Bao Người Chờ Đợi

Lượt đọc: 174 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
XXV

❊ ❊ ❊

XXV

Qua nhiều ngày, Janek tự hỏi có nên báo tin xấu này cho ông thợ đóng giày ở Wilno không. Nhưng rồi chính Krylenko quyết định.

– Đi đi! – Krylenko nói ngắn gọn, cũng không nói rõ là đi đâu và làm gì.

Nhưng Janek đã hiểu. Cậu nhét mấy củ khoai vào túi áo và lên đường. Cậu đến Wilno trong cơn bão tuyết thật sự: những bông tuyết trắng dán vào mắt, gió làm cậu hụt hơi. Cậu đến trước cửa hàng, đẩy cửa... Ông thợ giày vẫn làm việc như thường lệ. Ông chỉ ngẩng đầu lên liếc nhanh về phía Janek.

– Sao? Chúng nó đã bắt hắn rồi à? – Ông già đột ngột hỏi với giọng ồ ồ.

– Con trai bác đã... đã chết.

– Lão thích thể hơn, – ông già nói.

Ông ngừng khâu.

Lão đã chờ đợi điều đó. Ngày nào, đêm nào lão cũng chờ đợi. Không thể có kết cục nào khác được. Cứ mỗi lần cháu đến... Không có cách nào kết thúc khác hơn. Hoàn toàn không có. Vì vậy mà chúng tôi còn ở đây để chịu đau khổ.

Ông già cúi đầu tiếp tục làm việc. Janek đợi thêm một lát, mũ cầm tay. Nhưng ông già không nói gì với cậu nữa. Ông tiếp tục khâu một chiếc giày cũ, đầu cúi xuống... Janek ra đi. Nhưng ngoài đường gió to và tuyết nhiều: cậu quyết định đợi một lát trước khi quay trở lại trong rừng. Cậu ta núp vào một cái cổng lớn, ngồi chồm hổm và bắt đầu ăn những củ khoai nguội, lấy dần từng củ một từ túi áo ra. Cậu ăn cả vỏ và tiếc là quên đêm muối theo. Đột nhiên, cậu có cảm giác là ai đang nhìn mình từ phía sau. Cậu tiếp tục ăn, không ngoảnh lại - có thể đây là một tên cảnh sát Đức. - và tìm cách không quay đầu nhưng liếc nhìn. Cậu thấy một chú bé độ mười hai tuổi, khoác bao bố. Cái bao có một lỗ để thò đầu ra và hai lỗ cho hai tay. Không có giày, chú phải quấn chân bằng tã rách, vì vậy đôi chân có vẻ dị dạng và không bằng nhau. Trên đầu, cái mũ cát-kết còn tốt nhưng quá to đối với chú. Chú đội mũ, cái lưỡi trai quay ra phía sau để che tuyết cho cái ót. Chú bé không nhìn Janek. Hình như Janek không tồn tại đối với chú. Chú chỉ nhìn những củ khoai. Chú không rời mắt khỏi những củ khoai hình như những củ khoai đã mê hoặc chú. Mỗi lần Janek lấy một củ khoai từ túi áo ra, đôi mắt chú bé lại sáng lên và theo dõi đường đi của củ khoai vào mồm Janek, và mỗi lần Janek cắn một miếng, cái nhìn của chú biểu lộ vẻ sợ hãi sâu sắc: và sự sợ hãi này đã biến thành sự thất vọng khi Janek nuốt miếng cuối cùng. Chú động đậy như bị kích thích, nuốt nước bọt và nhìn cái áo va-rơi của Janek với dò xét. Có còn củ khoai nào nữa không? Đó mới là vấn đề cần quan tâm. Janek vẻ lạnh lùng, tiếp tục ăn một cách khoái trá. Chú bé, mắt dính vào những củ khoai, vẫn còn đứng đấy. Chỉ thỉnh thoảng, chú thở dài và nuốt nước bọt rồi bỗng nhiên chú nhìn Janek, lần đầu tiên hình như chú nhận ra phương diện nhân văn của vấn đề. Chú suy nghĩ một phút rồi cởi áo bao bố, nhìn nó một cách thích thú và tuyên bố.

– Một cái bao bố tuyệt vời. Hoàn toàn mới.

Janek vẫn tiếp tục cắn khoai ăn, không quay đầu lại.

– Tớ đã cuỗm của một người qua đường. Đây mới đúng là một cái bao.

Chú nhìn Janek sục sạo trong túi áo va-rơi. Chú rình mò, sợ hãi. Có lẽ không còn củ khoai nào nữa chăng? Chú quan sát, với vẻ nhẹ nhõm, một củ khoai xuất hiện và nói nhanh:

– Tớ đổi cho cậu mười hai củ khoai. Không hơn không kém.

Janek không trả lời.

– Thôi thì sáu vậy! – Chú bé đề nghị đã có vẻ lo sợ và thấy đề nghị của mình không có kết quả gì, đôi môi chú run rẩy và bộ mặt bắt đầu nhận nhăn nhó. Chú sắp khóc.

– Thôi đừng nhè nữa! – Janek nói. – Không bao giờ nên khóc, trước kia thì được. Còn bây giờ thì không.

Cậu ném cho chú một củ khoai và chú ăn ngấu nghiến ngay lập tức. Cậu ném thêm một củ khác.

– Đáng lẽ chú nên rút dao ra nhảy xổ vào, – Janek nói. – Bây giờ chính là phải làm như vậy. Và chú có thể có được tất cả khoai của tớ.

– Em không có dao, – chú bé nói.

– Dù có, thì cậu không thể thắng được tớ, – Janek nói với vẻ khinh bỉ. – Tớ đã biết ngay từ dầu là có cậu ở đấy. Tớ biết có người ngay. Điều đó tớ học được ở trong rừng...

Chú bé ăn khoai. Chú mút, liếm láp, gặm nhấm trước khi ăn. Chú cố kéo dài được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Chú lấy tay bóc vỏ khoai và khi đã bóc sạch thì ăn vỏ trước.

– Anh ở trong rừng à?

Janek không nói gì. Chú bé kiếm cách gì để gây ấn tượng với cậu. Chú nói, lấy chân dí dí xuống vệ đường.

– Bố em là thầy giáo.

– Bố tớ là bác sĩ, – Janek nói.

– Bố em đã giết một tên Đức, – chú bé nói.

Và tiếp theo, chú nói một cách kiêu hãnh:

– Nhưng ông đã bị chúng treo cổ!

Chú chờ đợi một cách tin tưởng hiệu quả của những lời tuyên bố trên.

Bịa! – Janek bình tĩnh đáp. – Điều đó chỉ để xin cái bà già đi lễ nhà thờ ra... Còn không ăn thua gì với tớ đâu!

Chú bé thề trịnh trọng...

Jak Boga Kochan. Bố em bị treo cổ. Chúng nó treo ông trước nhà hát lớn và cứ để như thế hai ngày. Nhiều người biết chuyện đó, họ có thể nói cho anh nghe. Em đã đưa bà con đến xem. Mẹ em đã phát điên và chúng đã nhốt mẹ em lại. Bố anh không bị treo cổ phải không?

Chú nhanh chóng yêu cầu thêm, tìm cách lợi dụng điều mà chú tưởng đó là một thành công quyết định.

– Cho em thêm một củ nữa.

– Bố tớ, – Janek nói với giọng kênh kiệu, – đã giết hàng trăm tên Đức. Ông không ngốc như bố cậu đề đến nỗi bị bắt đâu...

Cậu nhún vai.

– Nếu cứ phải bị treo cổ mỗi lần giết một tên Đức thì...

Chú bé nhìn cậu với vẻ kính trọng.

– Bố anh bây giờ ở đâu?

– Ông đang đánh nhau với bọn Đức.

– Ở đâu?

– Ở Stalingrad.

– Đúng không?

– Đúng.

– Ông là sĩ quan à?

– Tướng.

Cậu cũng cảm thấy xấu hổ vì đã nói dối. Bố bây giờ ở đâu? Tại sao cậu có thể nói dối dễ dàng như vậy? Hơi bối rối, cậu lấy những củ khoai cuối cùng và ném cho chú bé. Chú bắt lấy và cho vào túi.

– Để dành cho vợ em, – chú tuyên bố.

– Cậu mà cũng có vợ à?

– Có, cô ấy làm việc cho em. Cô ấy có nhiều người: Maniek Zagorski, Joziek Meka và tất nhiên là cả Zbych Kurzawa.. Nhưng cô ấy thích em hơn cả.

Chú nói với vẻ quan trọng.

– Đó là một cô bé tốt bụng. Bọn lính Đức cho cô ta cả đồ hộp. Cô ấy đem tất cả về nhà. Đôi khi chúng cho cả tiền: cô ấy cũng đem về.

Chú khạc nhổ.

– Sống không đến nỗi khổ lắm, không ai than phiền. Nhưng thiếu nhất là thuốc lá.

– Các cậu có đông không?

– Ồ! Có nhiều băng. Em đi với băng Zbych Kurzawa. Đó là một anh chàng tuyệt diệu! Mọi người đều vâng lời anh ta và anh ta có quyền đổi với tất cả các cô gái. Lại còn tháo vát nữa: hôm qua anh ta đã mang về ba bao thực phẩm. Anh ấy đã tấn công ba người phụ nữ trong có nửa tiếng và chỉ một mình thôi. Anh ta cũng lớn gần bằng anh. Và anh ta thích đùa bỡn, thích phè phỡn. Một lần, anh ta tìm đâu ra được một chú bé Do Thái miệng còn hôi sữa, biết chơi vĩ cầm. Cha mẹ chú ta đã bị bắn chết hoặc bị đày, hoặc bị điều gì giống như vậy. Zbych đã đem chú bé ấy về ở chỗ chúng tôi và khi nào mọi người thích thì bảo cậu ấy chơi vĩ cầm cho mọi người khiêu vũ. Em thì em không thích cái cậu bé thò lò mũi xanh ấy...

Nó lại khạc nhổ.

– Em không thích dân Do Thái. Nhưng người ta giữ cậu bé ấy lại để chơi vĩ cầm khi đi ăn xin. Hơn nữa, nó lại buồn cười. Một hôm Zbych nỗi cáu vì sàn nhà bẩn, và rồi anh biết anh ấy làm gì không?

– Không.

– Anh ấy túm cổ chú bé Do Thái, bắt chú phải liếm sàn nhà từ đầu tường này đến đầu tường kia. Chỉ có Zbych mới nghĩ ra cách đó.

– Ừ! – Janek nói, – chỉ có Zbych.

– Nó tên là Moniek, nhưng mọi người gọi nó là thằng Do Thái. “Ê! Thằng Do Thái, đi lấy củi. Kéo đàn đi! Nhảy, hát, bò bến chân đi!”. Người ta bảo gì nó làm nấy. Thật buồn cười.

– Ừ buồn cười thật đấy! – Janek rít lên giữa hai hàm răng. – Có thể gặp nó không?

– Có thể, – chú bé nói, – nếu anh còn mà ít khoai...

– Hiện nay thì không còn. Nhưng lần sau tớ có thể mang đến cho các cậu một bao.

Chú bé há hốc mồm. Cổ nghẹn lại. Nó lắp bắp:

– Một bao.

– Có thể, nếu chúng ta thỏa thuận.

– Đi, – chú bé nói.

Họ lên đường.

– Mọi người gọi em là Pestka, thế còn anh.

— Jan Twardowski.

Họ xuống Pohulanka, đi đến Zawalna, rồi rẽ trái.

– Chỗ kia, – Pestka nói.

Nhà này trước kia có thể là một cái xưởng. Nhưng tường thì đã đen và có chỗ sụp đổ: chỉ có cái ống khói là đúng vững ở giữa sân, không hề bị đụng chạm đến.

– Không ai dám vào đó, – Pestka nói, – vì rất nguy hiểm. Tường có thể sụp. Nhưng chúng em thì phớt hết.

Chú chỉ đường cho Janek. Họ đi xuống theo một bậc thang đã mục nát và đầy đồ phế thải cho đến căn hầm. Trong hầm tối, người đi vấp phải những viên đá đổ, trong hầm xông lên mùi hôi thối, mùi phân dơi. Họ nghe tiếng đàn vĩ cầm và một giọng run rẩy đang hát với âm Do Thái rõ rệt:

Siedzialana debie

I dlubala w zebie

A ludziska glupin

Mysleli ze w dupie[1]

Tiếng vĩ cầm im bặt và người ta nghe tiếng yêu cầu:

– Hát nữa, hát nữa!

– Hát lại đi!

Nhiều giọng con gái the thé hét lên.

Tiếng đàn vang lên và một giọng trẻ con hát:

Tytyna bila Chara

I poszla do doktora

A doktor jep powiedzial

Ze na ny chlopice siedzial!

– Zbych đang vui vẻ, – Pestka nói giọng sợ sệt.

Một nửa căn hầm bị đá che lấp, tầng nhà chỗ này bị sụp. Phía nửa kia, có một đống lửa và một bầy con trai, con gái choai choai, ngồi lên trên những hòn, những bao, những vạt giường mọt. Tên cầm đầu không hơn mười lăm tuổi.

– Zbych Kurzawa, – Pestka nói với giọng hết sức kính cẩn.

Một khuôn mặt ho lao, dưới bộ tóc nâu, hai lỗ mũi to tướng hình như không bao giờ đủ không khí. Bộ ngực lép kẹp và đôi vai hẹp. Miệng mím chặt và đôi mắt nhíu lại vẻ dữ tợn.

– Nữa, oắt con, hát nữa!

Một đứa bẻ độ mười hai tuổi đứng ở giữa nhóm. Nó rất xấu xí: tóc hung, xoăn, miệng và mũi dày, đôi mắt không lông mi, còn lông mày thì đỏ. Nó đang kéo vĩ cầm. Miệng nó run run và bắt đầu hát theo vĩ cầm:

Lezala pod Kaktusem

Jebala sie Zhindusem

– Mày biết làm gì, oắt con? – Một đứa con gái la lên.

– Tôi hát, tôi chơi đàn, tôi nhảy múa và làm trò hề. – Đứa bé nhanh nhẩu trả lời.

Nó tiếp tục hát:

Lezala pod Cyprysem

Jehala sie Z tygrysem

Pestka bước lên và kéo theo Janek. Zbych Kurzawa nhìn Janek với vẻ lo ngại:người ta thấy rõ ràng là nó ghét Janek và sợ nhưng cậu mạnh hơn nó.

Pestka ghé lại nó nói thầm.

– Cậu muốn đổi khoai lấy cái gì? – Zbych hỏi.

– Chốc nữa sẽ nói.

– Tớ cóc cần, – Zbych nói. – Tớ có đủ để tọng vào mồm. Chỉ cần cho những đứa khác.

Nó quay về phía chú bé Do Thái:

– Câm cái mõm mày lại và đi đun nước.

Chú bé lập tức khuất ngay sau đống đá.

– Tớ có thể nói chuyện với chú ấy không? – Janek hỏi. Zbych Kurzawa nhìn cậu chằm chằm.

– Chính vì vậy mà cậu đến đây à? Phải không?

– Đúng.

– Thế thì đi mà nói chuyện với nó. Cũng không được mất cái gì cả!

Janek tìm thấy chú bé đang cúi xuống trên bếp lửa. Nó đang đun nước và khóc, lặng lẽ.

– Cậu tên gì?

Chú bé giật nảy mình, quay bộ mặt khiếp sợ phía Janek.

– Wunderkind, Wunderkind, – nó đáp nhanh như một cái máy tự động. – Tôi hát, tôi chơi đàn, tôi nhảy múa và làm hề! Anh đừng đánh tôi!

– Tớ không đánh cậu đâu! Không ai đánh cậu nữa đâu, nếu cậu biết chơi vĩ cầm...

Chú bé Do Thái liếc nhìn cậu với cặp mắt nghi ngờ. Cây đàn vĩ cầm của chú dựa vào một bức tường. Janek đưa tay ra...

– Đừng đụng vào đàn! – Chú bé hét lên. – Zbych Kurzawa sẽ đấm anh vỡ mõm nếu anh đụng vào đàn.

– Tớ không có ý sờ vào đàn. Mà tớ cũng không sợ Zbych Kurzawa.

– Không đúng. Mọi người đều sợ anh ta cả.

– Cậu biết chơi vĩ cầm à? Biết hay không?

Chú bé nhìn cậu chăm chăm.

– Anh thích âm nhạc à?

– Rất thích.

– Như thế thì anh sẽ không đánh em. Người ta không thể yêu âm nhạc mà lại đánh em... Nhưng anh đừng nói với ai cả chứ?

– Không.

– Thế thì anh nghe đây.

Chú cầm lấy đàn... Đứng giữa căn hầm hôi hám, với bộ áo quần bẩn thỉu, chú bé Do Thái có cha mẹ bị giết trong một ấp chiến lược, đã phục thù cho thế giới và con người, đã phục thù Thánh Ala. Chú kéo đàn. Con người chú không xấu xí nữa, thân thể vụng về của chú không lố bịch nữa và trong bàn tay bé nhỏ của chú, cái cung kéo đàn đã trở thành một chiếc đũa thần. Đầu hất phía sau với vẻ của những người chiến thắng, đôi môi hé mở trong nụ cười vinh quang, chú kéo đàn... Thế giới đã ra khỏi cơn hỗn loạn và đã bắt đầu có một hình thù hài hòa và thanh cao. Lúc đầu, hận thù không còn nữa và đến những hòa âm đầu tiên thì đói rét, sự khinh bỉ và sự xấu xa đã phải trốn chạy giống như đám giòi bọ ban đêm đã bị ánh sáng ban ngày làm mù mắt và giết chết. Trong tất cả những trái tim đều chảy lên ngọn lửa của tình yêu. Tất cả các cánh tay cứu đưa ra, tất cả những bộ ngực anh em... Thỉnh thoảng, chú bé dừng lại và liếc nhìn Janek với vẻ đắc thắng.

– Chơi nữa đi, – Janek thì thầm.

Chú bé tiếp tục chơi.. Và bất thần, Janek thấy lo sợ, cậu sợ chết. Một viên đạn Đức, đói, rét và cậu sẽ mất đi trước khi tâm hồn mình uống cạn sự kỳ diệu của con người, đã sáng tạo ra trong cơn dịch hạch và hận thù, trong sự chà xát và khinh bỉ, trong mồ hôi trên trán và nước mắt lẫn máu, trong sự đau khổ vô cùng của thể xác và tinh tuần, trong sự giận dữ và sự lãnh đạm của trời đất, trong sự lao động không gì sánh được của những con Kiến – Người, đã biết, chỉ trong vài năm sống khổ cực, tạo ra sự đẹp đẽ cho hàng ngàn năm.

– Nhưng chúng nó đánh em, – chú bé đột nhiên nói, với giọng chua chát. – Và chúng bắt em liếm sàn nhà...

– Em tên gì? – Janek thì thầm.

– Moniek Stern, – chú bé đáp. – Bố em bảo em sẽ trở thành một nhạc sĩ tài năng... như Yacha Heifetz hoặc Yehudi Menuhin. Nhưng bố em đã chết và chúng nó đánh em.

– Em có muốn đến với các anh không?

– Đến đâu?

– Ở trong rừng. Đến với những người du kích.

– Em sẽ đi bất kỳ đầu, miễn là khỏi chỗ này. Nhưng chúng nó sẽ không cho em đi. Em là người Do Thái của chúng, là kẻ chịu khổ chịu nạn của chúng. Không có em, chúng nó sẽ giết nhau.

– Để xem xem, – Janek nói, giữa hai hàm răng.

– Sao? Đàm phán xong chưa? – Có tiếng kêu. – Oắt con! Lấy đôi bốt cho tao.

Chính là Zbych Kurzawa. Nó nhìn Janek với đôi mắt nhăn lại.

– Âm mưu gì đây?

– Tớ có một bao khoai, – Janek nói.

– Phải hai bao, – Zbych nói. – Tớ đã thấy cậu thích nó đàn như thế nào rồi.

– Một bao thôi hoặc không gì cả.

Hai đứa nhìn nhau... Cuộc trao đổi sẽ tiến hành vào ngày mai đằng sau đám đất thể thao Antokol. Zbych Kurzawa đến vào giờ đã định Pestka đi theo. Sau nữa, một khoảng cách khá xa, là chú bé nhạc sĩ đang bước khập khiễng.

– Đến đây, oắt con! – Zbycht la lên.

Chú bé chạy đến.

– Đấy nó đấy, lành mạnh và hoàn hảo, với cây vĩ cầm! Pestka, mày lấy bao khoai và mang đi.

Pestka lật mũ cát-két, gãi tai.

– Mang suốt đường ư?

– Tất.. tất nhiên! – Zbych huýt sáo. – Và nhanh hơn nữa kia!

Pestka thở dài, nhổ nước bọt vào tay và vác bao khoai lên lưng..

– Em có thích rừng không? – Janek hỏi, vừa bước đi trong tuyết giữa những hàng thông.

– Em không biết, – Moniek nói, vẻ sợ sệt.

Nó sợ làm phật ý người khác.

– Đừng sợ. Bây giờ không ai đánh em nữa đâu. Em có thể nói ra điều gì em suy nghĩ.

– Em không biết thật. Em chưa bao giờ ở nhà quê.

Nhưng Moniek không thích rừng. Chú sớm nhận ra rằng thiên nhiên cũng độc ác như con người. Đã từ lâu lắm rồi, giòng giống của chú ta đoạn tuyệt với đất đai và sự tiếp xúc với rừng băng giá rõ ràng hết sức ác nghiệt. Ngay đêm đầu tiên, chú bé đã trở thành một khối thịt khổ sở và run rẩy, chỉ sống để mà khóc. Moniek nhìn một cách ghê sợ những ngón tay tê cóng, những ngón tay không vâng lời nữa. Chú hơ hai bàn tay, càng gần lửa càng tốt, nhưng không phải bao giờ cũng có lửa.

– Em sắp mất mấy ngón tay! – Chú thường than thở. Và rồi nó cầm lấy đàn, bắt đầu chơi đề thức tỉnh những ngón tay. Chú chơi hàng giờ, đứng trong tuyết, dưới trời sao. Khi mọi người ngủ, chú đi xa ra và người ta nghe tiếng đàn vĩ cầm từ xa vọng lại, bi thảm và rên rỉ rất lâu trong rừng thông. Janek nghe đàn không biết chán. Cậu để mặc chú bé kiệt sức trong tuyết, không thương tiếc và tham lam, giống như một tên trộm hối hả nhét đầy túi trước khi quá trễ... Thường thường cậu ta mang đến cho chú bé tro nóng hoặc củi lửa, nhưng đó không phải là tình thương mà là do cậu sợ ngày mai chú bé không chơi đàn được nữa. Du kích đón tiếp Moniek không mấy nhiệt tình. Krylenko lấy mắt đánh giá chú bé Do Thái, rồi quay về phía Yankel, ông khen lấy lệ:

– Xin chúc mừng!

Sau đấy, ông làm như Moniek không bao giờ tồn tại; ông chỉ chú ý là không gây khó khăn cho chú bé. Khi chú bé chơi đàn, Krylenko làm ra vẻ không chú ý và cho tay vào ngoáy mũi. Nhưng một đêm, Janek bắt gặp ông ta đứng sau một gốc cây, miệng há hốc lắng nghe chú bé Do Thái chơi nhạc của Mozart. Khi thấy mình bị phát hiện, ông chống chế:

– Tớ chỉ dậy để đi tiểu.

– Thì tôi có nói gì đâu.

Còn Yankel Cukier lại khác, anh ta thẩm vấn Moniek cặn kẽ. Chú tên gì? Bố chú làm nghề gì? Tên lúc còn con gái của mẹ chú là gì? Ông nội chú làm gì? Chú có quan hệ gì với thú y-sĩ Stern ở Swieciany? Không ư? Chú không có quan hệ gì với thú y-sĩ Stern ở Swieciany à? Thế thì chú có bà con với người bán sách Stern ở Molodeczno, hoặc với người thuộc da Stern ở Wilno có cửa hàng ở Niemiecka, ở giữa cửa hàng của Sioma Kapelusznik và cửa hàng của Yakow Zylbertkweit? Cũng không à? Chú không bà con với những ống Stern ấy à? Thế thì... lạ thật, rất lạ. Thế chú bà con với những ông Stern nào? Còn Stern ở Kovno? Lại càng lạ lùng hơn nữa Yankel tự mình đã nhiều lần đến Kovno, trước chiến tranh nhưng ở đây không biết một Stern nào cả. Trái lại anh có biết một Cyferblat, Yacha Cyferblat, dược sĩ. Moniek có biết dược sĩ Yacha Cyferblat ở Kovono không? Cũng không hoàn toàn không... Thế thì tại sao bọn Đức lại giết bố mẹ chú? Chẳng có lý do nào cả chăng? Cũng có thể đúng, như vậy? Hiện nay nhiều người bị giết không vì lý do nào cả. Nhưng dù sao thì cũng phải có một lý do chứ?... Làm sao mà biết được.

– Hãy để cho nó yên, – Machorka nổi cáu nói. Machorka đến gần Moniek và hỏi:

– Chú có tin ở thần thánh không?

Moniek không nói gì cả và cầm lấy đàn. Chú chơi khá lâu, mắt nhắm và khi chú ngừng chơi, Machorka nói:

– Em là chú bé ngoan.

Nhưng Moniek không còn ở lâu trong rừng. Mặc cho chú đã quấn tay bằng giẻ rách, hơ tay vào lửa nhưng những ngón tay chết nhanh chóng. Tiếng đàn vĩ cầm không trong nữa và thường thường, hàa âm kết thúc trong một tạp âm hỗn độn. Chú bé khóc, cây đàn gác trên đầu gối và vẻ mặt biến dạng vì sầu muộn, càng trở nên xấu xí hơn.

– Em đã mất mấy ngón tay, – chú nức nở, – em mất mấy ngón tay.

Đêm Noel, trời lạnh. Chú nằm ngủ rất lâu trong hầm du kích, co quắp như một sinh vật nhỏ bé run rẩy và khổ sở. Chú nằm mơ và lắp bắp bằng tiếng Do Thái những từ xa lạ mà chỉ một mình Yankel kiểu và anh ta dịch lại cho Janek hiểu:

Chú bé gọi bố mẹ.

Hoặc là:

– Chú đang cầu kinh.

Một hôm, trong khi những người du kích ngủ đã lâu, chú bé thức giấc. Chú lắp bắp mấy tiếng và Cukier vùng dậy.

– Chú muốn cây đàn.

Chú bé cầm lấy cây vĩ cầm. Chú giơ cung kéo đàn lên nhưng chú không còn sức nữa. Chú liền ôm lấy cây đàn, áp chặt đàn vào ngực, vào má. Đôi môi chú đụng vào những dây đàn lặng lẽ. Chú đã chết như vậy, cây vĩ cầm ôm chặt trong tay.

❀ ❀ ❀

[1] Bài hát rong ở Ba Lan: không có nghĩa gì hơn là rất thô tục.

Đỗ Tử Trình Dịch từ nguyên bản tiếng Pháp “Éducation européenne” do Nhà xuất bản Penguin (London) xuất bản năm 1946 Bản sách điện tử đã được Bookaholic chuyển các tên riêng của bản dịch từ NXB Thuận Hóa năm 1988 sang tên riêng như trong bản gốc tiếng Pháp.
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 3 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.