XXX
Trong hầm trú núp của nhóm sinh viên, những củ khoai phồng lên và nổ tung vui vẻ trên bếp lửa, mọi người đã cởi áo da cừu và mở cúc áo va-rơi: trong hầm nóng. Ngồi càng gần lửa càng tốt – đến nỗi cái đũng quần đã bốc khói một cách nguy hiểm – ông già Krylenko nhón những những củ khoai từ trong bếp lửa, hình như không quan tâm gì đến việc tay có thể bị hỏng. Ngồi chồm hổm trước một "xô" nước sôi, Janek đang sửa soạn pha "trà": Pech đã cho anh biết công thức nổi tiếng về cách pha. Và Pech khai mạc phiên họp.
– Đồng chí Dobranski! – Anh ta tuyến bố long trọng.
Mọi người vỗ tay. Pech cho rằng đã đến lúc "kích thích" quần chúng, giống như vào thời những cuộc mít-tính trước kia. Anh ta mở lại miệng, lấy hơi và hét to:
– Châu Âu thống nhất và không chia cắt muôn năm! Hoan hô quân đội giải phóng! Hoan hô...
– Im đi, Pech, – mọi người nhã nhặn khuyên anh ta. – Ngồi xuống đi!
Dobranski phát biểu.
– Tớ có ý nghĩ sẽ đọc cho các cận nghe câu chuyện sau đây, trong khi đọc lại bài thơ bốn đoạn nổi tiếng của Pouchkine.
Một con quạ bay đến phía một con khác
Một con quạ nói với một con khác...
– Đó là hai câu đầu trong bài thơ “Rouslan và Lioudmila”, – Pech xác minh.
Và anh ta nhảy lên:
– Thiên tài bất tử của bài thơ châu Âu Alexandre Sergueïevitch Pouchkine muôn năm! – Anh la lớn.
– Nằm xuống, nằm xuống! – Mọi người van xin anh ta. – Pech quay vào ổ đi!
Dobranski tuyên bố.
Đầu đề: Ngoại ô Stalingrad.
Anh bắt đầu đọc...
Bình minh đã đến. Những con ếch phải ăn đêm dần dần im tiếng, những con dơi cuối cùng tìm chỗ ẩn bay loạn xạ và con sếu chầm chậm từ bụi lau bước ra và nuốt con cá đầu tiên. Hai ông già của sông Volga, những con quạ trăm tuổi Ilia Osipovitch và Akaki Akakivitch, xuất hiện trên sân. Chúng bay vòng chầm chậm trong sương sớm và quan sát mặt nước với con mắt chăm chú.
– Không thấy gì cả, Akaki Akakivitch.
– Không thấy gì sao, Ilia Osipovitch? Chắc có lẽ tai anh nghe đã kém.
Nhưng cái cửa sổ đã mở và có tiếng Đức nói rõ ràng: “Thông cáo của đội quân phía Đông. Binh sĩ của chúng ta, dưới sự chỉ huy của thống chế huân tước von Ratwitz, con người Warszów, con người La Haye, một trong những vị chỉ huy nổi tiếng nhất của chúng ta, ngày hôm qua đã tiến đến một điểm trên sông Volga!”
– Đó là nơi làm tổ lần đầu tiên của lão? – Akaki Akakivitch rủa thầm, mồm đầy nước bọt. – Nó làm cho lão phát thèm.
Hai người ăn mặc rách rưới xuất hiện trên đồng, ngồi xoạc chân trên hai khúc gỗ. Hai khúc gỗ xoay tròn nguy hiểm khi gặp chỗ nước xoáy.
– Pitz! – Kỵ sĩ thứ nhất la lên một cách tuyệt vọng. – Chúng ta tuyệt đối phải đi sát vào bờ!
– Lạy Chúa! – Kỵ sĩ thứ hai trả lời. Nhưng cố tránh cựa quậy.
Cái xác của tên lính Đức Schwanke, người Sassnitz, một thành phố nhỏ, đẹp trên bờ Baltique. Nó có vẻ lang thang và thờ ơ, ngậm một cọng rơm giữa hai hàm răng, nằm ngửa uể oải, với cách nhìn cố định hình như chỉ để ngắm trời mây. Nhưng những mảnh ván trôi không lọt qua con mắt đã rời bỏ mọi vật trên đời này. Tên lính Schwanke xoay tròn, ngạc nhiên và đến bám chặt vào khúc gỗ thứ nhất.
– Ê! Karl Röder ở Hambourg! – Hắn la lên, với giọng của người chết, hướng về phía lau sậy. – Hãy liếc qua một tí xem tớ đã bắt được đứa nào đây.
– Mày bảo tao nhìn với cái gì? Chẳng lẽ với lỗ trống. – Tên thợ hồ Karl Röder, người Hambourg cằn nhằn với giọng như thế. – Nó rời đám lau sậy và bắt đầu trôi vật vờ đây đó.
– Nếu tay tao có thể vớ được những con chim bẩn thỉu vừa chơi tao một vố!
Ilia Osipovitch và Akaki Akakivitch nhìn hắn với con mắt đặc biệt vô tư.
– Đi phía này! – Tên lính Schwanke độ lượng hướng dẫn..
– Ai thế? – Tên thợ hồ Röder hỏi với vẻ quan tâm.
– Ê! Printzel ở Mannheim! – Schwanke la lên. – Ê! Kanninchen ở Lübeck, đến đây! Các cậu đoán thử tớ đang tóm được ai đây?
Có giọng nói gắt gỏng từ trong đám lau sậy.
– Với một kẻ đáng ra phải treo cổ thì ông bạn ơi, tao tưởng này phải bằng lòng vì đã chết đuối! Để tao lại gần chút nữa đã... Tôi không thấy gì hết nếu không có kính! Nếu không phải là thống chế huân tước von Ratwitz, thì tao không phải là Kanninchen nữa.
– Chắc chắn mày không phải là Kanninchen rồi! – Một giọng chửi rủa vang lên trong đám lau sậy, – và tao càng nhìn tao càng chắc chắn rằng con trai mày cũng không phải tên đó! Một khi tao đã gặp phải một đám bùn mềm nhũn và không tôm cá gì hết, thì không có cách nào tao có thể nhắm mắt được... Cái gì trôi qua đây thế?
Trên mặt nước nổi lên ba phần tư thi thể của tên hạ sĩ Đức.
– Này! này! Một trong những vị chỉ huy nổi tiếng nhất của chúng ta đấy! Ê! Chúng bay, lau sậy, cát sỏi và những cành cây trên bờ, những hòn đá dưới đáy sông, những đứa còn lại, hãy đến gần đây!
– Nếu mày nói đấy không phải là Adolf Hitler, thì có lẽ tao suýt sẽ chết vì sung sướng, – có một giọng kim cảm động vang lên.
– Ha!ha!ha! – Cả đám cười rộ lên. – Ha! ha! ha!
Thống chế huân tước von Ratwitz, một trong những người chỉ huy nổi tiếng nhất của chúng, giận dữ bám chặt vào khúc gỗ mục. Hắn rơi vào một vùng nước xoáy. Những thi thể của những tên lính Đức khác, cũng xoay quanh hắn, mắc vào cành cây mà hắn đang cưỡi.
– Pitz! – Hắn giận dữ hét lên cho tên phụ tá cận vệ, – hãy gạt những cái xác này đi! Chúng cản trở không cho chúng ta tiến lên!
– Lạy Chúa! – Tên đại úy Pillo la lên, đầy giận dữ.
– Akaki Akakivich! – Con quạ Ilia Osipovitch trịnh trọng lên tiếng. – Anh có nhớ cái tẩu hút thuốc mà ông già quá cố của tôi đã thấy trên thi thể của một tên tướng Pháp ở Borodino không? Tôi sẽ đem nó đánh cuộc với cái đồng hồ bằng bạc rất đẹp của anh, rằng tên đại úy trẻ này không có gan nhảy xuống đâu. Xin thề danh dự!
– Xin lấy danh dự mà thề! – Alaki Alakivich lên tiếng thách thức theo lối các nhà thể thao.
– Thế thì, thưa các ngài, – tên lính Schwanke vừa tuyên bố với cử tọa đáng kính, vừa nhìn trời với con mắt không chút diễn cảm. – Tớ tin rằng lần này thì tớ nắm được nó. Và đương nhiên là bọn bay phải mắc nợ tớ!
– Được, Schwanke! – Tên lính Printzel, người Mannheim lên tiếng. – Chúng tớ sẽ sẵn sàng trả công cho cậu một cốc nước sông Volga.
– Ha! ha! – Hai cử tọa đáng kính cười đến đau bụng trước lời đùa rõ ràng rất tế nhị này. – A-ha-ha-ha!
– Cái gì vậy? – Có tiếng hỏi từ trong dám lau sậy và những thi thể của những tên lính khác của đội quân Đức vĩ đại xuất hiện tứ phía. – Quỷ tha ma bắt! Thống chế huân tước von Ratwitz gia nhập đấy kia!
– Ngài ấy chưa gia nhập vĩnh viễn, – tên hạ sĩ Kanninchen nhận xét, có ý ám chỉ. – Hừ! hừ!... Có ai trong số cử tọa đáng kính ở đây, phản đối tớ rằng thống thế huân tước vĩnh viễn là một người trong số chúng ta?
– Không ai cả, không ai cả! – Chung quanh đều lên tiếng phấn khích. – Trái lại, rất hân hạnh, rất hân hạnh!
Ngài thống chế huân tước đưa chân đá bên phải, đá bên trái để giải thoát cho khúc gỗ mình đang cưỡi.
– Ô! ô!... – Tên lính Schwanke rên rỉ với vẻ giả tạo. – Ngài đá vào đít tao!
– Sao, ngài dám làm thế à? Nhưng đó là một tội lỗi. Điều đó tuyệt đối bị nghiêm cấm trong điều lệnh.
– Ôi! đau quá! – Tên lính Schwanke rên rỉ và cầu trời làm chứng cho với con mắt trống rỗng.
Cả dám cử tọa đáng kính cười muốn thắt ruột và càng ngày càng vây quanh lấy khúc cây bất động.
– Pitz! – Thống chế huân tước hét lên, – xuống đây ngay và kéo tớ ra khỏi chỗ này!
– Lạy Chúa! – Đại úy Pitz kêu lên the thé và nhắm mắt, rời khúc gỗ mình ông cưỡi.
Akaki Akakivitch gật đầu với vẻ thỏa mãn.
– Tôi rất lấy làm sung sướng vì đã không đánh cuộc với anh, anh Akaki Akakivitch ạ. Nếu không, tôi đã mất tiêu cái tẩu thuốc lá đẹp rồi!
– Nhưng anh đã cược rồi, Ilia Osipovitch! – Akaki Akakivitch nói, cố gắng làm ra vẻ nổi giận. – Anh đã đánh cuộc trên danh dự!
Ilia Osipovitch nheo một mắt, nhìn Akaki Akakivitch và ông này thở dài không nói gì thêm nữa.
– Các ngài! Các ngài! – Tên lính Schwanke hét lên, – đại úy Pitz cũng gia nhập. Tớ có ý định cử hai người trong số các ngài phải chú ý làm sao để cho hành động của ông ta có tính cách... hừ! Nói thế nào đây?... quyết định. Ai là những người lâu nhất trong số các ngài?
– Tớ, – tên lính Kanninchen nói, – tớ đã ở đây ba ngày rồi và cũng chưa uống no nước để đến nổi chìm nghỉm!
– Còn tớ, – Printzel nói, – tớ cũng đã ở đây ba ngày rồi, và trên mình tớ có cả thảy hai mươi bốn con tôm, chúng chỉ muốn được phục vụ!
– Ha-ha-Ha! – Đám cử tọa đáng kính cười vặn vẹo, – cái lão Printzel đấy, bao giờ cũng thế, không thay đổi gì cả.
– Được, – tên lính Schwanke nói, – Printzel và Kanninchen theo lệnh của tớ, hướng đại úy Pitz, đằng trước, bước!
Có tiếng động dưới nước và đại úy Pitz cảm thấy đột ngột bị ai nắm chân kéo xuống và lập tức hắn đâm đầu xuống nước với tiếng “ục, ục” không hay ho gì lắm.
– Tội nghiệp. – Hai con quạ Ilia Osipovitch và Akaki Akakivich thì thầm một cách thiện chí.
– Tội nghiệp, tội nghiệp vang lên bên tai tên lính xâm lược Printzel, và các ngài sẽ thấy, sẽ thấy rằng các cây lau cũng không đến nỗi tồi nếu người ta thổi chúng từ dưới gốc lê!
– Đằng sau, quay! – Thống chế huân tước hét lên. – Chúng bay không biết tao là ai sao?
– Lạy Chúa! Lạy Chúa! – Đám cử tọa đáng kính la lên vui vẻ, cùng vây quanh lấy ông ta.
– Tao là người chỉ huy chúng bay, đã đưa chúng bay đến Ba Lan, đến Pháp...
– Và đến sông Volga! – Cử tọa đáng kính đồng thanh hô lên. – Đừng quên sông Volga, thưa ngài! Vì trong nước sông Volga có cái gì đó, mà khi người ta uống đủ lượng cần thiết, thì nó làm cho cả đến một con chó cũng quên mất sự kính trọng đối với chủ nó.
– Các thi thể Đức! – Thống chế huân tước hét lên, khi thấy khúc gỗ đâm sầm vào mình. – Đi chỗ khác! Đây là mệnh lệnh:
– Lạy Chúa! Lạy Chúa! – Các xác chết Đức thì thào và nguyên thống chế huân tước von Ratwitz chầm chậm bị lật úp, giơ hai tay lên trời và vĩnh viễn biến mất dưới nước.
– Tôi sẽ theo sau anh, Akaki Akakivitch! – Ilia Osipovitch lễ phép thì thầm trong khi nhẹ nhàng hạ cánh.
– Tôi không làm gì hết, Ilia Osipovitch... Tôi xin theo sau anh!
– Thôi được, xin chúc sức khỏe anh, anh Akaki Akakivitch, xin chúc sức khỏe anh.. Xin chúc anh mạnh khỏe...
Dobranski ngừng lại và chiêu một ngụm "trà".
– Thôi hôm này thế là đủ rồi! – Janek lên tiếng. – Đoạn này không hay lắm!
Pech lại quyết định "kích thích" những người tham dự.
– Hoan hô nhà văn giải phóng châu Âu, đồng chí Adam Dobranski của chúng ta!
– Hoan hô, hoan hô! – Những người du kích hưởng ứng.
Đến đây, Pech tưởng thời cơ đã đến để kiếm chút uy tín cá nhân.
– Hoan hô Pech! – Anh ta mạnh dạn đề nghị.
– Ô hô! Đả đảo, đả đảo! Đi nằm đi! Quay về với cái ổ của cậu đi!
Hết sức thất vọng, Pech xoay lưng về phía công chúng và chỉ hoàn toàn chú ý đến mấy củ khoai, Dobranski tiếp tục:
Mấy phút sau, hai ông bạn già nặng nề đậu xuống, có lẽ, trên một cành cây sên ưa thích. Hết sức ngạc nhiên họ trông thấy một con quạ khác ốm o và õng ẹo, cái cổ dài ngoằng và cái mỏ hết sức nhọn.
– Xin thề trên bộ lông của tôi! – Ilia Osipovitch la lớn. – Nhưng đây chính là Karl Karlovitch ở Berlin bằng xương bằng thịt!
– Nhất là bằng xương! Ôi! Nhất là bằng xương! – Con quạ mới đến rền rĩ, với giọng Đức rất đúng.
Dưới thời các Sa hoàng, con quạ Đức, Karl Karlvich đã đến ở nước Nga và đã có một địa vị cao quý trong triều đình. Sa hoàng kết bạn với nó. Thường thường, ngài dừng lại ở chỗ cửa sổ và nếu ngài nhận thấy Karl Karlvich có vẻ không thỏa mãn với mẫu bánh bình thường thì ngài lại khuyến khích quần thần cùng xuống sân và mỗi người chiêu đãi Karl, Karlvich một mẩu bánh ngon hơn. Rất nhanh, mọi người bắt đầu tranh giành sự chú ý của Karl Karlvich và như vậy người ta sẽ thấy các ngài thượng thư mất ngủ khi biết rằng con quạ Karl đã từ chối không chú ý đến phần đóng góp của mình: đó là dấu hiệu chắc chắn của một sự thất sủng sắp đến nơi. Sa hoàng rất chú ý đến sở thích và sự lựa chọn của con quạ bởi vì ngài thường có thói quen nói rằng con quạ có cái may mắn nhận xét được bản chất của đám cận thần của ngài.
– Thế anh làm gì mà mò đến đây, Karl Karlvich? – Ilia Osipovitch kêu quạ quạ. – Có lẽ đi đổi gió hay làm một chuyến du lịch?
– A! – Karl Karlvich thở dài. – Chúa chứng kiến cho rằng đi tham quan vùng Volga vào một lúc khác thì cũng thích đấy... Nhưng cuộc chiến tranh này... A! Thật xui xẻo... Cách đây vài ngày, tôi dự một buổi chiêu đãi ở lâu dài của huân tước von Ribbentrop! Cũng phải giải thích để các ông bạn quý của tôi hiểu rằng bên cạnh thống chế Ribbentrop tôi cũng có một chỗ như xưa kia bên cạnh Sa hoàng... Có nghĩa là ở đâu tôi cũng được mời mọc... Một buổi lễ thịnh soạn ở lâu đài của huân tước, khách khứa sang trọng, âm nhạc du dương, rượu Pháp ngon nhất... Nhưng tôi, tôi không thấy gì cả, tôi ngồi trong một góc phòng và tôi khóc, tôi khóc. Và bỗng nhiên tôi thấy ai thế? Chính ngài huân tước von Ribbentrop đang tiến lại gần..
“Tại sao, anh lại khóc như vậy, Karl, con quạ Đức. Tại sao?”
“Thưa ngài, tôi khóc. Mà làm sao không khóc được? Nước Nga khốn khổ, a! Nước Nga khốn khổ...”
“A! Ngài huân tước nhắc lại: Nước Nga khốn...”
Và chính ngài cũng khóc... Một cảnh tượng, một kỷ niệm đáng nhớ? Nhưng bỗng nhiên ai đến thế? Phu nhân và con gái của huân tước đang đến gần.
“Tại sao các ngài khóc như vậy thưa các ngài, tại sao?”
“A! Püppchen! A! Gretchen! Huân tước nói. Chúng tôi khóc, mà làm sao không khóc được Nước Nga khốn... khốn khổ”.
“A! A! Gretchen, Püppchen kêu lên và họ cũng bắt đầu khóc.”
“Những người phụ nữ dũng cảm, những trái tim cao cả! Và tất cả thực khách đều tiến đến, vây quanh chúng tôi ngạc nhiên.”
“A! A! Chúng tôi đáp, qua làn nước mắt. Nước Nga khốn... khốn khổ!”
“A! Nước Nga khốn... khốn khổ! Khách khứa kêu lên và họ cũng bắt đầu khóc.”
“A! Một cảnh tượng, một kỷ niệm đáng nhớ! Tôi khóc, huân tước khóc, Püppchen khóc, Gretchen khóc, dàn nhạc khóc, quan khách khóc và cả tôi tớ cũng khóc... Tất cả đều khóc như suối chảy.”
“A! Lúc đó ngài huân tước mới nói với tôi, giữa hai cơn nức nở. A! Karl, con quạ Đức. Anh có ảnh hưởng rất lớn đến lãnh tụ của chúng ta. Hãy đi đi! Giải thích cho ngài rõ. Hãy cứu lấy nước Đức... tôi muốn nói hãy cứu lấy nước Nga!”
“Tôi đi ngang qua Berlin đầy nước mắt. Một cảnh tượng, một kỷ niệm đáng nhớ! Những góa phụ khóc, những bà mẹ khóc, những cô con gái khóc, và những chị em, những vị hôn thê, những đứa trẻ mồ côi khóc, tất cả đều khóc như suối chảy. Các đoàn quân vừa hành quân vừa khóc. Tôi đi đến cung điện, người ta báo tin và tôi bước vào... A! Một cảnh tượng, một kỷ niệm đáng nhớ! Trước bản đồ nước Nga quốc trưởng đang ngồi và ngài cũng khóc. Những giọt nước mắt như thế...”
Karl Karlovitch dừng lại và són ra mấy cục phân.
– Những giọt nước mắt thật sự của quốc trưởng!
– A! – Ilia Osipovitch lên tiếng vẻ thiện cảm. – Nhưng làm sao mà bây giờ anh lại ở đây trên sông Volga, rất xa với quê hương của anh?
– A! A! – Karl Karlovitch nổi giận ngay lập tức, đập cánh. – Một bi kịch, một kỷ niệm... Berlin bị ném bom... Tôi cũng bị ném bom... Lãnh tụ, quốc trưởng bị ném bom! Nhưng tôi cứ đậu ở đấy, trước cửa của người trung thành đến cùng, con quạ Đức trung thành đến chiếc lông cuối cùng và bỗng nhiên, tôi thấy gì? Cửa xịch mở và quốc trưởng, nhợt nhạt nhưng kiên quyết, lao ra và theo sau quốc trưởng, Gœring lao ra, và theo sau Gœring, Gœbbels lao ra, và theo sau Gœbbels, thống chế von Katzen-Jammer lao ra! Tất cả đều nhợt nhạt nhưng kiên quyết!
“Karl, con quạ Đức, họ hét lên. Có một quả bom nổ chậm trong ống khói. Hãy làm cái gì đi! Hãy cứu lấy quốc trưởng, Karl!”
Và lúc đó, tôi làm gì, tôi, Karl, con quạ Đức. Tôi quỳ gối và với giọng đầy nước mắt, tôi nói:
“A! Vì quốc trưởng. Sống hay là chết!”
Nói xong, a là hấp! tôi nhảy qua cửa sổ, a lê hấp! Và a lê hấp! Quốc trưởng cũng nhảy qua của sổ và sau quốc trưởng, hấp! Gœring nhảy qua cửa sổ và sau Gœring, hấp hấp! Gœbbels và von Katzen-Jammer nhảy qua cửa sổ. Tất cả đều nhợt nhạt nhưng kiên quyết! Chúng tôi đã ở ngoài đường. Bom như mưa rơi xuống, như thế này... như thế này...”
Karl Karlovitch phun ra một chuỗi... phân.
– Và lúc đó tôi làm gì, tôi, Karl, con quạ Đức? Tôi quỳ xuống, và với giọng đầy nước mắt tôi nói: “Vì quốc trưởng, sống hay là chết.”
“Nói xong, a lê hấp, hấp! hấp!” tôi chạy. Nhợt nhạt nhưng kiên quyết!
“– Hoan hô, Karl, trái tim cao cả!” Quốc trưởng nói và a lê hấp! ngài cũng chạy theo.”
“– Hoan hô Karl, lạy Chúa phù hộ anh”. Gœring nói và a lê hấp, ông ấy cũng chạy theo.
“– Hoan hô Karl, chàng dũng sĩ oai hùng” Gœbbels và von Katzen-Jammer nói, và hấp! hấp họ cũng chạy theo.
“Họ đều nhợt nhạt nhưng kiến quyết! Và để cảm ơn tôi đã cứu mạng, quốc trưởng cho tôi đi sông Volga...”
“– Đi đi! Ngài nói với tôi vẻ cảm động, đi đến đấy... anh sẽ có nhiều cái ăn!”
Một lát im lặng trên cành cây, rồi Akaki Akakivitch nheo mắt và nói:
– Anh kể hay lắm, Karl Karlvich. Và bây giờ có lẽ anh đang khát?
– Đúng thế, – Karl Karlvich bất cần nói, – một cốc vodka nhỏ thì cũng thú... Các anh làm gì thế?
Karl Karlvich kêu quạ quạ sợ hãi và tìm cách mở tung đôi cánh nhưng giờ cuối cùng đã đến với con quạ già Đức. Hai con quạ Nga quắp chặt lấy nó. Cái cổ dài ngoẵng của nó và cái mỏ - dài nhất, nhọn nhất, tham ăn nhất trên thế giới - được nhúng vào nước sông Volga. Ục! Ục! Ục! Con quạ già Đức uống mãi.. Và sức lực đã từ bỏ nó, đôi cánh của nó không đập nữa, những móng vuốt Đức của nó không tìm cách quắp nữa...
– Tội nghiệp. – Ilia Osipovitch và Akaki Akakivitch thì thầm một cách sùng đạo.
Vài phút sau, hai ông bạn già lại lượn vòng trên mặt nước. Họ quan sát lau lách, các hòn đảo, những bụi cây um tùm trên bờ và những dải cát và hình như họ không thấy gì nữa hết, họ bên hỏi Volga.
– Bà có chộp được cái gì hay không, bà mẹ của các dòng sông, – họ kêu quạ quạ với giọng khúm núm nhất.
Mọi người đều biết rằng những con quạ là những tên bợ đỡ bẩm sinh và sông Volga đã biết hai con quạ là này từ hơn một thế kỷ. Nhưng hôm nay dòng sông đang lúc vui vẻ.
– Đây này, bà đang giữ một người đến cầu hôn! – Bà gầm lên và nắm trong tay tên đại úy mà chiếc xe tăng của hắn đã bị đốt cháy trên sông Volga. – Ngài đã uống no nước của tôi chưa, thưa ngài? Hình như nước đó rất tốt cho sự tiêu hóa của bọn xâm lược...
– Quạ! Quạ! Quạ! – Ilia Osipovitch và Akaki Akakivitch cười gập người lại. – Bà mẹ của các dòng sông, bà đùa khéo thật mà cũng buồn cười thật. Ha! Ha! Quạ! Quạ!
– Để bà lộn các túi áo của mày xem có gì không, – sông Volga gầm gừ. – Có cái kính một mắt của ông già bán thịt heo Minine đây. Mày cho phép bà giữ lấy chứ? Điều đó sẽ làm cho chàng trai Stalingrad cười cợt đây.
– Ôi! Điều đó sẽ làm cho cậu ấy cười đến thỏa thích. – Hai ông bạn già kêu – Quạ! Quạ! Ôi! Điều đó cũng làm cho chúng tôi cười không nhịn được. Mà cũng buồn cười thật, quạ, quạ! Ôi bà mẹ của các dòng sông, bà đùa khéo thật đấy!
– Và cái gì đây nữa? – Sông Volga ngạc nhiên. – Một huân chương Xô viết và một tấm ảnh của một người lính Nga?
– Huân chương Xô viết sao? – Ilia Osipovitch cũng ngạc nhiên và liếc nhìn Akaki Akakivich. Một tấm ảnh của người lính Nga. Akaki Akakivich cũng ngạc nhiên và liếc nhìn Ilia Osipovitch.
– Tao nhận ra nó rồi. – Sông Volga lên tiếng. – Đây là Michka Boubien, ở Kazan. Tao nhớ rõ từ bé, nó đã ngồi trên bờ của tao và nhổ xuống dòng sông.
– Chúng tôi cũng biết, chúng tôi cũng biết! – Cả hai ông bạn già lập tức tranh nhau nói. – Cậu ta phá tổ chúng tôi và bắt chim con chúng tôi... Một cậu bé nghịch ngợm, nhưng xinh xắn và rất dễ thương!
– Nhưng tôi có thể hỏi ngài rằng tại sao huân chương và tấm ảnh này lại ở trong túi áo của ngài, thưa ngài? – Sông Volga thì thầm một cách suy tư. – A hẵng khoan, để tao đoán xem... Đây rồi, tao đã đoán ra!
– Cả chúng tôi cũng đã đoán ra! – Hai ông bạn già la lên vui vẻ, vừa nhảy cẫng lên. Sông Volga nhìn họ vẻ sốt ruột.
– Thế thì chúng mày đã thấy gì, những tên tướng cướp già?
– Vâng, – Ilia Osipovitch lúng búng, – anh đã thấy gì, anh Akaki Akakivitch?
– Thế anh, anh đã thấy gì, Ilia Osipovitch?
Họ nhìn nhau thảm hại.
– Không thấy gì cả, – họ tự thú nhận, – chúng tôi không thấy gì cả, thưa bà mẹ của các dòng sông! Xin bà mẹ mở lượng hải hà mà soi sáng cho đầu óc tăm tối của chúng tôi, những con qua già đã trụi lông.
– Tao đã đoán ra, – sông Volga nói, – và trong những điều kiện này thì: Thưa ngài, tôi rất tiếc là không thể cho phép ngài tiếp tục bám vào cành cây thêm nữa: các ngài đã làm cho tôi không còn thích đùa nữa.
– Không, không, – tên xâm lược khốn khổ la lên.
– Đừng, đừng, – hai ông bạn già kêu lên vẻ đắc thắng.
Và sông Volga đã ném kẻ cầu hôn xuống tận đáy sông và giữ y ở lại đấy thật lâu đủ thời gian cho một tên Đức uống no nước... Và lúc này thì hai ông bạn già đã bay đi nơi khác. Thận trọng họ bay về phía cái gì đó mà sông Volga đang bế trong tay rất âu yếm.
– Hử? – Ilia Osipovitch hỏi với giọng nghi ngờ.
- Hử? Hử? – Akaki Akakivitch khuyến khích và rất nhẹ nhàng họ bắt đầu hạ thấp... nhưng sông Volgas đã hét lên một tiếng làm cho hai ông bạn già bay vọt lên trời với tất cả sức lực của đôi cánh già nua.
– Ôi! Lạy Chúa! Tôi suýt chết vì sợ! – Ilia Osipovitch kêu quạ quạ. Còn Akaki Alaskivich thì lông dựng đứng cho đến tận mỏ vì sợ hãi.
– Đi chỗ khác, giống ăn bám! – Volga hét lên, sủi bọt vì giận dữ. – Chúng mày không thấy đây là một người lính Nga sao?
– Ôi Lạy Chúa! – Ilia Osipovitch van xin. – Thật là một sự sai lầm rùng rợn!
– Thật là một sự hiểu lầm bi thảm! – Akaki Akakivich bổ sung.
– Xin tha lỗi cho đôi mắt già của chúng tôi, bà mẹ của các dòng sông!
– Chúng tôi đáng tội chết!
– Chúng tôi có thể giúp gì hơn cho anh ấy được nữa không, bà mẹ của các dòng sông?
Nhưng bà mẹ của các dòng sông đã trả lời họ, với thứ tiếng Nga phong phú và lanh lảnh, bằng một lời chửi mắng hết sức thậm tệ làm cho hai ông bạn già sợ hãi nhìn nhau, rụt đầu vào lông và bay trốn về phía rừng...
– Điều đó không can gì, – Ilia Osipovitch lắp bắp, trong khi rũ bộ lông dựng đứng, – tôi không bao giờ có thể tin được là bà mẹ Volga có thể ăn nói giọng như vậy.
– Tôi có thể ngủ và quên đi, – Akaki Akakivitch thì thầm, nẫu cả ruột. – Thề với cái tổ ở đấy tôi đã ra đời! Đó là điều mà bà mẹ đã dạy chúng ta khi lảng vảng đến gần các thủy thủ và các người Cô-dắc!
– Cháu đừng lo gì cả, cháu bé Vasionok-Vasienka của bà, – sông Volga thì thầm dịu dàng, trong khi đang bế thi thể bé bỏng của cậu bé trong đôi bàn tay người mẹ. – Có những nghĩa trang buồn hơn nghĩa trang ở sông Volga. Bà sẽ đưa cháu đến một góc trời yên tĩnh ở đấy chưa ai đến, không có người, không có thú, trong đám lau sậy của một hòn đảo mà bà biết là chắn sẽ biến thành sông nước, lau lách, cát mịn và ngay cả thành hòn đảo, cháu Vasionok của bà, vì nói cho cùng, còn dễ chịu hơn là biến thành phân bón cho ruộng khoai tây hoặc hành tỏi..
Và bà hát cho cậu bé nghe những lời ru xa xưa của những bà mẹ cô-dắc:
Con xinh đẹp, ngủ đi
Ngủ đi con,
Trăng nhè nhẹ nhìn
Vào nôi con.
Khi Janek muốn quay về thì Dobranski cùng cậu chui ra khỏi hầm ăn núp. Tuyết trắng đem lại cho đêm một màu xanh bàng bạc, gió thổi nhẹ và những cây thông đầy tuyết giống như vô số những thuyền buồm đang say sưa trong giấc ngủ trên một mặt biển yên lặng.
– Anh có yêu người Nga không? – Janek hỏi.
– Tớ yêu tự do! – Dobranski đáp.