Bao Người Chờ Đợi

Lượt đọc: 174 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
XV

❊ ❊ ❊

XV

Họ tụ tập lại trong hầm trú ẩn của sinh viên. Trên bếp lửa, ấm nước đã bắt đầu reo vui: Pech tự nguyện nấu trà cho họ. Anh ta đang sửa soạn, với những động tác của nhà ảo thuật, theo một công thức lạ lùng mà theo anh ta nói thì anh ta học được của một con dê già giàu kinh nghiệm sống trong rừng. Hơn nữa Pech rất vui lòng truyền bá công thức đó. “Hãy lấy một củ cà rốt, phơi khô, cạo sạch rồi nhúng vào nước sôi độ ba bốn phút...”. “Và thế là được phải không?”. Pech trả lời chân thật: “Không. Nhưng mà nóng. Và nước lại có màu trà!”. Dobranski đã hứa là sẽ đọc cho họ nghe một đoạn sách của mình. Janek sốt ruột chờ đợi, cái cà-men nóng bỏng đặt trên đầu gối. Anh em sinh viên đã đồng ý để cho Janek mời cả Czerw đến dự. Và giờ đây Czerw khiêm tốn ngồi vào trong một góc, co chân lại đặt cằm lên đầu gối. Lưng dựa vào bờ tường đất. Để nghe rõ hơn, anh ta đã cất cái khăn san: lần đầu tiên Janek thấy anh ta để đầu trần. Tóc anh ta đen, rất xoăn và bóng, tóc làm cho bộ mặt anh ta có vẻ man dại. Anh ta không nói gì, chỉ uống trà, trịnh trọng nheo mắt và tỏ ra bằng lòng là đã đến đây. Tadek Chmura thì nằm dài trên đống chăn. Anh ta có đôi má hõm, hơi thở khò khè, những giọt mồ hôi lấm tấm hai bên thái dương. Anh ho rất nhiều: tiếng ho nhỏ, nhẹ, khan... Cứ mỗi lần như vậy thì anh lại lấy tay che mồm, có vẻ xin lỗi. Dobranski thường nhìn anh với vẻ lo lắng.

– Đọc đi! – Tadek nói.

Dobranski cho tay vào áo va-rơi và lôi ra một cuốn vở dày.

– Nếu các cậu thấy chán thì các cậu bảo tớ dừng lại.

Mọi người phản đối. Nhưng Pech hỏi giọng thô lỗ:

– Ông bạn có thể tin ở tớ.

– Xin cảm ơn. Đoạn tôi sắp đọc cho các nghe xảy ra ở Pháp. Đoạn này gọi là “Bọn tư sản Paris”.

– Bọn tư sản, – Pech nhận xét, – thì ở đâu cũng thế cả, ở Paris cũng như ở Berlin, cũng như Warsaw. – Anh ta tuyên bố như vậy và lấy tay bịt mũi.

– Chúng nó đều một mùi cả. Giống tất cả các nước trên thế giới.

– Câm cái mồm đi, Pech. – Mọi người vui vẻ yêu cầu.

– Tớ bắt đầu đây, – Dobranski nói

Anh ta bắt đầu đọc:

Ông Karl, bước vào nhà và chùi chân cẩn thận, với mọi ý nghĩ thành kính đối với bà gác cổng, bà Laitue. “Những sự quan tâm nho nhỏ sẽ đem lại những người bạn lớn...”. Vẻ mặt chân thành, ông ta gõ cửa và vừa bước vào vừa nói: “Xin chào các ông các bà” giọng rất tây.

– À ông Karl! – Bà Laitue kêu lên. – Cuối cùng thì ông đã đến. Ông có thể làm phiên dịch cho tôi hiểu các ngài đây muốn nói gì?

Ông Karl trịnh trọng đặt đôi mục kỉnh và quay nhìn hai chàng trai trẻ khoác áo mưa, đứng ở giữa nhà, vẻ lầm lì: “Những đồng nghiệp!” Ông ta nhận ra ngay. Và một cái liếc mắt khác cũng đủ để ông xác minh rằng hai người khách đến thăm kia còn thua xa ông trong bậc thang Gestapo.

– Thưa ngài!

Tiếng dập gót chân. Có sự trao đổi lịch sự bằng giọng cổ ngắn gọn. “Lạy Chúa người Pháp. Hãy làm cho điều đó thành công!” Bà Laitue suy nghĩ. “Hãy làm cho mọi việc êm đẹp”. Trái tim của bà ta chạy vòng vèo trong ngực, cũng giống như cách đây hai năm, khi bà nhận được tin đầu tiên về chồng bà. “Anh bị bắt làm tù binh. Anh nghĩ đến em. Đừng thất vọng”.

Lại có tiếng dập gót chân mới.

– Xin cứ tự nhiên! – Ông Karl mỉm cười.

Ông quay về phía bà Laitue, lên giọng người cha.

– Chỉ là một hình thức thôi, bà bạn thân ạ! Các ngài đây tuởng rằng có một tên địch nhảy dù đang trốn trong nhà.

Ông ta cầm lấy chiếc chìa khóa để trên bảng.

Ông ta nói, giọng khô khan. Tôi biết tất cả điều gì xảy ra trong nhà này. Xin cứ tự nhiên... Các anh làm nhiệm vụ của mình đi.

Ông ta đáp lại cái chào của họ và đi ra. Ông Karl đã được nhà đương sự Đức giao cho việc giữ gìn sự “yên tĩnh” ở trong khu vực này. Đó là một vị trí được tín nhiệm. Phương pháp của ông ta rất đơn gian. Vuốt ve, lịch thiệp, khôn khéo. Biết tất cả nhưng không hỏi điều gì. Tỏ ra là bạn thân, là đồng minh trung thành. Ông ta còn cố ý cho thêu dệt vài câu chuyện nhỏ về mình. Nào là có một lần ông ta đã che giấu trong nhà ông một người sinh viên trẻ tuổi bị kết án là đã rải truyền đơn. Nào là một lần khác ông đã làm cho sĩ quan Đức phải bị phạt nặng vì tỏ ra quá mẫn cán. Những người tư sản Paris đều ngây thơ. Họ không có khái niệm gì về hoạt động bí mật, và làm cho họ tin chỉ là một trò trẻ con.

– Thưa ông Karl.

Bà Laitue leo thang gác bốn bậc một, mặc dù tim bà đã đập loạn xạ.

– Tôi hoàn toàn quên mất... về chỗ nước chảy trong phòng tắm của ngài... Tôi sẽ cho một người thợ hàn đến, hiện anh ta đang bận việc.

– Tôi vô cùng biết ơn bà! – Ông Karl nói và giở mũ lên.

Nhưng bà Laitue đã chạy lên gác thượng. “Chỉ mong sao cho mọi sự êm đẹp...”.

Bà ta va phải một bóng người mảnh khảnh, người đó lúng túng xin lỗi.

– Tôi đến để vĩnh biệt bà, – ông Lévy thì thầm.

Ông ấy muốn gì ở mình? Bà Laitue cố sức suy nghĩ. À! Mà ông ta đi đây. Chiều qua, ông Karl đã ra lệnh cho ông ta phải ra khỏi nhà này trong vòng hai mươi bốn tiếng... Cũng phải nói với ông ta điều gì dễ chịu... Ông già đáng thương! Nhưng không phải bây giờ, không phải bây giờ.... Bà ta đẩy cửa phòng và nụ cười trên môi, tiến về phía hai người trai trẻ lầm lì. Ông Karl gặp Grillet ở cầu thang. Grillet luôn luôn quanh quẩn đâu đó quanh ông Karl, đong đưa hai cánh tay của một võ sĩ quyền Anh, giống như một con vật trung thành và ông Karl hết sức tự hào về tên đầy tớ câm đi bảo vệ này. Thường thường ông ta cho nó tiền, trà lá và thuốc hút. “Những sự quan tâm nho nhỏ sẽ đem lại những bạn lớn”. Grillet làm mọi việc trong nhà. Nó nhìn ông Karl với đôi mắt của một con chó trung thành. Ông Karl vỗ vai nó thân mật và tiếp tục đi lên cầu thang, vừa đi vừa huýt bài “Horst Wessel Lied”. Trong khắp cả khu thì ông ta thích nhà này hơn cả. Không bao giờ có chuyện phiền nhiễu, không bao giờ có chuyện rắc rối. Quan hệ với những người thuê nhà khác rất dễ chịu và thân thiện. Một sự tôn trọng lẫn nhau, một sự hiểu biết lẫn nhau. Lễ phép, thật thà hoàn toàn. Giúp đỡ lẫn nhau. Lịch sự. Nói tóm lại đó là sự hợp tác! Còn trong các chung cư khác thì phải dọa nạt, bỏ tù và đôi khi phải bắn bỏ. Đã có những chuyện rải truyền đơn, báo chí bí mật, cho mật vụ của Anh trốn tránh. Có cả những âm mưu ám sát. Nhưng cái nhà này là một cái nhà rất ngoan, biết vâng lời, một cái nhà của đứa con dễ dạy. Tất nhiên cũng có một hai trường hợp ngoại lệ. Có ông già Honoré, bảy mươi hai tuổi không bao giờ đáp lại lời chào của ông Karl. Không bao giờ nói chuyện với ông và hình như cũng không cảm thấy có sự tồn tại của ông ở đây. Còn có ông Brugnon, người bán pho mát. Mỗi lần gặp ông Karl, ông ta thô lỗ vỗ vào bụng ông Karl và hét lên giữa hai trận cười điều loạn: “Stalingrad, Stalingrad, cánh đồng quạnh hiu... ha! ha! ha!”. Ông Karl nghe tiếng chân bước và ông ngừng đầu lên: Ông Honoré đang đi từ trên cầu thang xuống. Ông ta đi thẳng người, hơi cứng, cái gậy cặp dưới nách. Ông ta không nhìn ông Karl mà nhìn qua ông này. “Cũng như thường lệ ư”. Và mỗi lần như vậy ông Karl cảm thấy bị nhục mạ; ông muốn người ta ghét ông nhưng không muốn người ta không biết đến ông. Ông có cảm tưởng không tồn tại ở trên đời này khi cái người Pháp dở hơi này đi qua. Và muốn để chứng tỏ sự tồn tại của mình ông đi nhanh nhẹn cất mũ và chào. Tất nhiên ông Honoré không đáp. Cái nhìn của ông này tiếp tục xuyên qua khuôn mặt của ông Karl hình như đây chỉ là một tấm kính hơi bẩn.

– Này, – ông Karl bất thần lên tiếng, với giọng vui vẻ. – Ông bạn hãy giải thích cho tôi một lần xem sao. Tôi đến đây với tư cách là bạn bè, là đồng minh chứ không phải là kẻ chiến thắng...

Ông Honoré đứng lại. Ông quay lại phía ông Karl. Ông nhìn Karl, phải, ông nhìn ông Karl. Ông Karl có cảm giác không những được nhìn mà còn được trông thấy.

– Nước Nga muôn năm, thưa ngài! – Ông Honoré la lên. – Nước Nga muôn năm!

Ông chờ một lát, mắt vẫn nhìn về phía ông Karl, kẹp chặt thêm cái gậy dưới nách và tiếp tục bước xuống... Ở tầng dưới, Bà Laitue có hai người trai trẻ đi kèm, được bà de Melville đón tiếp. Bà de Melville là một bà rất già, tóc bạc trắng, bà đón họ trong phòng khách và lập tức bắt đầu nói:

– Có ai ở đây với tôi à? Không, tôi chỉ có một mình, chồng tôi đã bị giết trong cuộc chiến tranh và con trai tôi hiện nay đang ở Anh. Vâng, thưa các ngài, nó không ở đây, nó đang ở Anh. Ở Anh. Các ông biết nước đó chứ? Chính từ đó mà máy bay cất cánh để đi ném bom Berlin. Con trai tôi đang ở trong không quân. Nó chiến đấu chống các ông. Các ông không hiểu tiếng Pháp à? Tiếc quá. Con trai tôi... máy bay... Bom... Berlin... Các ông hiểu không?

Bà de Melville nói chầm chậm, vừa nói vừa cười. Bà không nổi nóng. Bà chỉ tìm cách tranh thủ thời gian. “Miễn là Grillet làm nhanh lên! Miễn là anh ta kịp mang cái giỏ đi nơi khác”. Hai người trai trẻ chăm chăm nhìn bà de Melville.

– Chính tôi đã giúp cho con tôi đi. Tôi ở lại một mình cũng không sao. Tôi sung sướng. Tôi sung sướng khi biết rằng con trai tôi đang chiến đấu chống các ông. Nó đem lại đau khổ cho các ông. Và đau khổ sẽ dạy cho các ông nhân đạo hơn...

Hai người trai trẻ trao đổi với nhau bằng giọng ồ ồ và bắt đầu lục soát căn nhà. Có tiếng gõ cửa và bà Laitue ra mở. Chỉ là ông Lévy, mũ cầm tay.

– Tôi đến đề vĩnh biệt bà de Melville thôi, – ông ta lúng túng nói.

Bà de Melville đi theo hai người trai trẻ từ phòng này sang phòng khác. Phải cầm chân chúng. Phải tranh thủ thời gian. Phải làm sao cho Grillet có đủ thời giờ mang cái giỏ ra khỏi nhà.

– Hãy lục soát đi! Nhìn vào chỗ này này! Hãy dẫm đạp đi! Các ông có thể đốt, cướp và giết nếu các ông thích. Đối với tôi thì đằng nào cũng thế. Các ông không thể ngăn người Anh không ném bom các thành phố của các ông được, ném hết đường phố này đến đường phố khác. Cologne, Hambourg, Berlin... các ông hiểu không? Người Anh sẽ mở mắt các ông ra. Các ông sẽ hiểu chúng tôi cảm nghĩ gì trước sự đổ hát của những thành phố của chúng tôi, trước những nấm mồ của con cái chúng tôi. Rồi, các ông sẽ bắt đầu hiểu... Cái ngày đó đã đến gần và các ông sẽ nói: “Không còn gì nữa!”. Nhưng lúc bấy giờ thì đã quá chậm.

– Bà già này điên rồi! – Cuối cùng người trẻ nhất nói và nhún vai.

Dobranski dừng lại, quay về phía Tadek.

– Cậu nghĩ sao?

– Có thể đúng. Có lẽ đúng. Tớ không kết luận gì cả và tớ cũng không khâm phục những người tư sản Paris. Họ đã dạy ở trường ngụ ngôn của La Fontaine, họ đã suy nghĩ về Montaigne, xây dựng nhà thờ Đức Bà và đã đem lại cho thế giới này cái mà ngày nay thế giới đang trả lại cho họ: Tự do. Họ chỉ muốn giữ bản sắc người Pháp. Cũng không có gì để khâm phục họ, cũng không có gì phải cảm ơn họ.

– Còn tớ thì... – Pech bắt đầu nói.

– Thôi im đi! Im đi!

Hình ảnh Épinal! – Pech vẫn cố nói. – Nước thánh! Nhồi sọ.

Dobranski đọc tiếp:

Ông Karl đến trước của căn phòng của mình. Ông cho chìa khóa vào ổ khóa... Trong lúc đó, cửa phía đối diện mở ra, và ông bà Chevalier bước ra ngoài hành lang.

– Chào ông Karl!... Thật là một sự bất ngờ thú vị!

Ông Chevalier nhảy đến phía ông Karl và bối rối bắt tay ông này làm như ông vừa tìm thấy một người bạn cũ. Ông Karl cứ để mặc cho ông ta làm, có vẻ hơi thích thú. Ông bà Chevalier là những người bạn trung thành nhất, những con chiên ngoan đạo nhất. Ông Chevalier không bao giờ nói “nước Đức” mà nói “Người đồng minh vinh quang và độ lượng của chúng ta bên kia sông Rhin”; ông ta không bao giờ nói “Quốc trưởng”, mà nói “Người dìu dắt thiên tài của châu Âu mới”; quân đội Đức từ miệng ông ta nói ra thì luôn luôn là “Quân đội rất có kỷ luật” và khi ông ta nói đến “Sự hợp tác” thì vẻ mặt của ông là hết sức cảm động, giọng nói hơi run run và đôi khi mắt hơi ướt. Bà Chevalier không nói bao giờ, bà chỉ chắp hai tay như đứng trước một hình ảnh thánh thiện và nhìn ông Karl với vẻ sùng bái, im lặng và hơi ngây ngô. Đôi khi cũng có những phút nghi ngờ, cũng như mọi người, tất cả những điều đó đối với ông Karl hình như quá đẹp ngoài sự thật. Đôi khi, ông ta có cảm tưởng mình là nạn nhân của một vở hài kịch ghê tởm, của “một sự đóng hộp” quá cẩn thận như cách nói của người Pháp. Nhưng ông tin vào sự cảnh giác tự nhiên của ông cũng như vào cân não của một người hơn mười năm làm nghề mật thám. Chỉ cần nghe giọng run cảm động của Chevalier khi ông ta nói đến “cặp Pháp-Đức”. Chỉ cần nhìn cái đầu của ông ta cũng đủ hoàn toàn yên tâm. Ông Chevalier có một ria nhỏ như bàn chải và để lòa xòa trước trán một túm tóc mọc ngược mà ông rất lấy làm hãnh diện. “Tôi không nhắc anh nhớ người nào sao?”. Bộ mặt của ông ta hình như muốn nói như vậy với vẻ rụt rè ngọt ngào.

– Ông Karl,– ông Chevalier nói, – chúng tôi bao giờ cũng sung sướng được siết chặt tay ông...

Ông ta đứng lại. Grillet vừa bước đến hành lang, hai tay đong đưa, một mẩu thuốc lá còn dính vào môi dưới. Cặp mắt lờ đờ, anh ta đưa ra phía trước bộ mặt võ sĩ quyền Anh bị đấm tơi bời.

– Tôi đến lấy áo quần giặt! – Anh ta làu bàu.

– Áo quần? – Ông Chevalier nói. – Áo quần nào? À! mà... tất nhiên là áo quần bẩn... Ở trong phòng tắm đấy, anh bạn.

Ông nắm tay ông Karl và lắc mạnh, mặt đẫm mồ hôi. “Áo quần” đó là số báo “Giải phóng” cuối cùng mà ông bà Chevalier in trên một máy in nhỏ đặt trong phòng tắm, mà Grillet và các bạn của anh ta sẽ phân phát ban đêm trong khu phố. Chỉ cần bà de Melville giữ chân được bọn cảnh sát thêm vài phút nữa... Miễn là Grillet đi qua được. Căn nhà của bà de Melville ở tầng dưới. Lúc nãy, hai người trai trẻ sắp lên đây và lúc đó... thì máy in đã được cất giấu, nhưng không cất giấu được cái giỏ to tướng. Chỉ cần chúng nâng tấm chăn lên thế là tờ “Giải phóng”, không còn ở trên đời này nữa... cũng như ông bà Chevalier.

– Xin cám ơn ông! – Ông Karl trịnh trọng nói.

Bà Chevalier, đầu hơi nghiêng, miệng hé mở, hai tay chắp lại, nhìn ông Karl với vẻ thích thú... Grillet từ trong nhà bước ra. Anh ta mang cái giỏ có đậy tấm chăn bẩn. Mẩu thuốc dán chặt ở môi, vẻ mặt ngơ ngác, anh ta chầm chậm bước xuống cầu thang... Ông Chevalier tiếp tục lắc tay ông Karl, như một cái máy tự động. “Một lầu... hai lầu... thế là anh ta đi lọt”.

– Xin cám ơn ông, – ông Karl nói, – và xin phép ông tha lỗi cho. Tôi còn bản báo cáo phải viết...

Ông Chevalier đặt ngón tay lên môi.

– Đừng nói gì cả! – Ông ta nói nhỏ. – Chúng ta đã hiểu! – Ông ta lắc túm tóc trước trán và lặp lại “Im, đừng nói gì cả!” và bước đi trên đầu ngón chân, bà vợ đi theo. Ông ta đóng cửa vừa đúng lúc để đón vào tay mình bà vợ đang lẳng lặng ngất đi... Trên hành lang, ông Karl nhẫn nhục chờ đợi, mắt nhắm. Ông Brugnon đi nhanh về phía ông, vẻ mặt rạng rỡ. “Có lẽ hôm nay lão ta sẽ thay đời cách xử sự chăng?”, ông Karl nghĩ bụng, mặt căng ra như thể bị đau răng. Nhưng ông ta đã nghe tiếng cười ngu ngốc của ông Honoré “Chỉ cần lão ta không vỗ vào bụng mình...”. Nhưng ông ta đã nhận được cú đầu.

– Stalingrad, Stalingrad... cánh đồng quạnh hiu! – Ông Brugnon hét lên. – Ha! ha! ha!

Ông Karl giận dữ xoay chiếc chìa khóa trong ổ khóa và vào phòng mình. Vẻ thích thú đã biến mất, bây giờ ông ta cảm thấy căng thẳng và khó ở. “Nào, nào... phải biết cách xử thế! Phải xoa dịu!”. Ông nghe tiếng nước chảy, “À!..., người thợ hàn!” Ông đi qua phòng tắm. Một người trẻ tuổi mặc áo quần xanh đang cúi xuống trong hồn tắm, dụng cụ để rải rác trên nền nhà.

– Chữa có lâu không?

– Thưa ngai, độ nửa tiếng.

Có tiếng chuông. “Lần này thế là hết!”, người trẻ tuổi nghĩ bụng. Anh ta không sợ. Nhưng những tin tức quan trọng không thể đến Luân Đôn được và kháng chiến sẽ mất một người liên lạc quý giá nữa... Ông Karl ra mở cửa và đối mặt với bà Laitue và hai người lầm lì. Bà Laitue có vẻ nhợt nhợt và thất bại. Nhưng ông Karl có kể gì đến bà Laitue.

– Các ông còn muốn gì ở tôi? – Ông ta hét lên bằng tiếng Đức.

– Thật không thể tưởng được! Không thể tưởng được! Các anh tưởng tôi giấu một tên gián điệp Anh dưới giường của tôi sao?

Tiếng dập gót chân, Những lời xin lỗi.

– Tôi đã nói rõ đây là căn hộ của ông, – bà Laitue giải thích. – Nhưng có lẽ họ không hiểu tiếng Pháp.

Bà nhắm mắt. “Lạy Chúa người Pháp, hãy xui họ ra đi và đóng cửa lại.”

Bà nghe tiếng dập gót chân và bà mở mắt ra: cửa đã đóng.

Dobranski hớp một ngụm nước trà. Pech lợi dụng cơ hội này để mở cuộc tấn công.

– Ông bạn viết như vậy chẳng ích lợi gì, hay là nghề mãi dâm này sẽ đem lại cho ông bạn một cái gì?

– Không cái gì cả! Dobranski buồn bã thú nhận.

Anh ta lại cầm lấy cuối vở.

– Đêm đến. Mọi vật đều yên lặng trong ngôi nhà này. Người trẻ tuổi mặc áo xanh đã đi rồi, đồ nghề cặp dưới nách. Hai người trai trẻ lầm lì cũng đã đi rồi, theo một hướng khác. Trên gác nhỏ, Grillet nghĩ đến ngày mai. Ngày mai phải thay đổi chỗ để dài thu thanh bí mật... Ngày mai, phải kiếm cho được giấy tờ cho người phi công Anh đang trốn ở Issy. Những mạo hiểm mới, những cố gắng mới. Anh đánh một que diêm và mỉm cười. Bây giờ thì Spinoza và Bergson, những bài giảng triết học phải soạn và những bài phải chấm, xa lạ đối với anh biết bao nhiêu. Học trò của anh đều tan tác. Có người ở Anh... Có người đã chết hoặc bị bắt... Có người lẩn trốn như anh và hoạt động, như anh và cùng với anh. “Ngày mai phải chú ý chăm sóc gia đình của hai công nhân bị bắn ở Renault!”.

Trong căn phòng của mình, chân cho vào đôi giày ấm, ngồi đàng hoàng, ông Karl viết báo cáo hàng tuần cho cấp trên.

“Tôi có thể khẳng định mà không khoe khoang rằng trong khu vực tôi phụ trách có một sự yên tĩnh hoàn toàn. Những tên tư sản Paris đều là người dễ xỏ mũi dắt đi. Chỉ cần một chút lịch sự, biết cách xử thế, tế nhị... Phải điều khiển họ theo lối Pháp, đó là điều cần thiết. Phải trở thành bạn của họ, tranh thủ sự tín nhiệm, sự tin cậy của họ. Một lời nói vuốt ve, một việc nhỏ đỡ đầu... thiết lập một không khí hợp tác, chân thành. Paris là một thành phố không hề chống lại một ngón tay ve vãn...”.

Tự lấy làm bằng lòng với mình, hắn đưa cây bút máy lên trời và mơ mộng. Bản báo cáo chắc chắn sẽ được đánh giá cao và sẽ được chuyển lên trên... lên trên và lên trên... lên cấp trên cao hơn nữa. “Ngài Lokalgauleiter là một con người đáng giá”. Hắn bắt đầu thì thầm. Người ta sẽ giao cho hắn những chức vụ mới.. cao hơn, luôn luôn cao hơn nữa! Bút giơ lên trời, chân trong giày ấm, ông Karl mơ mộng... Còn trong phòng mình thì ông Chevalier viết bài cho tờ “Giải phóng” sắp tới. Trong phòng tắm, bà vợ ông ta đang cúi xuống bên cái máy in nhỏ. Ông Chevalier viết: “Hãy kiên nhẫn. Che giấu trò chơi của các anh. Chỉ nện về đêm và những cú chắc chắn. Đừng để lộ gia đình các anh, con cái các anh. Tiếp tục trò chơi. Đừng hoang mang. Đừng nắm tay lại. Cánh tay của các anh phải duỗi thẳng, bộ mặt bình tĩnh. Hãy cười lên. Không nghi ngờ gì cả. Và nên biết điều này: Họ sẽ đến cũng như ngày mai họ sẽ đến. Lúc bấy giờ các anh sẽ vứt bỏ mặt nạ và cầm lấy vũ khí. Các anh sẽ để cho cơn giận dữ của mình gầm lên.. Lúc đó ngày giải phóng sẽ đến!”

Một sự thử thách mới và bi thảm đã đến với bà Laitue khi đã hơi bình tĩnh, bà đi lên phòng ông Lévy để nói với ông lời vĩnh biệt một cách thích hợp. Bà gõ cửa. Ông Lévy không trả lời. “Có lẽ ông ta đã đi rồi”. Bà Laitue nghĩ thế. Bà dùng chìa khóa riêng và mở cửa. Bà bước vào. Đúng là ông Lévy đã đi rồi. Thân thể mảnh mai của ông treo đầu một sợi dây, ở giữa phòng khách. Ông ta đã đi. Không cần giấy phép, ông đã vượt qua biên giới. Ông đi sang vùng tự do: ông ta để giấy căn cước lên bàn, rõ ràng để xác nhận ông là ai và vì sao ông lại ra đi. Có lẽ ông ta cũng ngập ngừng đôi chút trước khi ra đi. Có lẽ ông sợ sẽ trông thấy trên của Thiên Đàng có treo lấm biển: “người Do Thái cấm vào”.

Chân không giày, nụ cười thỏa mãn trên môi, ông Karl tiếp tục bản báo cáo quan trọng của mình, “Làm cho mọi người yêu mình, đó là bí mật của thành công khiêm tốn của tôi và đó cũng phải là phương châm của chúng ta ở xứ này... Chơi với bọn trẻ con. Nhường bước cho phụ nữ trong xe điện ngầm... Những sự quan tâm nho nhỏ sẽ đem lại những người bạn lớn... Phải có sự tế nhị, sự quan tâm... Những người tư sản Paris không có thói quen hoạt động bí mật. Họ chưa yêu chúng ta nhưng họ đã khâm phục chúng ta. Trong năm mươi năm nữa, những đứa con sẽ quên cha chúng nói tiếng Pháp”.

Dobranski xếp vở và giấu nó vào trong áo.

– Rồi sao nữa?

Pech giữ thái độ lãnh đạm hoàn toàn. Anh ta rót hước sôi vào một cái xô và bây giờ nhúng chân vào nước nóng một cách khoan khoái. Anh ta hơi nhắm mắt, đầu ngoẹo sang một bên... Anh ta đang hưởng cái thú ngâm chân.

– Tôi có vài chỗ nghi ngờ, – Czerw bất ngờ nói. – Tôi tưởng... Anh ta ngập ngừng và đỏ mặt lên.

–Cứ thành thật nói đi, Czerw.

– Tôi cho rằng anh đã lầm. Tôi không hề có chút tin cậy nào vào bọn tư sản... dù cho chúng ở Paris hoặc ở đâu. Có thể đánh cuộc chắc chắn là ông Honoré sẽ trở lại làm việc ở Vichy, nhưng tôi sợ rằng cái ông Brugnon của anh không phải chỉ có yên lặng bán phô mát cho học Đức với giá rẻ. Còn về ông Lévy thì...

– Thì sao?

– Đó là một con lừa. Khi người ta là Do Thái thì người ta không tự tử vào lúc này. Người ta giết hoặc bị người khác giết. Nếu người ta không phải là một tên từ sản Do Thái.

Có tiếng đồng tình. Đó là Pech. Anh ta chùi chân và với điệu bộ của linh mục trong kinh thánh, anh ta giơ chân cho mọi người xem bằng cách chĩa ngón chân cái to tướng về phía Dobranski.

– Đấy thấy chưa... bởi vì tôi hoàn toàn không chịu trách nhiệm về cái chết của con người đức hạnh đó!

Đã khuya, khi Janek quay trở về chỗ ẩn núp của mình thì Zosia, đã ngủ. Cô ta không nghe tiếng cậu tụt xuống hầm. Trong bóng tối, cậu lắng nghe tiếng cô thở đều đặn và bình thản. Cậu cởi áo, trườn lại phía cô, đặt đầu lên ngực cô. Cô vẫn không thức giấc. Cậu nghe tiếng tim cô đập bình yên... Cậu cũng thiếp đi trong tiếng thì thầm yên tĩnh của tim cô. Đến khi thức dậy, cậu nói với cô:

– Em biết không, Dobranski đang viết một cuốn sách.

– Anh ta có cho anh xem à?

– Có.

– Anh ta nói gì trong cuốn sách đó.

Janek ngập ngừng. Rồi cậu ôm chặt cô và buồn bã nói:

– Anh ta nói rằng chúng ta không cô độc.

Đỗ Tử Trình Dịch từ nguyên bản tiếng Pháp “Éducation européenne” do Nhà xuất bản Penguin (London) xuất bản năm 1946 Bản sách điện tử đã được Bookaholic chuyển các tên riêng của bản dịch từ NXB Thuận Hóa năm 1988 sang tên riêng như trong bản gốc tiếng Pháp.
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 3 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.