XXI
Chiều thứ sáu, Yankel Cukier lau đôi bốt, rửa râu, quấn cái khăn lụa quanh cuốn kinh và ra đi. Anh em du kích nhìn theo anh ta đi xa, và thông cảm. Chỉ một mình chị Machorka cằn nhằn:
– Người Do Thái không muốn cầu nguyện một mình. Nó sợ ở lại một minh với thánh Ala.
Yankel đi nhanh: anh ta đã đến muộn. Cứ chiều thứ sáu, anh ta đi lang thang cho đến ngoại ô Wilno, Antokol, chui vào trong đống đồ rác chỗ kho thuốc súng cũ... Kho thuốc súng này dùng làm giáo đường chứa tài sản và chỗ hội họp của những người Do Thái ẩn núp trong rừng. Quân đội Nga khi rút lui đã làm nổ tung kho thuốc súng này vào năm một ngàn chín trăm bốn mươi mốt nhưng những căn hầm dưới đất thì hầu như còn nguyên vẹn. Đi vào đấy rất khó khăn và cũng không ai đến đó cả, chỉ trừ những tín đồ Do Thái mà cuộc tàn sát còn bỏ sót. Họ không còn nhiều và khẩu hiệu của họ là thận trọng, Trước hết, Cymès, một người rất tinh ranh, lội giữa đám đổ nát quan sát các nơi – thường thì chỉ có những con dơi và những con chuột thiếu ăn – và huýt lên một tiếng chói tai; những tín đồ chui vào trong kho, từng người một, im lặng và sợ hãi... Yankel đến chậm một tí. Ở dưới hầm, Cymès đã đề một cây đàn bão, ăn cắp hôm qua ở nhà ga chính của Wilno. Đã có gần một tá người, gầy yếu và lo lắng với cử chỉ giật giật, những bàn tay dài ngoẵng. Sioma Kapelusznik, người bán mũ cát-két ở đường Niemiecka, đảm nhiệm việc hát bài thánh ca. Mũ chụp đến mắt, ông ta đấm ngực, lúc lắc, đôi môi động đậy, thỉnh thoảng giọng ông ta lên cao thành một lời than vãn, rồi lại hạ xuống, chỉ có đôi môi tiếp tục động đậy, lặng lẽ... Mắt ông không bao giờ nhìn vào sách kinh đặt trước mặt ông, đôi mắt nhìn trộm khắp nơi, đầy sợ hãi: nhìn vào mặt tín đồ, vào các góc tối, vào những bức tường đá. Một tiếng động khẽ, ông giật mình rồi lại đứng yên và lắng nghe: chỉ có đôi môi trở nên nhợt nhạt, tiếp tục thì thầm, và nắm tay, đưa lên trời một lát, rồi lại đấm vào bộ ngực lép kẹp với một cử chỉ tự động. Những người Do Thái cầu nguyện: những lời rì rầm kéo dài, đều đều và rồi, bỗng nhiên một tiếng nấc dài cất lên, một lời than vãn kéo dài, nửa như muốn ca, nửa như muốn hỏi một loạt câu hỏi thất vọng, vĩnh viễn không có câu trả lời. Những tín đồ khác lên cao giọng, làm nghe rõ những câu hỏi bi thảm này, tiếng nấc kéo dài này nói giọng hạ thấp xuống và trở thành tiếng rì rầm:
Lohou nraouno landonairio itsour echenou t Sioma nức nở. China izroel adonat. Ai, ai ở bên ngoài để gác?
– Cymès, – một tín đồ nhanh nhẹn đáp, mặt nhìn vào sách kinh, hai tay đấm ngực. – Cymès ở ngoài... Chma izroel adonar elobeinou adona echot! ...
– Boruch, chein. Kweit, malchuze, locilem, boet... – giọng Cymès cầu nguyện một cách thành kính. – Tôi vẫn ở đây. Tôi muốn cầu nguyện như mọi người!
– Arboïm chono okout bdoir vooimar! – Người thầy hát vừa cầu nguyện vừa lắc lư. – Thế thì ai ở bên ngoài để gác?
– Arboïm chono okout bdoir vocintar! Cymès cũng than vãn nhưng không đả động đến chuyện canh gác.
– Adondi echot! Người thầy hát hét lên, cầm đuôi lá cờ phướn và áp dữ dội vào ngực. Không ai ở ngoài để gác cả sao? Arboïm chono oicout... Tôi nói rằng như thế là không tốt, phải có người nào ra ngoài gác đi. Arboïm Chozo Okout...
– Nhưng ông đã hát ba lần rồi! Anh chàng Cymès trẻ tuổi trả lời thơ lỗ.
– Bdoïr vooimar! Sioma kết thúc. Tôi không còn ai nói với tội điều gì tôi cần phải làm!
– Chúng ta đến đây để cầu nguyện hay đi cãi nhau? Một người Do Thái nhỏ con, tóc hung, can thiệp có vẻ giận dữ.
– Tôi không cần ai nhắc tối tại sao chúng ta đến đây! Người thầy hát đáp giọng the thé. Chyoun ledondichir chadoch!
– Chirou ladondi.
– Oie, chirou ludona! Hát đi, hát đi bài thánh ca mới trước Ala! Kaminski, ra ngoài kia gác đi.
– Oic, chirou ladonai! Kaminski lặp lại một cách thành kính, đôi mắt lim dim như đang nhập thiền.
Đó là một người Do Thái, to lớn, râu ria, người đánh xe ngựa cho thuê ở Wilno.
— Ladonai chir chodoch! Thầy hát cầu nguyện. Kaminski, tôi nói gì? Ra ngoài kia gác đi!
— La... a... adonar chir chodoch!
— Kaminski không nghe tôi nói sao?
— Đừng quấy rầy tôi! Con người khổng lồ bất thần gầm lên, đôi mắt đỏ ngầu. Tôi sẽ bất bình khi có người quấy mình! Và khi tôi đã bất bình thì... Chirou ladonai chir chodoch!
— Boruch chein kweit malchuse loeilem boët! Người thầy hát cầu nguyện nhanh hơn. Khi tất cả chúng ta sẽ bị bọn tuần tiễu tàn sát hết, tôi sẽ cười!
— Adonai echot!
— Tôi sẽ cười, khi tất cả chúng ta bị hẹn tuần tiểu tàn sát, ôi! Tôi sẽ cười! Chua profi adonai...
— Tôi sẽ cười, sẽ cười! Khi chúng ta. Hà Kaminski nhỏ, vẻ giận dữ. Anh chỉ làm lộn xộn, Kapelusznik! Anh không thể cầu nguyện một cách yên tĩnh sao?
— Làm sao anh muốn tôi bình tĩnh cầu nguyện được khi bọn sai nhân đang rình mò quanh đây, sẵn sàng cắt cố chúng ta, còn chúng ta thì chẳng có ai gác bên ngoài cả? Lefnei adonaiki vomich, poul goozetz! Làm sao anh muốn tôi yên tâm được...
– Vonichpoït gooretz! Ở đâu cũng thấy bọn sát nhân cả!
– Kivo, kivo, adonaikivo... Hãy đứng thẳng lên trước đức thánh Ala.
– Adona kivo, chma izroël adora... Tôi nghe có tiếng gì?
– Không có tiếng gì cả đâu!
– Có. Tôi có nghe tiếng gì. Chmaïzoël adonaï elobeinox...
– Adonaï echot... Ôi!... Cái gì thế? Đừng làm cho tôi sợ lấy... Vợ tôi đang mang thai tháng thứ sáu, nếu sợ thì không tốt cho cái thai. Molchem booïem booït! Điều đó có thể khiến đẻ non.
– Điều đó có thể khiến... Kaminski nói. Tôi đến điên lên mất! Molchem booïem booït.
Sau buổi cầu nguyện, những người Do Thái lẩn vào trong đêm và tản mát ra trong rừng. Yankel đến tìm Kaminski ở cửa ra.
– Thế nào?
– Hàng ngày chiếc xe vẫn chạy trên đường dọc Wilejka. Nó tiếp tế cho các bốt đóng lẻ. Tôi đã trông thấy quân trang và vũ khí... .
– Có hộ tống không?
— Thường chỉ có ba người, thêm một lái. Một ngồi trước và hai ngồi giữa... Chúng nó không nghi ngờ gì cả.
– Vào giờ nào?
– Vào lúc bốn giờ, chiếc xe đi qua khúc quanh lớn ở Wilejka: con đường ở đó có cái dốc độ năm trăm thước. Đó là chỗ tốt nhất.
Họ chia tay nhau. Yankel lao vào trong đêm tối.