sau đây cũng xuất hiện trong tác phẩm của Gervase, và có vẻ như thuộc về vùng Provence:—

"Các thủy thủ kể rằng có một lần, khi một con tàu đang giương buồm trên biển Địa Trung Hải, vùng biển mà chúng tôi gọi là biển của mình, nó bỗng bị bao vây bởi vô số cá heo (delphinos), và khi một thủy thủ trẻ tuổi, nhanh nhẹn thuộc đoàn thủy thủ dùng vũ khí đả thương một con trong số đó, trong khi tất cả những con còn lại đã nhanh chóng lẩn xuống đáy biển, thì một cơn bão kinh hoàng bỗng chốc bao trùm lấy con tàu. Trong lúc các thủy thủ đang đứng trước lằn ranh sinh tử, kìa! một kẻ mang hình dáng hiệp sĩ cưỡi tuấn mã lướt trên mặt biển tiến đến, yêu cầu rằng, để cứu mạng cho tất cả những người còn lại, kẻ đã đả thương con cá heo phải được giao nộp cho hắn. Các thủy thủ vô cùng dằn vặt giữa một bên là hiểm họa của chính mình và một bên là sự bất nhẫn khi phải đẩy người đồng hành đến chỗ chết, điều mà đối với họ là vô cùng tàn nhẫn, và họ cho rằng việc mưu cầu sự sống cho bản thân trên sinh mạng của kẻ khác là một điều ô nhục. Cuối cùng, chính người thủy thủ ấy, vì cho rằng thà hy sinh một mạng người để tất cả được cứu, khi họ đều vô tội, còn hơn để chừng ấy con người phải đối mặt với nguy cơ diệt vong chỉ vì sự dại dột của mình, và cũng để tránh việc bênh vực anh ta mà trở thành kẻ có tội, nên đã tự dâng hiến bản thân cho cái chết xứng đáng với mình, rồi tự nguyện trèo lên lưng ngựa ngồi phía sau người kỵ sĩ. Người này băng qua mặt nước phẳng lì, rảo bước trên đó như thể đó là mặt đất vững chãi. Chẳng mấy chốc, anh ta đã đến một miền đất xa xôi, nơi anh tìm thấy vị hiệp sĩ mà anh đã đả thương vào ngày hôm trước trong hình hài cá heo đang nằm trên một chiếc giường nguy nga. Anh được người dẫn đường hướng dẫn rút thứ vũ khí vẫn đang cắm chặt trong vết thương ra, và khi anh làm vậy, chính bàn tay tội lỗi ấy lại đem lại sự chữa lành cho vết thương. Xong xuôi, người thủy thủ nhanh chóng được đưa trở lại con tàu và đoàn tụ với những người bạn đồng hành. Cũng chính vì thế mà kể từ dạo đó, các thủy thủ đã chấm dứt việc săn bắt cá heo."

Gervase cũng miêu tả loài Kobold, hay Thần nhà, tức Esprit Follet, hay Yêu tinh ở miền Bắc nước Pháp.

"Có những yêu tinh khác," ông nói, "thường được gọi là Follets, trú ngụ trong những ngôi nhà của những người nhà quê chất phác, và không thể xua đuổi bằng cả nước thánh lẫn các nghi thức trừ tà; và vì chúng vô hình, nên chúng thường ném đá, gậy gộc và dụng cụ gia đình vào những ai đang bước qua ngưỡng cửa. Tiếng nói của chúng nghe giống như tiếng người, nhưng hình dáng thì hoàn toàn không xuất hiện. Tôi nhớ mình từng bắt gặp vài câu chuyện kỳ lạ về chúng trong cuốn *Vita Abbreviata, et Miraculis beatissimi Antonii*."

Ở một nơi khác, ông nhắc đến những sinh vật mà ông bảo rằng được gọi là Lamiæ. Ông kể rằng chúng thường đột ngột xông vào nhà, lục tung các chum vại, hũ chậu, bế trẻ em ra khỏi nôi, thắp đèn hoặc nến, và đôi khi đè nặng lên những ai đang ngủ say.

Hoặc là Gervase đã nhầm lẫn, hoặc là các nàng Fadas ở miền Nam nước Pháp từng được xem là những sinh vật khác biệt với loài người. Giả thuyết thứ nhất có lẽ là điều dễ xảy ra hơn cả. Ông đã viết về họ như sau: "Quả thực, chúng ta biết điều này đã được minh chứng mỗi ngày bởi những người đáng tin cậy hoàn toàn; rằng chúng ta từng nghe về một số kẻ từng đem lòng yêu mến những bóng ma loại này, mà họ gọi là Fadas; và khi họ kết hôn với những người phụ nữ khác, họ đều chết trước khi kịp động phòng. Chúng ta từng thấy hầu hết bọn họ sống trong sự sung túc trần thế lớn lao, nhưng khi họ rút lui khỏi những cái ôm của các nàng Fadas ấy, hoặc làm lộ ra bí mật, họ không chỉ đánh mất sự thịnh vượng trần gian, mà ngay cả sự an ủi của một cuộc đời khốn khổ cũng không còn."

"Trong truyền thuyết về Thánh Armentaire, được biên soạn vào khoảng năm 1300 bởi Raymond, một quý tộc vùng Provence, chúng ta đọc được về nàng Fée Esterelle, cùng những lễ vật tế thần dâng lên nàng, người thường cho những phụ nữ hiếm muộn uống các loại thức uống để họ có thể sinh con đẻ cái; và về một hòn đá có tên gọi *La Lauza de la Fada*, nghĩa là Hòn đá Tiên, nơi người ta từng dâng lễ tế nàng."

Ngay đến tận ngày nay, niềm tin vào các nàng Fadas dường như vẫn còn vương vấn tại Provence và các vùng lân cận.

"Vào đêm 31 tháng Mười Hai," Du Mege kể lại, "các nàng Fées (Hadas) bước vào nơi ở của những kẻ sùng kính họ. Họ mang theo vận may ở bàn tay phải, và vận rủi ở bàn tay trái. Người ta đã cẩn thận chuẩn bị sẵn cho họ trong một căn phòng sạch sẽ, kín đáo một bữa tiệc phù hợp với sở thích của họ. Cửa ra vào và cửa sổ đều được để mở; một tấm khăn trắng được trải lên bàn kèm theo một ổ bánh mì, một con dao, một bình đầy nước hoặc rượu, và một chiếc cốc. Một ngọn nêm hoặc nến sáp đang cháy được đặt ở chính giữa bàn. Người ta tin rằng những ai dâng lên họ những món ăn ngon nhất có thể trông đợi mọi thứ thịnh vượng đến với tài sản và gia đình mình; trong khi những ai miễn cưỡng làm trònn bổn phận đối với các nàng Fées, hoặc lơ đễnh không chuẩn bị những lễ vật xứng đáng với các vị thần này, thì phải chuẩn bị tinh thần đón nhận những tai ương lớn nhất."

Từ đoạn trích sau đây trong tác phẩm *Roman de Guillaume au Court-Nez*, có vẻ như ba là số lượng đích xác của các nàng Hadas.

Coustume avoient les gens, par véritez,

Et en Provence et en autres regnez.

Tables métoient et siéges ordenez,

Et sur la table iij blans pains bulétez,

Iij poz de vins et iij hénez de lès

Et par eneoste iert li enfès posez.

Cách đây vài năm, một nữ sĩ tên là Marie Aycard đã xuất bản một tập sách có tựa đề *Ballades et Chants populaires de la Provence*, trong đó có hai bài dường như được xây dựng dựa trên các truyền thuyết dân gian. Cô đặt tên cho câu chuyện thứ nhất là *La Fée aux Cheveux Verts* (Nàng tiên tóc xanh), kể về một thủy thủ trẻ tuổi ở Marseilles, người có thói quen chèo thuyền ra khơi một mình vào buổi tối. Trong một lần như thế, anh cảm thấy mình bị kéo chìm xuống bởi một sức mạnh vô hình, và khi chạm đến đáy biển, anh nhận ra mình đang đứng trước cổng của một cung điện nguy nga. Tại đây, anh được tiếp đón bởi một nàng tiên vô cùng xinh đẹp, chỉ có điều mái tóc của nàng mang một màu xanh lá. Nàng lập tức thổ lộ tình yêu với anh, và anh cũng đáp lại nàng theo cách nàng muốn. Sau khi giữ anh lại một thời gian, nàng cho phép anh ra về, đồng thời trao cho anh hai con cá để anh có thể dùng làm cái cớ cho sự vắng mặt của mình bằng cách nói rằng anh vừa đi câu về. Sức mạnh vô hình ấy lại đưa anh trở về chiếc thuyền của mình, và anh cập bến khi mặt trời vừa mọc. Kích thước và hình dáng kỳ lạ của hai con cá, chưa từng thấy bao giờ, đã gây ra sự kinh ngạc lớn cho mọi người; nhưng vì quá sợ hãi nàng tiên nên anh không dám hé lộ bí mật của mình. Một sức hút bất khả kháng vẫn tiếp tục kéo anh về phía cung điện dưới lòng biển, nhưng rồi cuối cùng anh lại bắt gặp một thiếu nữ mà vẻ quyến rũ trong mắt anh đã lu mờ cả nàng tiên kia. Giờ đây, anh tìm cách lánh xa bờ biển, nhưng mỗi lần anh đến gần người tình của mình, anh lại phải hứng chịu một đòn roi vô hình, và những giọng nói đe dọa cứ liên tục văng vẳng bên tai anh. Cuối cùng, anh cảm thấy một khao khát không thể cưỡng lại được muốn ra khơi lần nữa. Khi ra đến nơi, anh lại bị kéo chìm xuống cung điện như trước, nhưng nàng tiên lúc này đã đổi khác. Nàng cất lời: "Ngươi đã phản bội ta—ngươi phải chết," rồi sai những quái vật biển nuốt chửng anh. Tuy nhiên, những lời kể khác lại cho rằng nàng giữ anh lại bên mình cho đến khi tuổi tác cày xới trán anh đầy nếp nhăn, rồi mới thả anh trở về với cuộc sống nghèo đói trên mặt đất.

Truyền thuyết thứ hai mang tên *Le Lutin* kể về bảy cậu bé, dẫu phớt lờ những lời cảnh báo của người bà lớn tuổi, vẫn cứ thích ra ngoài vào ban đêm để làm đủ chuyện. Khi họ đang đi dọc đường, một chú ngựa nhỏ màu đen xinh xắn tiến lại gần, và tất cả đều bị dụ dỗ trèo lên lưng nó. Khi gặp bất kỳ người bạn cùng chơi nào, họ cũng rủ rê chúng trèo lên cùng, và lưng chú ngựa nhỏ cứ thế giãn ra cho đến cuối cùng nó chở trên mình không dưới ba mươi cậu bé. Sau đó, nó phi như bay về phía biển, lao thẳng xuống nước cùng tất cả bọn họ khiến tất cả đều chết đuối.

Đặt chân đến vùng Auvergne, chúng ta bắt gặp Gregory xứ Tours vào thế kỷ thứ sáu kể lại một sự việc xảy ra thời niên thiếu của ông. Có một người đàn ông nọ đang trên đường vào rừng vào một buổi sáng, và ông đã cẩn thận mang theo bữa sáng của mình để được làm phép lành trước khi lên đường. Khi đến bờ sông, trời vẫn chưa sáng rõ, ông đánh chiếc xe bò của mình lên phà (in ponte qui super navem est), và khi thuyền ra đến giữa dòng, ông nghe thấy một giọng nói vang lên: "Dìm nó xuống! dìm nó xuống! lẹ tay lên!" (Merge, merge, ne moreris!) liền có một giọng khác đáp lại: "Ta đã làm thế lâu rồi nếu không có thứ gì đó thánh thiện ngăn cản; vì tao muốn mày biết rằng hắn đã được ban phước bởi linh mục, nên ta không thể làm hại hắn được."

Cô Costello đã nghe được ở Auvergne một câu chuyện về đứa trẻ bị tráo đổi, mà người mẹ, theo chỉ dẫn của cha sở, đã đem ra chợ và quật cho nó một trận nên thân, cho đến khi mẹ của nó, tức *La Fée du Grand Cascade*, đem trả lại đứa con ruột thịt cho cô. Cô cũng kể lại một cách chi tiết một truyền thuyết mà cô gọi là *La Blonde de la Roche*, trong đó một thiếu nữ trẻ, dưới sự hướng dẫn của vú em, học cách thay đổi hình hài của mình và nhờ thế trở thành bạn đồng hành của các nàng Fées vốn là những sinh vật có kích thước tí hon. Về sau, khi đã kết hôn, chúng bắt mất những đứa con của cô, nhưng cô vẫn xoay sở tìm lại được chúng.

"*La Tioul de las Fadas* nằm cách St. Flour khoảng năm dặm rưỡi, tại Pirols, một ngôi làng thuộc vùng Haute Auvergne. Nơi đây gồm sáu tảng đá lớn thô kệch, được che phủ bởi một tảng đá thứ bảy to lớn và đồ sộ hơn tất cả những tảng còn lại; nó dài mười hai thước và rộng tám thước rưỡi. Truyền thuyết kể rằng một nàng Fée, người có sở thích chăn cừu ngay tại nơi có di tích này, đã quyết định cất một mái che để tránh gió mưa. Vì mục đích ấy, nàng đã đi rất xa, rất xa (bien loin, bien loin) để tìm kiếm những khối đá hoa cương to lớn đến mức sáu cặp bò kéo cũng không thể nhúc nhích, và nàng đã nhào nặn chúng thành hình dáng của một ngôi nhà nhỏ. Người ta kể rằng nàng đã vác những tảng đá lớn nhất và nặng nhất lên đỉnh con thoi của mình, và thản nhiên đến mức chẳng hề thấy vướng víu bởi sức nặng của nó, nàng cứ vừa đi vừa tiếp tục quay sợi suốt cả dọc đường."

Truyền thuyết sau đây là một tích cổ truyền miệng tại Périgord:—

Ẩn mình trong khu rừng thuộc tổng La Double, gần con đường dẫn từ Périgueux đến Ribérac, có một di tích mang tên Roque Brun. Nó gồm bốn tảng đá khổng lồ được đặt theo từng cặp để tạo thành một lối đi dài mười thước và rộng sáu thước. Tảng đá thứ năm, cao và dày hơn các tảng kia, khép kín không gian này ở phía tây. Toàn bộ được che phủ bởi một khối đá khổng lồ, rộng ít nhất mười hai nhân bảy thước, và dày từ ba đến bốn thước. Không còn nghi ngờ gì nữa, đây là tác phẩm của con người, và điều đáng chú ý là loại đá cấu thành nên nó lại hoàn toàn khác với thứ đất đá của vùng mà nó đang tọa lạc. Dù vậy, truyền thuyết của tổng này lại kể rằng, từ nhiều ngàn năm trước, từng có một nàng Fée là nữ vương của toàn bộ vùng đất này, và sau khi mất đi người chồng trong một trận chiến diễn ra ngay tại nơi này, nàng đã quyết định chôn cất ông tại đây. Do đó, nàng gọi sáu vị cận thần của mình đến, ra lệnh cho mỗi người phải khiêng một trong số những tảng đá này và sắp xếp chúng theo đúng trật tự mà chúng vẫn đang duy trì cho đến ngày nay. Họ lập tức tuân lệnh, khiêng và sắp xếp những khối đá khổng lồ ấy dễ dàng như thể chúng chỉ là những chiếc cánh hoa hồng. Khi ngôi mộ hoàn thành, Nàng Tiên bước lên đó, quay về hướng đông, và cất tiếng nguyền rủa ba lần bằng giọng sấm rền đối với bất kỳ kẻ nào dám cả gan dù chỉ chạm vào di tích của vị phu quân hoàng gia của nàng. Cho đến nay, người nhà quê vẫn còn ghi lại không ít trường hợp về những kẻ đã cả gan làm thế và phải chịu trừng phạt.

Truyền thuyết về các nàng tiên ở miền Bắc nước Pháp, ít nhất là ở vùng Normandy, cũng tương tự như phần còn lại của các dân tộc gốc Gotho-German, đúng như người ta có thể đoán trước. Chúng ta bắt gặp chúng trong hình tượng các *fées* hay các nàng tiên, và các *lutins* hay yêu tinh, tương đương với các loài Kobold, Nisse và những sinh vật tương tự của các quốc gia đó.

Các nàng Fées có thân hình nhỏ nhắn và xinh đẹp; họ rất thích khiêu vũ vào ban đêm, và trong những điệu nhảy vòng tròn của mình, họ tạo ra các *Cercles des Fées*, hay những vòng tròn tiên. Nếu có ai đến gần điệu nhảy của họ, kẻ đó sẽ bị thôi thúc không thể cưỡng lại được phải tham gia vào. Anh ta được chào đón với sự nhã nhặn lớn nhất; nhưng khi chuyển động cuồng quay ngày càng tăng tốc và nhanh hơn nữa, đầu óc anh ta trở nên chóng mặt và ngã quỵ xuống đất trong tình trạng kiệt sức hoàn toàn. Đôi khi, các nàng fées đùa giỡn bằng cách tung anh ta lên thật cao giữa không trung, và nếu không chết vì cú ngã, thì sáng hôm sau người ta sẽ tìm thấy anh ta với đầy những vết bầm tím. Những sinh vật nhỏ bé này, người ta cũng kể rằng, thường lui tới những con suối hoang vắng để giặt giũ quần áo, rồi phơi khô chúng một cách ưu tiên trên các phiến đá thời Druid nếu có sẵn gần đó, đồng thời cất giữ chúng trong các hốc đá hoặc gò mộ, từ đó có tên gọi là *Chambres* hay *Grottes des Fées* (Phòng hoặc Hang động của các nàng Tiên). Hơn thế nữa, người ta còn kể về họ rằng, giống như loài Lutins, họ chọn những trang trại cụ thể để lui tới vào ban đêm, rồi sử dụng ngựa, dây cương cùng mọi loại dụng cụ ở đó để làm đủ thứ công việc, thế nhưng đến sáng ra thì chẳng còn lại chút dấu vết nào. Họ rất thích cưỡi và phi nước đại những con ngựa; chỗ ngồi của họ là trên cổ ngựa, và họ thắt bện các lọn bờm lại để làm bàn đạp. Tuy nhiên, sự hiện diện của họ luôn mang lại vận may, gia súc sinh sôi nảy nở ở nơi có họ, và những dụng cụ mà họ đã sử dụng, nếu có bị hỏng thì cũng được sửa chữa lại tốt như mới. Nhìn chung, họ rất tốt bụng, hay giúp đỡ người khác, và từng được biết đến là đã trao bánh cho những ai mà họ đem lòng yêu mến.

Các nàng Fées ở Normandy, cũng như những nơi khác, rất thích tráo đổi trẻ con. Một người phụ nữ nhà quê trong lúc đang bồng con trên tay thì gặp một nàng Fée cũng đang ôm một đứa bé tương tự, liền đề nghị đổi chác. Nhưng cô không đời nào đồng ý, dẫu cho, như cô nói, đứa con của nàng Fée có đẹp hơn con cô đến chín lần đi nữa. Vài ngày sau, sau khi để con ở nhà để ra đồng làm việc, khi quay về cô có cảm giác như đứa trẻ đã bị đánh tráo. Cô lập tức đi hỏi ý kiến một người hàng xóm, và để kiểm chứng sự thật, người này đã đập một chục quả trứng rồi xếp vỏ của chúng trước mặt đứa trẻ. Đứa bé lập tức kêu lên: Ồ, sao mà lắm hũ kem thế! Ồ, sao mà lắm hũ kem thế! Mọi chuyện lúc này đã rành rành ra đấy, và người hàng xóm tiếp theo khuyên nên làm cho nó khóc thật to để dụ người mẹ ruột của nó tới. Cách này đã thành công; nàng Fée xuất hiện, khẩn khoản xin họ hãy tha cho đứa con của mình và hứa sẽ trả lại đứa con chính chủ.

Có một loài Fées khác được biết đến ở Normandy với tên gọi là *Dames Blanches*, hay những Quý cô Áo trắng, có tính cách kém từ bi hơn. Chúng thường ẩn nấp ở những chốn chật hẹp như khe núi, chỗ nước nông hay cầu qua sông, nơi người qua đường khó lòng tránh khỏi, và ở đó chúng tìm cách thu hút sự chú ý của họ. Nàng Dame Blanche đôi khi yêu cầu kẻ mà cô chạm mặt phải nhảy cùng cô một điệu, hoặc dìu cô qua một tấm ván. Nếu anh ta làm theo, cô sẽ cúi chào anh ta nhiều lần rồi biến mất. Một trong những quý cô như thế có tên là *La Dame d'Aprigny*, thường xuất hiện tại một khe núi hẹp quanh co nằm ở vị trí của phố Saint Quentin ngày nay tại Bayeux. Ở đó, bằng những điệu múa rắc rối của mình, cô ngăn cản bất kỳ ai qua lại. Trong lúc đó, cô chìa tay ra mời gọi anh ta cùng tham gia, và nếu anh ta đồng ý, cô sẽ thả anh ta đi sau một hoặc hai vòng; nhưng nếu anh ta lùi bước, cô sẽ túm lấy anh ta và ném thẳng xuống những con mương đầy gai góc. Một Dame Blanche khác lại chọn trạm gác của mình trên một cây cầu gỗ hẹp bắc qua sông Dive, thuộc vùng Falaise, mang tên *Pont d'Angot*. Cô ta ngồi trên cầu và kiên quyết không cho ai qua lại trừ khi kẻ đó chịu quỳ gối trước mặt cô; nếu hắn từ chối, nàng Fée sẽ giao hắn cho lũ yêu tinh, mèo, cú mèo cùng các sinh vật khác đang thống trị nơi đây để chúng hành hạ hắn đến tột cùng.

Gần làng Puys, cách Dieppe nửa dặm về phía đông bắc, có một cao nguyên rộng lớn, được bao bọc ở mọi phía bởi những công sự lớn, ngoại trừ phía hướng ra biển, nơi những vách đá khiến người ta không thể tiếp cận được. Nơi đây được gọi là *La Cité de Limes* hay *La Camp de César* hoặc đơn giản là *Le Catel* hay *Castel*. Truyền thuyết kể rằng các nàng Fées từng tổ chức một phiên chợ ở đó, nơi mọi loại vật phẩm ma thuật từ kho tàng bí mật của họ được bày bán, và những lời mời mọc nhã nhặn nhất cùng những cử chỉ ve vãn được sử dụng để dụ dỗ những kẻ lui tới đây trở thành người mua hàng. Nhưng ngay khoảnh khắc có ai đó làm thế và vươn tay ra lấy món đồ mình đã chọn, những nàng Fées bội bạc ấy liền chộp lấy anh ta và hất thẳng xuống vách đá.

Đó là những câu chuyện về các nàng Fées hiện vẫn còn lưu truyền tại Normandy. Thêm vào đó, chúng ta có thể kể đến câu chuyện về Dame Abonde hay Habonde, vốn lưu hành trong thời Trung cổ. William xứ Auvergne, giám mục Paris, người qua đời vào năm 1248, đã viết như sau:—

"Sunt et aliæ ludificationes malignorum spiritorum quas...

Dame Abonde cũng được nhắc đến trong cùng thế kỷ đó trong tác phẩm trứ danh *Roman de la Rose* như sau:—

Qui les cine sens ainsine deçoit

Par les fantosmes qu'il reçoit,

Dont maintes gens par lor folie

Cuident estre par nuit estries (allés)

Errans avecques Dame Habonde.

Et dient que par tout le monde

Si tiers enfant de nacion (naissance)

Sunt de ceste condicion,

Qu'ils vont trois fois en la semaine,

Li cum destinée les maine (mène),

Et par tous ces ostex (hôtels) se boutent,

Ne eles ne barres ne redoutent.

Ains sen entrent par les fendaces (fentes)

Par chatieres et par crevaces.

Et se partent des cors les ames

Et vont avec les bonnes dames

Par leur foraius et par maisons.

Et le preuvent par tiex (ces) raisons:

Que les diversités veues

Ne sont pas eu lor liz (lits) venues,

Ains (anzi It.) sunt lor ames que laborent

Et par le monde ainsinc sen corent.

Tại những nơi này, chúng ta thấy rằng Abundia là một nữ vương hoặc kẻ thống trị một băng nhóm mà chúng ta có thể gọi là các nàng tiên, những kẻ chuyên đột nhập vào các nhà dân vào ban đêm, tiệc tùng ở đó, thắt bện bờm ngựa, v.v. Điều này có thể ngay lập tức gợi cho chúng ta nhớ đến Nữ vương Mab của Shakespeare, dù chỉ được biết đến Habundia thông qua một đoạn trích trong tác phẩm của Heywood, nhưng chúng ta phỏng đoán rằng cái tên của bà đã bắt nguồn từ tên của vị phu nhân người Pháp này. Nhân tiện, Chaucer luôn đánh vần từ *habundance* với chữ h, thứ có thể đã biến thành chữ m giống như chữ n trong *Numps* bắt nguồn từ *Humphrey*; cũng giống như Edward thành Ned, Oliver thành Noll, v.v.

Loài Lutin hay Gobelin ở Normandy hầu như không khác biệt gì so với các linh hồn gia thần của vùng Scandinavia và Đức. Nó rất yêu quý trẻ con và loài ngựa; và nếu câu tục ngữ

Ou il y a belle fille et bon vin

Là aussi hante le lutin

không nói dối, thì nó cũng thích cả những thiếu nữ trẻ tuổi nữa. Nó âu yếm trẻ con, cho chúng những món ăn ngon, nhưng cũng đồng thời quật roi và véo chúng nếu chúng hư đốn. Nó chăm sóc rất chu đáo cho lũ ngựa, thỉnh thoảng đem chúng ra phi nước đại, và "lutin- hóa" bờm của chúng, nghĩa là làm cho rối bù hoặc tết và thắt chúng lại theo một cách không thể giải thích nổi. Quả thực, nó quá mê mẩn trò tiêu khiển này đến nỗi người ta kể rằng có lần hai thiếu nữ ngủ quên trong chuồng ngựa, và nó đã tết tóc họ rối tinh rối mù đến mức họ phải cắt phăng đi tất cả. Đôi khi, loài Lutin hóa thân thành một thiếu niên nhà quê và đi dạo với vẻ tự mãn tột cùng. Trong những dịp như thế, người ta bắt buộc phải gọi hắn là *Bon Garçon*, một điều mà người nông dân Normandy không bao giờ quên làm. Lúc khác, hắn lại xuất hiện dưới hình dạng một con ngựa đã được trang bị yên cương đầy đủ. Nếu có người nông dân nào mệt mỏi sau một ngày làm việc đồng áng bị dụ dỗ trèo lên lưng hắn để cưỡi về nhà, hắn sẽ bắt đầu lồng lộn, đá hậu, chồm lên và nhảy tưng tưng, để rồi kết thúc bằng việc hất văng người ấy xuống một đầm lầy hoặc vũng nước ngập tràn. Khi mang hình dáng này, hắn được gọi là *Le Cheval Bayard*, có lẽ được đặt theo tên của chiến mã lừng danh thuộc về hiệp sĩ Rinaldo.

Truyền thuyết sau đây về "Le Lutin, ou le Fé amoureux" được kể lại tại vùng lân cận Argentan:—

Một Fé đem lòng yêu một cô thôn nữ xinh đẹp, và cứ mỗi chiều tối khi nàng đang ngồi quay sợi bên lò sưởi, hắn lại đến ngồi lên chiếc ghế đẩu đối diện nàng và đắm đuối ngắm nhìn gương mặt khả ái của nàng. Tuy nhiên, đối tượng vô ơn của sự quan tâm kính trọng ấy lại đem toàn bộ câu chuyện kể cho chồng nghe, và trong cơn ghen tuông, hắn quyết định trả thù tên Lutin đa tình. Thế là hắn nung chiếc chảo nướng bánh đỏ rực lên, đặt nó lên chiếc ghế mà tên yêu tinh thường ngồi, rồi mặc đồ của vợ, ngồi vào chỗ của nàng và bắt đầu quay sợi hết mức có thể. Tên Fé đến như thường lệ và lập tức nhận ra sự thay đổi. "Nói xem nào," hắn bảo, "La-belle belle của buổi tối hôm qua, kẻ cứ kéo, kéo mãi và liên tục quay sợi đâu rồi, còn mi thì cứ xoay, xoay mãi mà chẳng chịu quay chút nào?" Dù vậy, hắn vẫn tiến đến và ngồi vào chiếc ghế quen thuộc của mình, nhưng lập tức vùng dậy, la oai oái vì đau đớn. Những người đồng bọn của hắn đang đứng gần đó bèn hỏi nguyên nhân. "Ta bị bỏng rồi," hắn kêu lên. "Ai làm mi bỏng?" bọn chúng hỏi. "Chính ta," hắn đáp; vì đó là cái tên mà người phụ nữ đã bảo hắn rằng đó là tên chồng mình. Nghe vậy, lũ kia liền chế giễu hắn rồi bỏ đi.

Cách tốt nhất, người ta nói, để xua đuổi một tên Lutin đang ám ảnh một ngôi nhà, là rải hạt lanh khắp căn phòng mà hắn thường lui tới nhất. Tình yêu dành cho sự ngăn nắp và trật tự của hắn sẽ không cho phép hắn để mặc chúng nằm yên ở đó, và chẳng mấy chốc hắn sẽ cảm thấy chán ngấy việc nhặt chúng lên, thế là hắn đành bỏ đi.

Một tên Lutin mang tên *Nain Rouge* thường hoành hành dọc theo bờ biển Normandy. Theo cách riêng của mình, hắn rất tử tế với những ngư dân và thường giúp đỡ họ những việc vô giá; nhưng hắn cũng trừng phạt những ai không đối xử với hắn bằng sự tôn trọng đúng mực. Có hai ngư dân sống gần Dieppe, một ngày nọ đang trên đường đến Pollet. Trên đường đi, họ bắt gặp một cậu bé đang ngồi bên vệ đường; họ liền hỏi hắn đang làm gì ở đó. "Ta đang nghỉ chân," hắn đáp, "vì ta đang đi đến Berneville" (một ngôi làng cách Pollet chưa đầy một dặm). Họ rủ hắn đi cùng; hắn đồng ý và mang lại cho họ rất nhiều niềm vui với những trò hề của mình trên suốt chặng đường. Cuối cùng, khi họ đến một cái ao gần Berneville, tên nhóc ranh mãnh liền tóm lấy một người trong số họ và tung hắn lên không trung qua cái ao như một quả cầu lông; thế nhưng, trước sự thất vọng tràn trề của hắn, hắn nhìn thấy người kia hạ cánh an toàn không sứt mẻ gì ở bờ bên kia. "Hãy cảm ơn vị thánh hộ mệnh của mi," hắn hét lên bằng giọng khàn đặc, "vì đã nhắc nhở mi mang theo nước thánh khi thức dậy sáng nay. Nếu không có thứ đó thì mi đã được tắm một vố ra trò rồi."

Một đám trẻ con đang đùa nghịch trên bãi cát ở Pollet thì *Le Petit Homme Rouge* đi ngang qua. Bọn chúng bắt đầu trêu chọc hắn, và hắn lập tức lượm đá ném tơi bời vào chúng khiến chúng thấy cần thiết phải tìm nơi trú ẩn trong một chiếc thuyền đánh cá. Ở đó, suốt một tiếng đồng hồ, khi co ro bên dưới những tấm ván che hầm tàu, chúng nghe tiếng mưa đá rơi rào rào đến mức chắc mẩm rằng con thuyền thế nào cũng bị chôn vùi bên dưới những đống đá ấy. Cuối cùng, tiếng động cũng ngớt, và khi chúng lấy hết can đảm thò đầu ra ngó, chẳng còn một hòn đá nào sót lại.

Ở Normandy cũng có một loài linh hồn gọi là *Lubins*, mang hình hài những con sói và đột nhập vào các nghĩa trang dưới sự dẫn dắt của một thủ có bộ lông hoàn toàn đen tuyền. Chúng rất nhát gan, và chỉ cần một tiếng động nhỏ nhất là chúng liền tháo chạy, vừa chạy vừa kêu la: "Robert est mort! Robert est mort!" Người ta thường nói về một kẻ nhát gan rằng: "Il a peur de Lubins!"

Niềm tin vào các nàng Fées, tương tự như những gì chúng ta đã định nghĩa là các Nàng tiên lãng mạn, dường như đã thịnh hành trên khắp nước Pháp suốt thời Trung cổ.

Vị danh tướng Bertrand Duguesclin từng kết hôn với một quý cô tên là Tiphaine, "extraite de noble lignée," theo lời người viết tiểu sử cũ của ông; "laquelle avoit environ vingt-quatre ans, ne onques n'avoit été mariée et éstoit bonne et sage, et moult experte aux arts d'astronomie; aucuns disoient qu'elle éstoit faée mais non éstoit, mais éstoit ainsi inspirée et de la Grace de Dieu."

Một trong những tội danh chính trong cáo trạng chống lại Nữ anh hùng tử vì đạo xứ Orleans là: "Que souvent alloit à une belle fontaine au pais de Lorraine, laquelle elle nommoit bonne fontaine aux Fées nostre Seigneur, et en icelui lieu tous ceulx de pays quand ils avoient fiebvre ils alloient pour recouvrer garison, et la alloit souvent la dite Jehanne la Pucelle, sous un grand arbre qui la fontaine ombroit, et s'apparurent à elle St. Katerine et St. Marguerite." Cô ta cũng bị hỏi rằng "Si elle sçait rien de ceux qui vont avecq les Fées?"

Trong số các nàng Fées này, nổi tiếng nhất chính là Melusina, người đã kết hôn với Bá tước xứ Lusignan. Vào cuối thế kỷ thứ mười bốn, Jean d'Arras đã sưu tầm các truyền thuyết liên quan đến nàng và biên soạn nên thứ mà ông gọi là "Biên niên sử" về nàng. Stephen, một tu sĩ dòng Đa Minh thuộc tu viện Lusignan, đã tiếp nối lịch sử do Jean d'Arras viết lại, tạo cho nó một sự gắn kết, và phủ lên vị nữ anh hùng của mình một vẻ rạng rỡ đến mức một số dòng dõi quý tộc đã ôm mộng vươn tới việc nhận bà làm tổ tiên. Các dòng họ Luxembourg và Rohan thậm chí còn làm giả cả gia phả của họ chỉ vì mục đích đó; và dòng họ Sassenage, dẫu có thể tự hào với gốc gác từ một vị quân vương, vẫn ưu ái Melusina hơn, và để làm vừa lòng họ, người ta đã thêu dệt nên câu chuyện rằng khi rời khỏi Lusignan, nàng đã lui về hang động Sassenage ở vùng Dauphiny.

Sau đây là một phác thảo ngắn gọn về câu chuyện của nàng Melusina xinh đẹp.

Ange par la figure, et serpent par le rest

De Lille.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.