XVI
Hôm nay Dobranski đến tìn Janek và nói chuyện với cậu ta khá lâu.
– Nhất là tớ muốn ông ấy đến đây để ông ấy thấy anh ta và nói chuyện với anh ta.
– Điều ấy không được việc gì cả.
– Có lẽ. Nhưng chúng ta phải thử đủ mọi cách.
– Được. Tớ sẽ đi ngay.
Đến trưa thì Janek đến Wilejka. Khách sạn riêng của nhà Chmura nằm gần Nhà hát lớn. Các cột nhà hát đều dán đầy quảng cáo tiếng Đức: ở đây người ta sẽ diễn Lohengrin cho bọn quân chiếm đóng. Janek đi qua vườn cây tùng, chùi chân và bấm chuông. Một người đầy tớ già ra mở cửa. Ông ta nhìn người khách ăn mặc rách rưới với vẻ nghiêm khắc.
– Đi chỗ khác. Chúng tao không bao giờ cho bọn ăn xin.
– Tôi đến gặp ngài Chmura theo yêu cầu người con trai ông ta.
Bộ mặt của ông già sáng lên.
– Vậy thì vào đây cháu, vào đây.
Ông già đóng cửa, khóa xích, và chậm rãi bước về phía Janek.
– Cậu Tudodo thế nào?
– Anh ấy ốm nặng lắm.
– Lạy chúa tôi, Jesus, Maria, Jesus, Mana. Ông lau nước mắt. Cái đầu của ông, tóc dài bạc trắng, bắt đầu run rẩy.
– Già đã thấy cậu ấy ra đời, già đã thấy cậu ấy lớn lên... Già đã nuôi cả hai, cha và con... Jesus.
Ông già ưỡn lên một chút cái lưng còng của mình.
– Già có thể đến thăm cậu ấy được không?
– Để xem xem.
– Cháu thử hỏi cậu ấy xem, già đây, ông già Valenti, muốn đến thăm cậu ấy...
– Cháu sẽ nói.
– Cảm ơn, cảm ơn cháu nhiều. Cháu là một chú bé ngoan. Ông thấy điều đó ngay. Ngay khi ông mở cửa, ông đã tự bảo: đây là một thiên thần nhỏ với tấm lòng vàng... Đúng, đúng thế. Cháu có muốn vào bếp ăn qua cái gì không?
– Không. Cháu muốn nói chuyện với ngài Chmura.
– Được, được, như cháu muốn... cháu đừng giận, ông sẽ đi làm ngay, đi ngay...
Ông bước đi, kéo lê cái chân, lưng còng. Janek nhìn chung quanh. Đây là một nhà giàu có. Đồ gỗ đều chạm trổ và mạ vàng, cũng như các khung cảnh và các quả đấm của lớn, cửa sổ, một chùm đèn đẹp đẽ treo trên trần nhà. Các tấm thảm lót nhà dày và mịn, với tranh vẽ đẹp mắt. Janek nghĩ đến cái hầm trú ẩn trong đất lạnh lẽo, đến anh sinh viên đang rét run bên đống lửa... Cửa lớn mở ra ồn ào và ngài Chmura bước vào phòng đợi. Đó là một người phì nộn, với bộ mặt đỏ rần và nóng nảy.
– Có phải con trai tao sai mày đến đây không? Điều đó là thật... Nói đi!.
– Ông không cần la lên làm gì, – Janek nói. – Tôi không cần đến ông, tôi...
– Thế thì tao cần đến mày, phải không? Nói đi! Máy cần tiền chứ gì? Cái băng của mày lại đòi tiền chuộc chứ gì?
– Ông chủ, – ông già Valenti van lơn. – Ông chủ, xin ông có ý tứ một chút.
Ngài Chmura cắn môi.
– Thế thì nó thế nào rồi? – Ông ta nói giọng ồ ồ. – Vẫn còn bướng bỉnh chứ?
– Bệnh ho lao là một bướng bỉnh. – Janek nói.
– “Vết thương của Đấng Cứu thế”, – ông già Valenti rên rỉ. – Có thể như thế chăng?
– Nó đã muốn như vậy, – Chmura nói. – Nó đã tìm đủ mọi cách để đi đến đấy. Đáng lẽ nó được chăm sóc như một hoàng tử và lành bệnh. Nó đã không muốn thế. Và tại sao, vì nguyên nhân gì?
– Jesus, Maria! – Ông Valenti lắp bắp. – Chuyện gì sẽ xảy ra với chúng ta?
– Tao muốn đi thăm nó, – Chmura nói.
– Chính tôi đến để đưa ông đi.
Chmura quay về phía Valenti:
– Đi lấy cái áo lông cho tôi.
– Lấy cái áo lông, – ông già cắn nhằn. – Nhưng cậu Tadodo có lẽ cũng rét chứ? Có lẽ cũng đói nữa?
– Thôi, đủ rồi, – Chmura nói. – Chính nó muốn như vậy. Chúng ta không thể làm gì được, cả ông, cả tôi.
– Cái đó còn tùy, cái đó còn tùy! – Ông già nhấm nhẳn. – Không phải cụ thân sinh ra ông đã bắt tay bọn Phổ - cầu Chúa rước linh hồn của cụ vào Thiên đàng!
– Thôi, ông đi lấy áo lông đi.
Ông già vừa đi vừa cằn nhằn. Khi ông trở lại áo lông trên tay, ông cũng mặc ấm để lên đường.
– Tôi đi với ông chủ, – ông nói. – Tôi biết tính khí của hai cha con. Các ngài sẽ cần đến tôi.
Họ đến rừng thì trời đã tối. Janek dẫn họ đến tận hồ cạnh Cối Xay Gió già nua.
– Các ông đợi ở đây.
Janek từ giã họ. Trong hầm trú ẩn của sinh viên, Janek trông thấy Tadek và Dobranski đang cúi xuống trên bàn cờ vua. Lửa sắp tắt, Pech đang ngáy đâu đó, không trông thấy, chui khuất dưới đống lá bẩn thỉu.
– Ông già của ông bạn đã đến đấy. – Janek nói. – Ông ấy muốn gặp ông bạn. Tôi để ông ta đợi ở bên hồ.
– Thì đẩy ông ta xuống hồ luôn, – Tadek nói. – Nếu tớ chiếu tướng thì tớ sẽ mất con ngựa. Nhưng nếu tớ không chiếu... À, mà tất nhiên là tớ sẽ chiếu.
– Con ngựa của cậu thì nước non gì. Hơn nữa, tớ cũng không cần đến con ngựa. Đây là cờ vua và hoàng hậu kia mà.
– Pianoga! – Tadek buồn bã chửi thề. – Tớ không may mắn trong khi chơi.
Anh ta quay lại phía Janek với cặp mắt đang cơn sốt.
– Ông bạn đã không cẩn thận. Lần sau ông sẽ dẫn bọn Đức theo... Này, Adam, có lẽ ta phải thay đổi chỗ ở sang khu rừng khác.
– Cứ đi gặp ông đi đã, – Dobranski vừa nói vừa thu xếp quân cờ. – Dù sao thì đó cũng là chồng của mẹ cậu.
– Pech! Pech!
– Cái gì? Quỷ tha ma bắt các anh đi.
– Chúng tớ đi đây. Hãy chú ý giữ lửa đừng để tắt.
Trăng đã lên. Đêm xanh và trong sạch. Từ xa, họ đã thấy hai bóng đen cạnh hồ. Chmura đến sát con trai và quan sát. Ông cởi áo lông với một cử chỉ đột ngột.
– Mặc đi.
– Ông giữ lấy. Tôi không cần gì ở ông cả. Ông, với đôi bàn tay bẩn thỉu...
– Cậu Tedoku, – ông Valenti xen vào, – sao lại như thế được...
– Con, nghe Ba, – Chmura cắt ngang, – không phải Ba đến đây để tự bào chữa. Nhưng Ba cũng phải nói với cơn điều này: đất nước Ba Lan ở về phía Ba chứ không về phía con. Con đã làm gì cho đất nước? Không làm gì cả. Những hoạt động của con đã làm cho đất nước đó bị bắn giết, mùa màng bị tịch thu, làng xóm bị san bằng. Đất nước đó còn giữ lại được ít thóc lúa và khoai củ, thì đó không phải là nhờ con mà nhờ Ba. Bởi vì Ba không làm nổ tung cầu cống, Ba chỉ làm sao cho người nông dân không chết đói. Ba đúng giữa họ và Đức, Ba tránh cho họ khỏi chết đói hoặc bị dồn sang phía Tây như một đàn súc vật đưa vào lò mổ. Hiện nay không có Nhà nước Ba Lan, còn sau này? Như vậy là còn hơn có một Nhà nước Ba Lan chất đầy xác chết mà trong đó mỗi công dân chỉ là một cái xác không hồn. Cuộc chiến đấu không hy vọng, đẹp lắm, nhưng số phận của một nòi giống là phải sống chứ không phải chết đẹp...
Ông dậm chân.
– Nếu người ta đem đến cho Ba mười đứa trẻ con Ba Lan và để cứu sinh mạng của chúng thì dù có phải liếm giày của mười tên Đức, Ba cũng sẵn sàng làm.
– Cũng gần giống như tôi muốn làm bạn với bệnh ho lao, – Tadek nói. – Cũng giống như ông nói lại với tôi: đừng chiến đấu chống lại bệnh ho lao, Tadek! Hãy láu cá hơn! Hãy chung sống với bệnh ho lao! Cố tranh thủ cho được tình bạn của nó! Có phải bạn muốn hai lá phổi của tôi phải không? Thì bạn cứ lấy đi, hai lá phổi đó thuộc về bạn, bạn thân mến ạ! Mời bạn vào đây, xin bạn yên vị, cứ coi như ở nhà bạn. Sau đấy, có lẽ, tôi có thể ngủ ngon lành; bệnh ho lao sẽ có nhã ý chừa tôi ra.
– Banyboskia! – Ông Valenti sợ hãi kêu lên, – Sao lại nói như vậy...
Chmura quay về phía Dobranski.
– Các anh đã tàn phá cuộc sống của con trai tôi. Các anh sống trong rừng, chờ cho nó qua đi: các anh không hề biết thế nào là một cái nhìn của người Đức. Các anh thì dễ dàng chơi trò những Robin Hood. Nhưng con trai tôi đang ho lao. Nó sẽ chết ở đây, hết sức đơn giản, hết sức ngu ngốc. Điều cần cho nó là núi cao và mặt trời. Các anh lên án người Đức đã bắt con tin, nhưng các anh nào có khác hơn khi bắt con trai tôi làm con tin? Anh không giúp đỡ người Đức nữa, chúng tôi sẽ trả lại con trai cho anh? Tôi muốn cứu con trai tôi, tôi muốn cứu nó. Nhưng có lẽ chậm quá rồi chăng...
– Ông chủ! – Ông Valenti sợ hãi hét lên. – Nhưng như thế. . Phì! Phì! Phì! – Ông ta khạc nhổ. – Sức mạnh quỷ thần!
Chmura nhìn con trai một lúc.
– Con về chứ.
– Ông cung cấp lúa mì cho quân đội Đức thu lợi được bao nhiêu?
– Cậu Tadoku! – Ông Valenti rên rỉ.
– Nếu Ba không bán cho người Đức thì họ sẽ tịch thu và những người nông dân của Ba sẽ không được xu nào cả...
– Nhưng ông có thể đốt cháy lúa mì!
– Và rồi thì, – ông Chmura lạnh lùng đáp, – nông dân của Ba sẽ bị bắn chết và làng xóm bị đốt trụi... Lúa mì muôn năm đấy thưa ngài còn trai của tôi!
Ông hạ thấp giọng.
– Ba không muốn thấy trên đất đai của Ba, những làng mạc bị san bằng, những nỗi đau khổ không đếm xiết. Còn con, con củ làm như con muốn.
Ông ta nói một cách chua cay:
– Cha nào con ấy... Quả táo không bao giờ rời xa gốc cây táo. Nếu con có can đảm chết vì những tư tưởng của mình thì Ba cũng sẵn sàng chấp nhận mất con vì những tư tưởng của Ba.
– Ông chủ! – Valenti hét lên. – Thể trái tim, trái tim, nó không nói gì sao?
– Cứ làm như con muốn, Tadek. Nhưng con nên nhớ rằng trong mỗi nước châu Âu, giờ đây những người chín chắn đều suy nghĩ như Ba, còn con cái họ thì bị bắn chỉ vì muốn viết “Tự do muôn năm” lên tường các nhà xí. Trong mỗi một nước này, những người già bảo vệ nòi giống của họ. Họ biết hơn. Điều đáng kể là thịt và máu, mồ hôi và vú mẹ chứ không phải một ngọn cờ, một biên giới, một chính phủ. Con hãy nhớ lấy: Cái xác chết không hát được bài quốc ca Ba Lan.
Ông xẵng giọng:
– Bây giờ Ba đi đây. Con có đi theo ba không? Ngày mai Ba sẽ gửi con đi Thụy Sĩ.
– Janek, chỉ đường cho ông ta!
Chmura quay lưng, đi nhanh, không một lần ngoái lại. Ông già Valenti chạy theo bằng những bước ngắn và thường quay lại phía Tadek, ra hiệu với những cử chỉ thất vọng.
– Ông chủ, ông không thể để cậu ấy ở lại đây.. Jesus, cậu ấy đang bệnh! Cậu ấy chết mất!
Chmura dừng lại.
– Thôi đủ rồi! Không còn gì phải làm nữa. Ông nghĩ rằng tôi là một con chó nên không cảm thấy gì sao? Nhưng tôi nói với ông: không còn gì để làm nữa. Nó biết nó làm gì. Nó bướng bỉnh. Nó là thịt và máu của tôi. Nó sẽ đi đến cùng Và cuối cùng, tôi xin nói với ông, thà có một đứa con chết, nhưng mà là thịt và máu của mình, còn hơn có cả một ổ chó sống....
Sự kiên nhẫn của người đầy tớ già hình như bất ngờ đến chỗ tột cùng.
– Đồ giết người! – Ông ta la lên, giọng yếu ớt.
– Ông không xấu hổ sao? Nếu ông cụ thân sinh còn sống, ông cụ sẽ nhổ vào mặt ông. Bà mẹ ông chắc đã ngủ với một tên đánh xe ngựa nên mới đẻ ra ông.
– Ông có thể ở lại với nó. – Chmura rít lên giữa hai hàm răng.
– Máu dìm chết ông đi! Ông tưởng tôi sẽ không dám ở lại với cậu ấy ư? Nếu tôi bớt đi được năm mươi năm. Đã từ lâu tôi nhổ vào chân ông... Ông dám ăn nói với tôi như vậy sao? Đã lâu rồi tao không đánh mày, đồ bần thỉu!
Họ còn nghe rất lâu tiếng ông già chửi rủa xa dần trong đêm tối.