XXXI
Họ sống vài tuần lễ trong cơn ngây ngất sung sướng và cái đói đối với họ hình như dễ chịu hơn cái rét ít cắt da hơn. Nhưng cuối tháng hai thì lương thực hoàn toàn cạn hẳn. Janek phải phân chia những củ khoai cuối cùng và rồi họ phải mò trong tuyết để tìm một chùm trái cây, một quả thông. Ba anh em Zborowski hàng đêm mò vào các làng xin xỏ, lạy lục, đe dọa: họ vẫn phải trở về tay không và nhiều lần những người nông dân mà bản thân họ cũng đang đói, đã nện cho họ những trận đòn ra trò. Nhiều người sống đơn độc đã ra hàng quân Đức, những người tuyệt vọng nhất đã ra khỏi rừng và tấn công các đội tuần tiễu Đức trên đường cái để bị giết... Nhưng trong những lồng ngực, hy vọng con người vẫn đứng vững, giống như hoa viôlét dưới tuyết. Một trăm kilo khoai tây, lấy được một cách kỳ diệu, đã giúp cho nhóm du kích nhỏ chiến thắng mùa đông. Chiều hôm đó, anh em Dobranski chui vào hầm, tay trống rỗng như thường lệ.
– Ở Piaski. Romuald đã bị giết, – họ báo tin. – Một đội tiễu phạt sáng nay đã đến làng.
– Thế là còn đốt nhà nữa đây! – Krylenko cằn nhằn.
– Hình như Sopla đã bán rẻ những tội nhân. Bọn Đức đã thưởng cho một trăm kilô khoai...
Buổi sáng một cơn bão tuyết đã quét qua làng và buổi chiều, trên đường Piaski, tuyết lên đến tận đầu gối: những chiếc xe xích Đức có vẻ bất lực trước những lọn tuyết rơi trên lưng và chiếc xe tăng của ngài Stoltz, chỉ huy đoàn xe, đã mắc lầy trước của tòa thị chính và từ chối không nhúc nhích nữa. Stoltz bước ra khỏi xe tăng, và trên mặt hắn, chiếc kính một mắt giống như một cục băng - hắn chửi rủa và đi bộ về nhà chỉ huy. Sau đó có nhiều cuộc hội đàm với những người có máu mặt ở làng. Nhưng mặc dù những lời đe dọa và chửi rủa đánh dấu các cuộc hội đàm này, bộ mặt của dân làng vẫn trắng bệch và trống rỗng giống như vùng đất không người đầy tuyết nơi mà ngài Stoltz phải để chiếc xe tăng lại đó. Chỉ có cuộc nói chuyện với người thợ mộc Sopla là có kết quả. Ngay từ lúc mới gặp, Stoltz đã có cảm giác thuận lợi: vẻ mặt của Sopla không phải trống rỗng như của những người đến trước: bộ mặt này mệt mỏi, chịu đựng và nhợt nhạt.
– Thời tiết khỉ thật! – Stoltz bắt đầu nói, vẻ đe dọa.
Sopla lập tức xin lỗi. Cái cằm run rẩy, hắn bảo đảm với ngài chỉ huy rằng nếu như tuyết rơi nhiều đúng vào lúc đoàn xe Đức vào làng, thì điều đó không phải là tiền định và bất cứ trong trường hợp nào thì hắn, Sopla cũng không dính dáng gì cả. Hắn, Sopla còn hết sức bận bịu vì con cái và vợ, đã bốn mươi tám tiếng đồng hồ rồi không có gì ăn vì vậy không bao giờ nghĩ đến chuyện dựng vật chướng ngại trên đường đi của ngài chỉ huy. Stoltz phán đoán cách nhập đề này đầy hứa hẹn, giả vờ nổi giận đùng đùng, nói năng nào là phá hoại, nào là khiêu khích và cuối cùng, không biết làm thế nào được, Sopla khốn khổ đã hứa sẽ làm cho mặt trời chiếu sáng trở lại, cấm tuyết rơi và trong một lúc quá hăng hái, hứa sẽ tự mình ngăn cơn bão tuyết và trói chân tay nó lại đem giao cho ngài chỉ huy. Với chiến thuật khốn khổ, Stoltz đã nhanh chóng khai thác kết quả bước đầu vào nửa giờ sau, hai tên lính Đức đã mang đến nhà Sopla một bao tải trăm kilo khoai tây. Đến tám giờ, khi tuyết đã cứng trên đường đi, một đội tuần tiễu Đức xuất phát trong đêm tối. Những tên lính đi đều. Tuyết vỡ dưới chân chúng và Sopla chạy trước đội tuần tiễu, men theo các bức tường, và hắn cũng chưa kịp nếm thử những củ khoai đã được trả công, hắn nghe tiếng chân người bước tưởng chừng như đó là tiếng hàm răng nhai khoai tây. Hắn chỉ có một ý nghĩ trong đầu hoàn thành nhiệm vụ nhanh nhất và trở về nhà, ăn một đĩa khoai ngon đang bốc khói. “Kubus sẽ không giận mình đâu, hắn tự nghĩ với lòng tin tưởng tuyệt đối, do đói mà ra. Đó là một người bạn chắc chắn và thông minh. Anh ấy sẽ hiểu. Đội tuần tiễu do tên cảnh sát Klepke, người Hanovre chỉ huy. Thời tiết như thế này thì không nên đặt chân ra ngoài đường, ngay cả để đào ngũ, tên cảnh sát suy nghĩ, với cơn giận tràn hông, một phần cũng vì cả năm nay phải hành quân không nghỉ.
– Chính chỗ ấy, – bất chợt Sopla tuyên bố, giọng nghẹn lại.
Klepke giơ cao ngọn đuốc: phía trước nhà, có tấm bảng hiệu: "J. Piotruszkiewicz. Cửa hàng bánh ngọt, nước giải khát."
– Sao! – Klepke hỏi. – Mày còn đợi gì?
Bộ mặt của Sopla, đen đúa và hằn sâu vì đói và sợ, như một củ khoai dị dạng.
– Thức anh ta dậy như vậy à?... Không để làm gì cả...
– Sao lại không để làm gì? – Tên cảnh sát nhận xét một cách chính xác, – để cho nó một viên đạn vào da.
Hắn đến gần cửa và gõ. Bọn chúng đợi một lúc và có tiếng ngái ngủ vọng ra:
– Ai đấy?
– Bạn bè đây! – Sopla đáp lại thảm hại. – Mở cửa cho tôi với, Kubus.
Cửa mở rộng. Bọn lính bước vào và Sopla tập tễnh bước theo sau. Piotruszkiewicz mặc áo ngủ trùm lên quần mà dây đeo đã rơi xuống đất. Nó có bộ mặt phì nộn và buồn bã.
– Hắt xì!
Sopla nhanh chóng khép cửa và giải thích cho tên cảnh sát:
– Anh ấy phổi rất yếu. Khi còn nhỏ, anh ấy luôn luôn đau ốm. Bà mẹ anh ta phải vất vả lắm mới nuôi anh sống nổi. Anh ta phải sống ở trên núi cao.
– Đôi khi sống trên núi cũng tốt, – Klepke công nhận.
– Anh không giận tôi chứ, Kubus?
– Không. Trăm kilo khoai, đó là một lời xin lỗi đáng giá.
– Sao anh biết?
– Cả làng đều biết.
Sopla đổ sụp xuống trên một cái ghế đẩu và khóc.
– Nào, nào, can đảm lên! – Người bán bánh khuyến khích.
– Tôi không biết ai là kẻ có tội thật sự! – Sopla nức nở. Tôi không thể chỉ bất cứ ai: người ta sẽ trả thù tôi, trả thù gia đình tôi... Vì vậy tôi phải tìm người nào đó mà tôi có thể tin cậy được, một người bạn chắc chắn, trước mọi thử thách...
– Tôi phải chịu ơn anh, – Piotruszkiewicz nói. – Trái lại, anh có thể làm gì cho tôi?
– Tất cả, – Sopla trả lời đơn giản.
– Những củ khoai này... Anh có thể gửi cho nhà tôi một vài kilô không?
– Ngày mai tự tay tôi sẽ mang đến cho chị ấy! – Sopla hứa.
Ông cảnh sát Klepke ra lệnh. Hai người bạn ôm nhau.
– Xin cám ơn về những củ khoai! – Piotruszkiewicz nói.
Sopla mở miệng nhưng không nói được.
– Đi nào, – ông hàng bánh khuyến khích. – Hãy tỏ ra là một người đàn ông, Sopla!
Anh ta đi vào phía tủ tìm một chai rượu và mấy cái ly.
– Cạn chén nào!
Sopla uống.
– Các ông cũng nên làm một cốc, – Piotruszkiewicz mời bọn lính.
– Các ông thật thành thật, – Klepke cảm ơn.
Hắn nâng cốc.
– Chúc sức khỏe của ông!
– Chúc sức khỏe của ngài.
Họ chạm cốc.
– Bây giờ, – Klepke nói, – nếu ông cho phép...
– Tất nhiên, – Piotruszkiewicz nghiêng mình. – Ít nhất bây giờ tôi cũng không thấy đói nữa!
Sopla, bải hoải và lảo đảo, quay lưng lại và bịt tai. Piotruszkiewicz nhận một tràng đạn vào giữa ngực. Anh ta quay như một cái chong chóng, ngã xuống đất và nằm im. Bọn lính vội vàng bước ra, tên cảnh sát đi cuối cùng, hắn mang theo chai rượu. Sopla đi theo chúng. Hắn cảm thấy cần phải ở lại an ủi người vợ góa của bạn hắn, nhưng hắn thấy tốt hơn là để mai hẵng làm, khi mang khoai đến. “Người đàn bà khốn khổ sẽ hết sức sung sướng!”, hắn nghĩ vậy. Cả bọn đã ra đến ngoài đường. Sopla bước nhanh, vội vàng muốn kết thúc, mơ đến đĩa khoai ngon lành đang chờ hắn ở nhà: khoai mềm, trắng và thơm nức... Ngây ngất vì hình ảnh này, hắn không ngần ngại nữa và khi bó đuốc của tên cảnh sát đã phát hiện ra tấm bảng hiệu: “Thợ may Z. Magdalinski. Cắt may hạng nhất. Giá cả phải chăng” thì hắn đập cửa một cách kiên quyết. Không ai trả lời. Hắn lại đập nữa. Tên cảnh sát nhìn cái bảng hiệu với vẻ suy nghĩ, hình như hắn tự hỏi có nên hay không, với giá phải chăng, đưa cái quần đến là nhưng hẳn không biết tiếng Ba Lan. Mệt mỏi vì lạnh, bọn lính bắt đầu dộng báng súng vào cửa. Lập tức có tiếng phụ nữ, rất gần – có lẽ người đàn bà này đã ngồi sau của từ lâu rồi – kêu lên:
– Cái gì đây?
– Xin chào bà, bà Marta, – Sopla nói. – Chúng tôi đến thăm ông nhà.
– Chồng tôi không có nhà.
– Không đôi co gì nữa! – Klepke hét lên bằng tiếng Đức. – Mở cửa ra!
Cửa mở. Một thoáng im lặng, trong lúc đó bọn lính mở to mắt và nhón chân để nhìn cho rõ. Người đàn bà chỉ khoác cái áo tắm bằng vải và phần dưới hoàn toàn trần truồng.
– Bà ta hình như không thấy lạnh: trái lại trên những bộ mặt băng giá, bọn đàn ông cảm thấy lửa bốc lên từ bà ta. Phần thân thể không trông thấy được của bà thì không khó gì mà không đoán ra còn phần trông thấy được thì làm cho người ta không muốn nhắm mắt. Bà Marta to lớn, nước da nâu, với đôi mắt xanh của một con mèo cái và cái miệng ướt như sẵn sàng cho những chiếc hôn nồng cháy.
– Lạy Chúa tôi? – Tên lính Đức trẻ nhất nói giọng thấp nhưng rành rọt.
– Nhìn vào chỗ khác! – Tên lính già hơn ra lệnh, tên này biết bố mẹ chàng lính trẻ và đã hứa với họ là sẽ quan tâm một chút đến chú bé.
– Im! – Bất chợt tên cảnh sát ra lệnh với giọng lạc hẳn đi. Hắn ho.
– Im! – Hắn nhắc lại. – Chồng bà đâu?
– Chồng tôi không ở nhà.
Người đàn bà quay về phía Sopla.
– Đồ Judas! – Bà phun ra.
Sopla muốn cãi lại, nhưng vào lúc đó có tiếng động phía sau quầy hàng.
– Cái gì thế? – Klepke hỏi.
– Tôi biết đâu đấy? – Người đàn bà nói. – Mà có lẽ con mèo cũng nên...
Bà đứng chắn ở giữa cửa. Klepke đẩy bà ta. Bà chống lại và trong khi chống đỡ, một chiếc vú với cái núm hồng hồng và dựng đứng xuất hiện mà bà không cần phải che giấu. Tên lính trẻ và cái núm vú nhìn nhau: tên lính là người đầu tiên phải cúi mặt.
– A! – Hắn thở nặng nhọc.
– Nhìn chỗ khác, đồ khốn kiếp! – Tên lính già ra lệnh. – Còn bà che nó lại đi, con mụ phù thủy.
– Tôi không phải như vợ của ông, – bà Marta rít lên, – tôi không có gì phải xấu hổ với những thứ tôi trình ra!
– Đằng trước, bước! – Klepke ra lệnh.
Họ đẩy bà và lao ra phía sau quầy hàng. Ở đây có một cái giường to tướng và long đanh, khăn trải giường cuộn chung quanh chiếc gối, chăn dồn lại một đống và nệm lông rơi xuống đất. Ở đây không ai cả.
– Thì tôi đã nói với các ông là con mèo mà! – Bà Marta kêu lên.
Và quả nhiên người ta nghe tiếng mèo kêu rất nhỏ.
– Suỵt! Suỵt! Suỵt! – Tên lính trẻ nhất yêu súc vật nói. – Có lẽ nó ở dưới gầm giường...
Hắn cúi xuống và cho tay xuống dưới giường. Bộ mặt hắn bất chợt lộ vẻ hốt hoảng không tả được.
– A! – Nó kêu lên giọng yếu ớt.
Tên cảnh sát Klepke vội nhìn xuống dưới giường.
– Chui ra!
Chầm chậm và có vẻ phật ý, một gã đàn ông từ dưới giường chui ra. Hắn to béo và đã đứng tuổi. Hắn trông không đẹp mắt. Hắn nổi da gà.
– Con mèo con đấy ư? – Klepke hỏi.
– Tôi biết bắt chước mèo kêu rất giống! – Gã đàn ông đáp có vẻ khó chịu.
Klepke ra lệnh. Bọn lính giương súng.
– Khoan đã! – Bỗng nhiên Sopla kêu lên. – Người này không phải là anh thợ may Magdalinski.
− Lạy Chúa tôi! – Tên lính trẻ nhất nhìn người lạ với vẻ kính trọng.
Một lát im lặng.
– Thế thì ai đây? – Klepke hỏi.
– Tôi không biết! Hắn không phải người làng này. Tôi chưa bao giờ trông thấy hắn.
Gã đàn ông quấn một chiếc chăn quanh mình. Hắn nói với tên cảnh sát bằng tiếng Đức rất sõi. Tên tôi Schmiedt. Tôi có giòng máu Đức. Tôi làm việc cho chính quyền quân quản ở đây...
– Ở đây? – Tên lính trẻ nhất hét lên, sợ hãi.
– Đừng nghe! – Tên lính già ra lệnh. – Bịt tai lại!
– Tôi muốn nói: ở Wilno. Tôi ký hợp đồng vận tải với quân đội. Tôi được cấp trên của các ông nể nang, thưa ông đội trưởng, vì vậy tôi có lời khuyên ông là nên rút lui khỏi đây. Còn người mà các ông tìm kiếm không có ở đây.
– Thế thì nó ở đâu?
Schmiedt nhún vai:
– Làm sao tôi biết được. Tôi chỉ quan tâm đến vợ nó chứ không phải đến nó. Có lẽ hắn đã đi vào rừng với bọn du kích. Đó là một tên ăn cướp.
Lại yên lặng. Rồi Sopla bắt đầu hét lên. Hắn run lên vì giận dữ. Hắn đau khổ cho bạn hắn là Magdalinski. Như vậy là người thợ may đã đi theo du kích, phục vụ tổ quốc. Và trong lúc đó thì vợ hắn đã lừa dối hắn, đi lại với kẻ thù. Sự đê hèn, bần tiện của một tư cách như vậy đã làm cho Sopla ngạt thở.
– Đồ chó cái! – Hắn hét lên. – Đồ đàn bà không... Nhưng bà Marta đã cắt ngang lời hắn:
– Tôi không có việc gì phải xấu hổ! Người đàn ông này đã cho tôi ăn! Ngay cả chồng tôi cũng không nói được! Và cả ông, ông cũng không được nói, ông Sopla. Nếu vợ ông trẻ hơn hai mươi tuổi thì bà ấy cũng làm như tôi thôi!
Sopla sợ sệt lùi lại. Và bọn Đức, trước hết là tên cảnh sát Klepke, bắt đầu chế nhạo, rồi cười đến gập người lại. Bà Marta nhìn chúng một cách khinh bỉ. Rồi bà nổi giận thật sự.
– Các ông cười ai nào? – Bà hét lớn. – Cười ngay chính các ông đấy. Các ông có vợ, có người yêu không? Các ông để vợ, để người yêu lại bên Đức ư? Thế thì vợ các ông cũng làm như tôi! Đúng thế, các con cừu non của tôi! Những bà này thì là do họ khó chịu, những bà khác thì vì họ thích làm thế hoặc bởi vì điều đó cũng giống như thêm bơ vào rau thìa là!
Cái cười của tên cảnh sát Klepke vụt tắt trước tiên. Hắn để lại một người vợ trẻ ở Hanovre, một người đàn bà rất trẻ. Lúc đầu mới chia tay hắn nhận được rất nhiều thư. Nhưng bây giờ thì thỉnh thoảng mới có thư, và nhất là lời lẽ viết trong thì cũng đã thay đổi. Nàng không yêu cầu "Cưng của em" phải trở về nữa, như nàng thường làm lúc đầu. Nàng cũng không ta thán gì nữa về sự cô đơn. Điều đó đã làm cho tên cảnh sát Klepke lo ngại rất nhiều và con rắn nghi ngờ đã len lỏi bò vào trong đầu óc hắn. Thường thì hắn cũng cố tránh không suy nghĩ đến điều đó, những bây giờ, ở đây, người đàn bà này... Những ông chồng khác cũng suy nghĩ như vậy. Họ nhìn Schmiedt với vẻ căm ghét. Họ cảm thấy ái ngại cho anh thợ may Magdalinski. Đó là một kẻ thù, chắc chắn như vậy vì đó là một du kích nhưng giữa họ và anh ta có một sự thông cảm với nhau: sự thông cảm giữa những người chồng bị vợ lừa dối khi họ đang ở mặt trận.
– Sao? – Bà Marta hỏi. – Không cười nữa à?
Cánh đàn ông nhìn nhau. Họ không nói gì, không nêu câu hỏi, nhưng tất cả cùng lúc đó đều suy nghĩ như nhau là họ sẽ phải làm gì. Sự thỏa thuận của họ với nhau không nói ra và mau lẹ hình thành. Ngay cả kẻ chiến thắng là Klepke và Kẻ chiến bại là Sopla cũng nhìn nhau và hiểu nhau không cần trao đổi một lời nào.
– Mày có chắc chắn rằng người này là anh thợ may Magdalinski không?
– Tôi không biết nữa, – Sopla nói. – Đã lâu tôi không gặp Magdalinski. Có thể là hắn đấy. Cũng có thể không phải hắn. Tôi không biết nữa.
– Hãy nhìn kỹ hắn lại đi!
– Tôi đã nhìn kỹ, – Sopla nói bằng cách cẩn thận nhìn phía khác.
Schmiedt tỏ ra lo lắng.
– Vở hài kịch này có nghĩa thế nào? Tôi có giấy tờ hợp pháp. Giấy tờ nằm trong áo khoác của tôi. Tôi có thể đưa cho các ông xem.
– Ở đâu đứng yên đấy! – Klepke ra lệnh.
Hắn nghĩ đến vợ hắn. Cách đây một năm, khi chia tay, nàng khóc. Họ vừa mới cưới nhau và ở với nhau được hai tuần. Hắn nhớ lại thân thể nồng ấm của nàng, những cái vuốt ve cháy bỏng của nàng. Cái mà từ lâu hắn cố gạt ra khỏi đầu óc thì bây giờ lại tràn ngập một sự thật hiển nhiên: vợ hắn không thể sống một mình trong hơn một năm nay. Nàng có một người tình nhân đêm đêm vuốt ve nàng trong khi hắn, Klepke, luôn mòn mỏi cuộc sống, sức lực ở cái xứ tuyết chết tiệt này... Nàng có một người đàn ông, chắc chắn không nghi ngờ gì nữa, đó là một người lợi dụng cuộc chiến tranh này. Cuộc chiến tranh này có lợi cho ai? Không phải cho người đã ra mặt trận: những người đó sẽ bị giết chết hoặc nếu họ có trở về thì họ cũng thấy nhà cửa của họ đã tan hoang. Không, cuộc chiến tranh này chỉ có lợi cho những người ở lại. Với những người như Schmiedt, hắn sẽ chiếm vợ anh khi anh ở xa, thì... hắn ra lệnh:
– Sửa soạn đi!
Schmiedt trở nên hết sức nhợt nhạt:
– Giấy tờ của tôi đều hợp lệ. Tôi mời ngài xem qua các giấy tờ đó, ngài đội trưởng. Điều đó sẽ tránh cho các ngài những điều phiền phức. Tôi có những người bạn ở cấp cao. Tôi là đảng viên. Tôi thuộc dân Đức, ngài đội trưởng ạ! Xin ngài chớ quên điều đó...
“Tại sao lại không quét ra khỏi thế giới này một thuộc dân Đức”. Bỗng nhiên Sopla suy nghĩ.
Hắn bước tới một bước và tuyên bố:
– Chính là Magdalinski. Bây giờ tôi biết rõ chính hắn!
Trên đường đi, Klepke vỗ vai thân mật Sopla và chúc hắn ngủ ngon. Hắn tỏ ra vui vẻ.
– Đảng viên! – Hắn cằn nhằn. – Ừ thì đảng viên.. rồi mày sẽ biết tay tao... Chúc ngủ ngon, ngài Sopla!
Hắn dẫn đội tuần tiễu đi. Sopla về nhà. Hắn nói với vợ:
– Nhanh lên. Tôi đang chết đói đây.
– Sẵn sàng cả rồi.
Cũng vào lúc đó có tiếng gõ cửa.
– Thế mà tưởng đã xong xuôi rồi, – Sopla nói.
Cửa mở. Ba anh em Dobranski lọt vào nhanh, Janek theo sau.
– Xin chào.
Đôi môi của Sopla động đậy, nhưng không một tiếng nào từ miệng thoát ra được.
– Xin chào, – vợ hắn nói.
Hai tay bà nắm chặt chéo tạp dề. Janek nhìn đôi tay bà ta. Những bàn tay mệt mỏi và đỏ ran lên vì phải giặt áo quần. Những bàn tay già và nhăn nheo hơn bộ mặt. Những bàn tay hình như có một cuộc sống riêng, và những ngón tay nhăn nhúm còn biểu lộ sự đau khổ câm lặng hơn là bộ mặt và đôi mắt.
– Tôi không sợ, Sopla. Tôi đã phun ra quá nhiều...
Vợ ông ta đi về phía tủ. Bà mở tủ và bắt đầu lấy ra những áo quần mặc ngày chủ nhật của ông. Tôi chỉ muốn được ăn trước.
– Bao tải khoai đâu? – Người anh cả trong nhóm Dobranski hỏi.
Janek nhìn đôi bàn tay bà vợ. Cậu nhìn thấy những ngón tay bíu chặt lấy nhau trong một cử chỉ lâu đời, già cả giống như sự đau khổ.
– Các ông không thể làm như vậy, – người đàn bà nói. – Tôi có những đứa con. Các ông không thể giết bố chúng và mang cả bao tải khoai đi nữa.
– Chúng tôi không giết ông nhà đâu. Chúng đôi chỉ cần bao khoai.
– Thế thì thà giết ông ta đi, giết ông ta đi!
- Stefa, – Sopla van xin, – Stefa...
– Giết ông ta đi, – bà hét lên, – giết ông ta đi!...
Họ đã đi ra ngoài, họ đi trong tuyết, lưng cúi gập dưới bao khoai quý giá và họ còn nghe tiếng kêu:
– Giết ông ta đi!
Và tiếng cầu khẩn của Sopla.
– Stefa, Stoltz....
Và bỗng nhiên đối với Janek thì thế giới con người cũng chỉ là một cái bao tải khổng lồ, trong đó một khối lượng dị dạng những củ khoai mù quáng và mơ mộng đang giẫy giụa: đó là nhân loại.