Túp Lều Của Bác Tom

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
9. Một Ngài Thượng Nghị Sĩ Cũng Chỉ Là Một Con Người

❊ ❊ ❊

Những ngọn lửa vui vui bốc lên từ đống củi, chiếu sáng căn phòng khách xinh xắn, lấp lánh trên những cái tách và cái ấm trà bầu bầu bóng loáng. Thượng nghị sĩ Bird cởi đôi ủng, đi đôi dép mà vợ ông vừa thêu cho ông trong khi ông đi kinh lí. Bà Bird, một con người chứa chan hạnh phúc, vừa coi sóc việc sửa soạn bữa ăn tối, vừa dặn bảo đàn con đông đúc đang nghịch ngợm, làm cho người mẹ lúc nào cũng lo lắng:

– Tom, buông cái núm cửa ra! Con Mary! Đừng kéo đuôi mèo, tội nghiệp... Jim, chớ trèo lên bàn, có xuống ngay không?

Bà nói với chồng:

– Thật bất ngờ mà lại vui quá! Tối nay, không ngờ anh lại được về với cả nhà.

Ông thượng nghị sĩ nói thật:

– Hôm nay, anh muốn về nhà nghỉ một tối để được sống trong không khí gia đình, nên anh bỏ dở cuộc kinh lí. Mệt đến chết đi được, lại hơi nhức đầu nữa.

Tức thì, bà Bird đưa mắt nhìn lọ long não đặt trong cái tủ cánh cửa hé mở. Nhưng ông ngăn lại:

– Không, anh chẳng cần thứ thuốc gì khác, ngoài một tách nước chè nóng và không khí gia đình đầm ấm. Chính trị, cái nghề thật kì lạ!

Ông thượng nghị sĩ mỉm cười, như thể ông sung sướng được hi sinh vì quyền lợi của đất nước.

Bà Bird không phải là người hay lo lắng đến chuyện quốc gia. Chả thế khi thấy bà hỏi: "Bây giờ, ở thượng nghị viện đang làm gì đấy anh?" thì ông trợn tròn con mắt, đáp:

– Chẳng có gì quan trọng cả.

– Có phải vừa thông qua một đạo luật cấm giúp đỡ những người nô lệ ở bang Kentucky bỏ trốn không? Em không thể tưởng tượng được một nghị viện gồm những người theo đạo Thiên Chúa, lại thông qua một đạo luật dã man như vậy.

Ông Bird ngạc nhiên:

– Sao thế, em Mary? Bỗng nhiên, em lại làm chính trị à?

– Em ấy à? Em mặc cái chính trị của anh, nhưng trong trường hợp đặc biệt này, em cho rằng đó là một chính sách tàn ác, vô nhân đạo.

– Đúng thế, đúng là đạo luật ấy vừa được thông qua em ạ. Em biết đấy, cái bọn theo chủ nghĩa giải phóng nô lệ điên cuồng làm quá lắm, nên các vị bên bang Kentucky nổi cáu lên. Bởi vậy, nghị viện thấy cần thiết phải làm cho họ hài lòng và yên tâm.

– Cái đạo luật ấy cấm không ai được cho những kẻ khốn khổ ấy trú đêm; cấm nuôi nấng họ; cấm cho họ vài manh áo cũ; cấm để họ tự do đi lại, có phải thế không?

– Đúng thế, em ạ; bởi vì, làm như thế, tức là đồng lõa với bọn người bỏ trốn đi.

Bà Bird có dáng người nhỏ nhắn, nhút nhát, hay đỏ mặt, đôi mắt xanh hiển dịu, nước da như quả đào đỏ ửng, tiếng nói dịu dàng, thánh thót. Còn nói về tính bạo dạn của bà, thì chỉ một con gà tây nổi cáu lên, cũng đủ làm bà chạy trốn; và chỉ một con chó giữ nhà tầm thường nhe răng ra, là tức khắc bà rút lui ngay. Chồng con là tất cả vũ trụ của bà. Ngay ở gia đình, bà cũng chỉ nhẹ nhàng thuyết phục, chứ không ra mệnh lệnh hay bàn luận bao giờ. Chỉ có một lần có một việc làm cho bà chui ra khỏi cái vỏ của mình và phản đối, đó là khi bà thấy có một hành động tàn ác. Bà là người mẹ dễ dãi nhất, dễ chiều chuộng nhất; tuy vậy, con cái bà vẫn không quên cái lần bị mẹ trừng phạt nghiêm khắc vì đang cùng với một đám trẻ con hàng xóm lấy đá ném một con mèo con yếu đuối.

Lúc này, bà Bird vội vã đứng dậy, hai má đỏ ửng, khiến bà càng thêm xinh; bà đến bên chồng, hét rõ to:

– Anh Bird, anh thử nói em xem, cái đạo luật ấy có công bằng, có hợp với đạo Thiên Chúa không?

– Em Mary, nếu anh bảo có thì em giết anh à?

– Em chẳng bao giờ nghĩ rằng anh bảo thế đâu, anh ạ. Nhưng anh, anh không bỏ phiếu thông qua đạo luật ấy chứ, em chắc thế?

– Nhà chính trị xinh đẹp của anh ơi, anh có bỏ phiếu thông qua.

– Anh Bird, anh phải lấy làm hổ thẹn! Những con người khốn khổ, không cửa không nhà ấy! Một đạo luật bất công, đáng ghê tởm. Khi có dịp là em sẽ làm trái ngay, hay đúng hơn, em ước mong có dịp làm trái đạo luật ấy. Nếu không còn được cho những con người đói khát ấy một bữa cơm hay một cái giường nữa, chỉ vì những người ấy là những nô lệ suốt một đời bị áp bức, khổ nhục, thì mới tệ làm sao! Thật là tội nghiệp!

– Em Mary, anh xin em, em hãy nghe anh nói một tí thôi. Những tình cảm của em thật đáng khen, làm anh càng thêm yêu em. Nhưng, ta không được để tình cảm lấn át lí trí. Đây không phải vấn đề cá nhân, mà là vấn đề công ích. Vấn đề này đã làm náo động mọi người, nên phải gạt tình cảm sang một bên.

– Anh Bird, em không biết gì về chính trị cả, nhưng em biết đọc kinh Thánh. Kinh Thánh bảo em phải nuôi những người không có gì ăn, cho quần áo những ai không có mảnh vải che thân, phải an ủi những người đau khổ. Em muốn làm theo lời dạy ấy.

– Nhưng, làm như vậy, em làm hại đến tập thể.

– Làm theo lời Chúa, thì không thể là làm hại đến tập thể được; không thể thế được.

Anh có những lí lẽ hết sức dứt khoát để chứng minh với em rằng...

Bà Bird ngắt lời chồng:

– Anh Bird, phi lí! Anh có nói suốt đêm, cũng không thể thuyết phục được em. Thế còn anh? Khi thấy một người khốn khổ, đói khát, rét run lên cầm cập ở trước cửa, anh có đuổi người ấy đi, chỉ vì lí do người ấy là một nô lệ bỏ trốn không? Anh trả lời em đi, anh có làm thế không?

Ông thượng nghị sĩ Bird vốn là một người rất dễ bị xúc động; ông chẳng phải là người đang tâm đuổi một kẻ khó ra khỏi cửa. Vợ ông biết thế. Bà biết thêm cái điểm yếu của chồng. Để chống đỡ trận tấn công ấy, ông lại dùng cái phương pháp thường ngày, là hòa hoãn lại; ông hắng giọng ho, rút một cái khăn mùi soa ra để lau mắt kính... Thấy đối phương đã bị tước vũ khí, bà Bird thừa thế tiến công luôn:

– Em muốn được xem anh tống cổ ra ngoài một người phụ nữ, giữa một trận bão tuyết, hoặc giữ người ta lại để đưa vào nhà tù. Việc đó mới hợp tính tình của anh làm sao!

Ông Bird, giọng ôn hòa, nói:

– Quả là một nhiệm vụ hết sức đau xót.

– Anh Bird, nhiệm vụ ư! Anh đừng lạm dụng danh từ ấy. Anh biết, điều ấy không thể là một nhiệm vụ. Nếu muốn cho nô lệ đừng bỏ trốn, thì cứ việc đối đãi tử tế với họ. Nếu em có nô lệ, - em mong chẳng bao giờ có cả - em không sợ họ bỏ trốn đi. Đất lành chim đậu. Mà khi họ bỏ trốn, những người khốn khổ ấy đói rét, sợ hãi không đủ hay sao mà tất cả mọi người còn phải xô lên chống lại họ? Luật lệ hay không luật lệ em mặc kệ.

– Em ạ, ít nhất, em cũng để cho anh bàn luận với em chứ.

– Em không thích bàn luận những vấn đề như thế này. Các nhà chính trị các anh có cái lối lạ lùng là bẻ queo các vấn để đơn giản nhất. Anh ạ, em còn lạ gì; em biết thừa là các anh không tán thành đạo luật ấy, chẳng khác gì em, và cũng chẳng bao giờ các anh áp dụng cái đạo luật ấy, cũng như em.

Giữa lúc gay go ấy, lão Cudjoe, người làm đủ mọi việc lớn nhỏ trong nhà, thò cái đầu tóc xoăn, vào cánh cửa hé mở, mời bà chủ xuống bếp có chút việc. Ông thượng nghị sĩ nhẹ nhõm cả người, đưa con mắt vừa vui vẻ vừa bực dọc nhìn theo vợ. Ông khoan khoái ngồi trong chiếc ghê bành, giở báo ra đọc.

Một lát, ông thấy tiếng vợ gọi ông, giọng cảm động:

– Anh Bird, anh xuống dưới này một chốc, anh ạ.

Ông đặt tờ báo lên bàn rồi xuống bếp. Ông mở to mắt nhìn cảnh tượng trước mắt ông: một người thiếu phụ mảnh dẻ, áo quần rách bươm, ướt sũng, nằm chết ngất trên hai cái ghế. Chân chị đã bị tuột một chiếc giày, còn rớm máu. Khuôn mặt chị là khuôn mặt người da đen, giống người bị khinh bỉ, nhưng có một vẻ đẹp dễ xiêu lòng và những nét rất thanh, như tạc vào đá. Ông thượng nghị sĩ nín thở, lặng lẽ nhìn người thiếu phụ. Vợ ông và bác Dinah, người đàn bà da đen duy nhất giúp việc trong nhà, đang cố làm cho chị hồi lại. Lão Cudjoe ôm một đứa bé trai nhỏ trên đầu gối. Bác ta đã tháo giày và bít tất cho nó, và hơ chân cho nó.

Bác Dinah nói:

– Thấy thế này, ai cầm lòng cho được! Tại nóng bất chợt quá nên chị ấy mới ngất đi; lúc vào còn khỏe mạnh. Chị ấy hỏi có sưởi ấm được một chốc không; cháu vừa định hỏi chị ấy ở đâu đến thì chị ấy ngất đi. Cứ xem bàn tay thì biết không phải là người làm ăn cực nhọc.

Bà Bird cảm động thốt lên:

– Tội nghiệp chị ta quá!

Người thiếu phụ từ từ mở mắt, lơ láo nhìn chung quanh. Mặt chị lộ vẻ khiếp sợ; chị vùng đứng dậy, thét lên:

– Harry! chúng nó đã bắt Harry chưa?

Thằng bé nhảy xuống đất, chạy lại rúc vào lòng mẹ. Người thiếu phụ quay lại phía bà Bird, kêu lên như điên như dại:

– Bà ơi! Xin bà che chở cho chúng cháu! Đừng để chúng nó bắt mất thằng bé.

Bà Bird nói:

– Ở nhà tôi đây, không ai làm hại chị đâu, tội nghiệp. Chị đang ở một nơi yên ổn, chị đừng sợ gì cả.

Sự tận tình của bà Bird làm chị yên lòng ngay. Người ta kê tạm một chiếc giường bên ngọn lửa. Một chốc, chị ngủ say, ôm con trong lòng. Chị ôm con chặt quá. Ngay trong giấc ngủ cũng không sao bế thằng bé ra được để đặt nó nằm thoải mái hơn.

Trở về phòng khách, bà Bird lấy một cái áo sợi, còn ông Bird giả vờ đọc báo. Sau, ông đặt tờ báo xuống nói:

– Không hiểu chị ta là ai nhỉ?

Vợ trả lời:

– Chốc nữa chị ta dậy, trong người dễ chịu hơn, ta sẽ biết rõ.

Ông Bird lại mải mê đọc báo; nhưng một lúc sau, ông lại ngẩng đầu lên, hỏi:

– Không biết chị ta có mặc vừa áo của em không. Phải lai cho dài thêm, vì hình như chị ta cao hơn em nhiều.

Một nụ cười vui sướng nở trên khuôn mặt rạng rỡ của bà Bird. Bà khẽ nói:

Để rồi xem...

– Em còn có cái áo khoác, em vẫn choàng cho anh, lúc anh ngủ trưa. Có thể cho chị ta được. Chị ấy cần sống áo.

Lúc bác Dinah bước vào báo tin người thiếu phụ đã tỉnh dậy, muốn nói chuyện với bà chủ, ông bà Bird xuống bếp; hai đứa con lớn nhất theo xuống, những đứa nhỏ khác đã đi ngủ. Người thiếu phụ ngồi bên bếp lửa, nhìn ngọn lửa, dáng tuyệt vọng, bình tĩnh, khác hẳn cái vẻ hốt hoảng lúc nãy.

Bà Bird dịu dàng hỏi:

– Chị muốn nói chuyện với tôi à? Chị thấy trong người dễ chịu hơn chưa?

Để trả lời, chỉ là một tiếng thở dài. Chị đưa con mắt cầu khẩn nhìn bà, khiến bà rơm rớm nước mắt. Bà vội nói để chị yên lòng:

– Chị đừng sợ gì hết. Chị đang ở một nơi yên ổn. Chị nói cho tôi biết chị ở đâu đến đây, bây giờ chị muốn gì?

Chị nói thật:

– Tôi ở Kentucky sang.

Ông Bird lúc ấy mới quyết định tự mình lấy khẩu cung:

– Chị sang lúc nào?

– Lúc chập tối.

– Chị sang bằng cách nào?

– Tôi nhảy trên những tảng băng!

– Trời ơi, trên những tảng băng!

– Vâng... họ đuổi sát theo sau, không có cách nào khác.

– Nhưng băng nó vỡ ra chứ. - Bác Cudjoe kêu lên thế. - Những tảng băng trôi lềnh bềnh trên dòng sông kia mà!

Eliza đáp:

– Tôi biết thế! Nhưng tôi đã vượt qua được. Tôi cũng không bao giờ nghĩ có thể sang được tới bờ bên này. Nhưng nếu không sang được, tôi chỉ còn có cái chết.

Ông Bird hỏi:

– Chị là một người nô lệ à?

– Thưa ông vâng. Tôi thuộc một ông chủ ở Kentucky.

– Ông ta có độc ác không?

– Thưa ông, không, ông ấy tốt lắm.

– Thế bà chủ, bà ấy không tốt à?

– Thưa ông, bà chủ đối với tôi bao giờ cũng tử tế.

– Thế sao chị lại bỏ trốn đi, dấn thân vào nguy hiểm như thế?

Người thiếu phụ ngước con mắt sắc nhìn bà Bird, chị thấy bà bận đồ tang. Bỗng chị hỏi:

– Thưa bà, bà đã mất đứa con nào chưa?

Câu hỏi bất ngờ như gợi vết thương gần đây: cách đây chưa đầy một tháng, bà vừa mất một đứa con. Ông Bird quay đi, bước ra phía cửa sổ, còn bà Bird thì nức nở khóc. Khi bà nói được lên tiếng, bà trả lời:

– Tại sao chị hỏi tôi như thế? Tôi vừa bỏ một đứa con.

– Như vậy, bà sẽ hiểu tôi. Tôi mất liền hai cháu. Hai cháu chôn bên kia sông. Tôi chỉ còn lại thằng bé này. Thưa bà, người ta định cướp nó đi, bán nó về phương Nam, một đứa trẻ chưa hề xa mẹ bao giờ! Thưa bà, tôi không chịu được cảnh ấy. Khi tôi biết giấy tờ đã kí xong, tôi liền mang nó chạy trốn, giữa đêm khuya. Cái người mua thằng bé cùng với mấy người làm nhà ông chủ đuổi theo tôi. Tôi nghe thấy tiếng họ nói, tôi vượt qua sông, trên những tảng băng. Làm sao tôi có thể vượt qua được, tôi cũng không biết. Đến lúc có người đỡ tôi lên dốc đê, tôi mới biết là tôi đã qua được sông.

Chị không khóc. Nhưng những người chung quanh, mỗi người tỏ mối xúc động của mình một cách. Hai đứa trẻ tìm mùi soa trong túi nhưng không thấy - mẹ chúng thừa biết chúng nó chẳng bao giờ có mùi soa trong túi áo - liền nấp sau váy mẹ. Bà mẹ cầm mùi soa ôm lấy mặt. Bác Dinah và bác Cudjoe khóc to hơn. Ông thượng nghị sĩ quay lưng lại, đứng bên cửa sổ; ông hắng giọng, lau đôi mắt kính, kín đáo xỉ mũi, để cho mọi người khỏi biết. Bỗng ông quay lại, nghẹn ngào hỏi:

– Thế sao chị lại bảo ông chủ của chị tốt?

– Ông ấy tốt, thật thế. Cả bà chủ nữa, cũng tốt. Ông ấy mắc nợ. Tôi không biết nói thế nào, cái người kia đã nắm chặt được đằng chuôi; ông bà ấy bắt buộc phải chịu. Tôi đã nghe được câu chuyện; bà chủ bênh vực tôi, nhưng không được. Thế là tôi bế con bỏ trốn.

– Chị không có chồng ư?

– Có, nhưng anh ấy lại thuộc một người chủ khác, một người tàn nhẫn, đã dọa bán anh ấy về phương Nam. Tôi lo không bao giờ được gặp lại chồng nữa.

Chị kể bằng một giọng bình thản, tưởng chị chẳng lo lắng gì, nhưng trông con mắt khủng khiếp của chị thì khác hẳn. Bà Bird hỏi:

– Tội nghiệp, thế bây giờ chị tính đi đâu?

– Sang Canada, nhưng tôi cũng chẳng biết Canada ở đâu. Chắc là xa lắm, phải không ạ?

Bà Bird nói:

– Xa, xa lắm, chị khó mà tưởng tượng được. Nhưng, để xem chúng tôi có thể làm gì giúp chị được. Bác Dinah, bác kê giúp chị ấy cái giường trong buồng bác ở gần bếp, rồi ngày mai, xem sao. Chị ạ, chị đừng sợ gì cả; chị hãy tin ở Chúa, Người sẽ phù hộ cho chị.

Hai vợ chồng ông Bird trở về phòng khách. Bà Bird ngồi tư lự trong ghế bành, còn ông thượng nghị sĩ đi đi lại lại trong phòng, lẩm bẩm một mình: "Thật là xấu xa!" Sau cùng, ông đến bên vợ, khẽ bảo:

Em ạ, phải lo cho chị ấy đi khỏi nơi đây, ngay đêm nay. Sáng sớm mai, cái thằng cha kia sẽ theo hút chị ta đến đây. Nếu chỉ có một mình chị ta, thì chị ta có thể ẩn náu cho đến khi hết tai nạn. Nhưng thằng bé kia, trời cũng không thể giữ nó yên một chỗ được. Chỉ cần nó ló mặt ra cửa sổ hay cửa ra vào! Nếu anh bị bắt vì giấu hai mẹ con người đó, vào lúc này, thì anh biết ăn nói làm sao! Phải đưa hai mẹ con họ đi ngay đêm nay.

– Ngay đêm nay! Đi làm sao được? Người ta biết đi đâu?

Ông thượng nghị sĩ vừa xỏ chân vào đôi ủng, vừa nói:

– Anh biết có chỗ cần phải đưa họ đi.

Ông ngừng lại, nghĩ ngợi, hai tay ôm lấy đầu gối. Ông kết luận:

– Một việc xấu xa. Nhưng mặc, cứ phải làm.

Ông buộc dây giày, xỏ chiếc ủng nữa, rồi lo lắng nhìn ra ngoài cửa sổ. Ông nói tiếp:

– Một chuyện xấu xa, nhưng không có cách nào khác. Anh có một người bạn cũ, ông Van Trompe, trước ở bang Kentucky sang đây; ông ấy đã giải phóng tất cả nô lệ của mình. Ông mua một cái trại ở phía dưới dòng sông, trong rừng sâu, hầu như chẳng ai qua lại. Đó là một nơi hiểm hóc, khó tìm. Ở đấy, chị ta sẽ được yên thân. Có cái phiền, là chỉ một mình anh mới đánh xe được tới đó, ngay đêm nay.

– Tại sao kia? Bác Cudjoe đánh xe rất giỏi.

– Phải qua hai lần suối; ở con suối thứ hai, nếu không thuộc chỗ xe có thể qua được, thì rất nguy hiểm. Anh đã đi ngựa qua chỗ ấy hàng trăm lần; anh biết rõ chỗ có thể cho xe qua được. Không có cách nào khác. Đến nửa đêm, bác Cudjoe sẽ thắng ngựa vào xe. Phải thận trọng mới được. Anh sẽ đưa hai mẹ con chị ấy đến tận nơi. Bác Cudjoe phải đưa anh đến trạm đổi ngựa. Từ đấy, anh sẽ đi xe ngựa tới Columbus, khoảng ba bốn giờ sáng. Như vậy, mọi người nghĩ rằng anh cho thắng xe để đi Columbus. Sáng mai, anh sẽ có thể tiếp tục công việc ở đấy. Sau này, khi anh đã nói và đã làm tất cả những việc trên, anh không biết anh sẽ ăn nói thế nào. Nhưng thôi, anh không thể làm khác được.

Bà Bird mỉm cười, đặt bàn tay trắng trẻo của mình trên tay chồng:

– Trong việc này, anh xử có tình hơn là có lí. Nếu em không biết anh hơn cả anh biết nữa, thì em đã chẳng bao giờ yêu anh.

Ông thượng nghị sĩ ra ngoài để chuẩn bị xe ngựa. Đến bực cửa, ông dừng lại; ông đến bên vợ, ngập ngừng nói:

– Em Mary, em đừng quên soạn cho chị ta ít áo quần. Anh không biết em có bằng lòng không, nhưng chúng ta còn giữ tất cả áo quần của bé Henry...

Bà Bird mở cửa một căn buồng ngủ nhỏ thông sang buồng của bà. Bà đặt cây nến lên bàn rồi lấy một cái chìa khóa giấu trong một xó kín, lơ đãng tra chìa khóa vào lỗ khóa. Bà dừng tay, vì hai thằng bé lớn đã theo bà vào buồng, và nhìn bà một cách có ý nghĩa. Hỡi những bà mẹ đang đọc những trang sách này, xin các bà hãy bảo tôi, đã bao giờ các bà mở một ngăn kéo, hay một cái tủ mà các bà tưởng như mở một nấm mồ chưa? Nếu các bà trả lời "chưa" thì các bà là những người vô cùng sung sướng!

Bà Bird từ từ kéo ngăn kéo. Có những bộ quần áo xinh xinh đủ các hình dáng, đủ các kiểu, có những chồng tạp dề, bít tất và cả một đôi giày nhỏ, rách ở đầu mũi, thò ra ngoài giấy bọc. Lại có cả đồ chơi nữa, một con ngựa, một cái xe bò, một con quay, một quả bóng - những kỉ niệm được xếp ở đấy, bằng biết bao nước mắt. Bà ngồi xuống, bên ngăn kéo, úp mặt vào hai bàn tay. Bà khóc. Những giọt nước mắt chảy qua kẽ ngón tay, rơi xuống ngăn kéo. Bà ngẩng đầu lên, tay thoăn thoắt chọn những vật cần nhất và giản dị nhất, gói vào một gói.

Một đứa bé khẽ mó vào tay bà, hỏi:

– Mẹ ơi, mẹ không cho những thứ này chứ?

Bà dịu dàng, nghiêm nghị đáp:

– Các con ạ, nếu ở trên trời, bé Henry nhìn mẹ con mình, nó sẽ vui sướng thấy mẹ con mình làm điều phúc đức. Chưa bao giờ mẹ có can đảm lấy những kỉ niệm này cho một người sung sướng. Nhưng lần này, mẹ cho một người mẹ, mà lòng còn đau đớn hơn lòng mẹ.

Trên thế gian này, có những tâm hồn cao thượng, biết biến những đau khổ của mình thành niềm vui sướng cho kẻ khác; biến niềm hi vọng phải chôn vùi dưới nấm mồ cùng những giọt nước mắt thành hạt giống sẽ nở hoa vào mùa xuân, và trở thành hương thơm để làm nhẹ bớt nỗi đau thương của những kẻ bị đọa đày cực nhọc. Người đàn bà có tấm lòng dễ xúc cảm này thuộc những tâm hồn như thế. Bà ngồi bên ngọn đèn, mặc cho những giọt nước mắt chảy từ từ trên gò má. Bà sửa soạn đem những kỉ niệm của đứa con đã chết cho đứa con một người đàn bà khốn khổ, lang thang, không nhà không cửa, đang bị truy nã.

Bà lấy ở trong tủ ra vài chiếc áo rất đơn giản nhưng chắc bền. Bà lấy kim, kéo và một cái đê, để xuống gấu cho áo thêm dài như lời chồng bà đã căn dặn. Bà ra sức khâu cho đến khi chiếc đồng hồ cũ kĩ đặt trong góc phòng điểm mười hai giờ đêm và có tiếng bánh xe dừng lại trước cửa. Ông Bird bước vào, áo choàng vắt trên tay. Ông nói:

– Em Mary, em đánh thức chị ta dậy, phải đi ngay bây giờ.

Bà Bird vội vã xếp mọi thứ bà đã thu lượm được vào trong một cái hộp bìa cứng. Bà đậy nắp hộp, bảo chồng để vào trong xe ngựa. Bà chạy xuống đánh thức người khách lạ. Một lát sau, Eliza, choàng một chiếc khăn và một chiếc áo khoác, đầu đội một cái mũ của bà Bird cho, tay bế con hiện ra ở bậc cửa. Ông Bird giục chị bước lên xe. Eliza ngồi bên trong, chìa tay ra ngoài. Một bàn tay cũng dịu dàng, xinh đẹp như bàn tay chị đưa ra nắm tay chị. Chị đưa đôi mắt đen và to nhìn chăm chắm bà Bird, đầy ý nghĩa, như muốn nói điều gì. Môi chị mấp máy, nhưng không nói được. Chị giơ bàn tay lên trời; không sao quên được con mắt chị lúc ấy. Chị ngả người ra lưng ghế, hai tay ôm lấy mặt, xúc động mạnh. Cửa xe đóng, chiếc xe từ từ chuyển bánh.

Chắc mọi người cũng thấy ông thượng nghị sĩ yêu nước này ở trong một hoàn cảnh kì lạ. Suốt tuần lễ vừa qua, ông đã bảo vệ một đạo luật cấm mọi người ở bang ông giúp đỡ, đón tiếp và đồng lõa với những người nô lệ bỏ trốn. Ông đã nói rất hùng hồn; ông đã thuyết phục mọi người bởi vì chính ông cũng cho rằng ông có lí. Những tiếng "nô lệ bỏ trốn" chỉ gợi cho ông hình ảnh đăng trên báo chí địa phương, những người da đen, vác một chiếc gậy đầu buộc một cái thùng, với một câu chú thích: "Đã trốn khỏi nhà chủ." Sự cùng khổ thực sự, con mắt cầu khẩn, bàn tay run run, tất cả những cái ấy, ông không hề biết tới. Chưa bao giờ ông tưởng tượng rằng người nô lệ bỏ trốn, có thể là người mẹ của một đứa trẻ không người che chở; đứa trẻ hiện lúc này đang đội cái mũ lưỡi trai của đứa con trai ông vừa qua đời. Vốn ông chẳng phải là người có tấm lòng sắt đá, cũng như vốn ông chỉ là một con người có những tình cảm nhân đạo, nên tấm lòng yêu nước của ông bị tổn thương.

Nếu quả đó là một trọng tội, ông sẽ chịu hình phạt ngay đêm nay, trên những con đường lầy lội sau cơn mưa lũ này. Xin kể với các bạn chưa biết những con đường này: ở Ohio, đường làm bằng những khúc thân cây tròn, đặt sát nhau, phủ một lượt đất phù sa, những mảng cỏ và mọi thứ linh tinh khác. Với thời gian, nước mưa đã để lại những vệt bánh xe, và xô đẩy những khúc gỗ nằm dọc, ngang đủ kiểu, trông thật kì lạ. Đấy, người địa phương kiêu hãnh gọi cái ấy là con đường.

Chiếc xe nhảy lên chồm chồm. Xe xóc làm cho những người ngồi trên xe hết xô phía này lại xô phía khác.

Đôi khi chiếc xe bị sa lầy, lại nghe thấy tiếng bác Cudjoe thúc giục mấy con ngựa. Lúc ông thượng nghị sĩ nóng ruột lắm thì chiếc xe ra thoát, nhưng tức khắc hai bánh trước lại sụt xuống một vết bánh xe khác. Cuối cùng, sau những cố gắng không đưa đến kết quả gì, bác Cudjoe đành thò cổ vào cửa xe nói:

– Thưa ông, cháu không biết làm thế nào đưa xe lên được. Có lẽ phải tìm mấy tấm ván mới gỡ nổi.

Chúng ta hãy bỏ qua chặng đường khó khăn này. Lúc chiếc xe bê bết những bùn và ướt lướt thướt vừa vượt qua con suối, dừng lại trước cổng một cái trại lớn, thì đêm đã rất khuya.

Phải gắng sức lắm mới đánh thức nổi những người trong nhà. Cuối cùng, chính ông chủ trại ra mở cổng. Ông bận một cái áo chẽn bằng len đỏ, tóc rối bù, mắt mọng, râu rậm đến mấy ngày chưa cạo. Ông không có vẻ niềm nở lắm. Ông thượng nghị sĩ phải giảng giải mãi câu chuyện.

Ông John Van Trompe là người chân thực. Trước kia ông là một điền chủ giàu có ở bang Kentucky, có nhiều nô lệ. Ông có cái vẻ bề ngoài hơi thô, nhưng một tấm lòng tốt và tính tình ông thẳng thắn. Trong nhiều năm trời ông đã phát biểu ý kiến không tán thành một chế độ có hại tới cả người áp bức lẫn người bị áp bức. Một hôm, chẳng thiết gì đến chức vụ của mình, ông từ chức và sang bên Ohio. Ông tậu một khoảng đất rộng rất đẹp. Ông giải phóng cho nô lệ của ông, rồi đưa tất cả, đàn ông, đàn bà, trẻ con, lên xe, dẫn họ về trang trại mới, cho họ sinh sống ở đấy. Từ ngày ấy, sống trong cái trại hẻo lánh, ông thấy lương tâm bình tĩnh hơn.

Ông thượng nghị sĩ hỏi:

– Anh có thể cho người phụ nữ và đứa trẻ đang bị bọn săn nô lệ đuổi bắt này trú ở đây không?

– Có thể lắm!

– Tôi cũng đã tin như thế.

Con người chân thật ấy nói thêm:

– Bọn chúng có thể đến đây, tôi sẵn sàng tiếp chúng. Tôi có bảy thằng con, đứa nào cũng khỏe mạnh như tôi. Các con tôi sẽ vui sướng được đón tiếp chúng. - Ông nói vậy, và phá lên cười như pháo ran, tay lùa vào mớ tóc rậm phủ trên đầu như một mái rạ.

Eliza mệt lả, lê bước vào đến cửa, tay bế đứa bé đang ngủ. Ông chủ nhà giơ cao đèn lên, soi rõ mặt chị, rồi thông cảm lẩm bẩm nói một mình. Ông mở cửa một căn buồng ngủ bên cạnh cái bếp lớn, châm một cây đèn khác, đặt trên bàn buồng ngủ. Ông ra hiệu bảo Eliza vào. Ông chỉ hai, ba cây súng treo phía trên mái lò sưởi trong bếp, nói cho chị yên lòng:

– Đừng sợ gì, cháu ạ. Chúng nó có thể đến đây. Tôi có vũ khí để chống lại những loại khách như vậy. Mọi người đều biết, nếu tôi phản đối, thì đừng ai dại gì mà cướp đi mất một người nào trong nhà tôi. Cháu cứ ngủ cho ngon như thể có mẹ cháu ru cháu. - Ông kết luận như vậy rồi đóng cửa lại.

Đến bên ông thượng nghị sĩ, ông bảo:

– Chị ta xinh lạ lùng là xinh. Chính những người như thế càng có lí do để bỏ trốn, nếu họ là những người tử tế.

Ông thượng nghị sĩ kể tóm tắt câu chuyện của Eliza. Ông chủ trại bất bình nói:

– Một sự nhục nhã! Đuổi bắt một con người khốn khổ, chỉ vì người ấy có cái sai lầm duy nhất là thương con!

Ông mở một chai rượu tần, rót hai cốc, rồi đưa cho ông thượng nghị sĩ một cốc, ông nói thêm:

– Anh nghỉ lại đây; tôi đánh thức mẹ cháu dậy soạn giường cho anh.

Ông thượng nghị sĩ từ chối:

– Cảm ơn. Tôi phải ra bến xe đi Columbus.

– Nếu vậy, tôi xin đưa anh một đoạn đường. Tôi chỉ cho anh một con đường tắt, tốt hơn con đường anh vừa vào đây nhiều.

Ông John mặc áo quần, lấy một cái đèn, rồi dẫn chiếc xe của ông thượng nghị sĩ ra tận con đường đằng sau trại. Lúc chia tay, ông thượng nghị sĩ dúi vào tay bạn một tờ giấy bạc mười đô la, nói ngắn gọn:

– Cho chị ta.

Ông John bắt tay, đáp:

– Tốt lắm.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.