Đêm đã khuya; bác Tom máu me đầy người, rên rỉ trong xó căn nhà tuốt hột bông, giữa đống máy móc hỏng, những đống bông mủn và vô số đồ hư hỏng khác.
Đêm ẩm ướt và ngạt thở. Hằng hà sa số muỗi vo ve quanh các vết thương, khiến cho bác thêm đau đớn; không bao giờ bác thấy xót xa như lúc này. Bác luôn miệng kêu rên:
– Lạy Chúa, xin Chúa đoái thương! Xin Chúa cho con được thắng lợi qua cơn thử thách này!
Có tiếng chân bước phía đằng sau, và một ngọn đèn chiếu le lói:
– Ai đấy? Làm ơn cho tôi ngụm nước...
Chị Cassy! Đúng là chị; chị đặt đèn xuống, rót nước ở chai ra, cho bác uống. Bác Tom uống ừng ực một chén, rồi hai chén.
– Bác uống đi, tôi biết bác khát lắm. Không phải đây là lần đầu tiên tôi mang nước uống cho những người khốn khổ như bác.
– Cám ơn bà...
– Đừng gọi tôi là "bà"! Tôi cũng là một người nô lệ đau khổ như bác thôi; còn đau khổ hơn bác nữa kia.
Chị lại gần cửa, lấy một cái nệm rơm phủ mấy miếng giẻ ướt sũng nước, nói:
– Này, bác gắng lê lên nệm này mà nằm.
Người bác Tom đau nhừ; khó nhọc lắm, bác mới lết lên được cái nệm, nhưng nước mát lạnh làm bác đỡ nhức nhối. Chị Cassy đã nhiều lần săn sóc nô lệ, nên đã trở thành một y tá thành thạo, chị băng bó cho bác; bác Tom thấy nhẹ hẳn người, chị nhấc đầu bác, đặt lên một túi bông:
– Tôi chẳng giúp bác thêm được gì nữa.
Bác Tom cảm ơn. Chị ngồi xuống đất, hai tay vòng lấy đầu gối, nhìn đăm đăm vào quãng không; con mắt chị đầy vẻ chua chát. Mũ chị rơi xuống đất; mớ tóc đen và dài rủ xuống khuôn mặt rầu rĩ. Chị nói:
– Bác ạ, những điều bác làm lúc nãy, chẳng ích lợi gì cả. Bác can đảm lắm, bác có công lí; nhưng vô ích, phản kháng như vậy, chẳng có lợi gì. Bác đã rơi vào tay một con quỷ sứ; nó có mọi quyền hành và bác sẽ phải khuất phục.
Khuất phục ư? Bác nói:
– Lạy Chúa! Lạy chúa! Tôi chịu khuất phục làm sao
được?
Chị Cassy quả quyết:
– Cầu đến Chúa thật vô ích. Chúa không nghe thấy lời bác đâu. Tôi tin là không có Chúa. Nếu có thì Chúa cũng không đứng về phía chúng ta. Mọi vật đều chống lại chúng ta, trời cũng như đất; cái gì cũng xô đẩy chúng ta xuống địa ngục. Tại sao chúng ta cưỡng lại?
Bác Tom nhắm mắt. Người đàn bà nói tiếp:
– Bác, bác chưa biết gì, còn tôi, tôi hiểu lắm. Đã sáu năm trời tôi ở đây, phải bò lê dưới chân thằng quỷ sứ ấy; tôi căm ghét nó. Cái đồn điền này ở giữa một nơi hiu quạnh, chung quanh chỉ có bãi lầy. Dù nó có thiêu sống bác, dìm bác vào vạc nước sôi, hay chặt bác làm trăm mảnh, vứt bác cho chó cắn, treo cổ bác, đánh bác đến chết, cũng không có một người da trắng nào biết. Ở đây, không có luật pháp nào có thể che chở cho bác hay bất cứ kẻ nô lệ nào. Còn thằng chủ ấy là thế nào? Nó chỉ độc làm điều ác. Tôi có thể kể cho bác nghe những câu chuyện tôi đã biết đã thấy, làm người ta phải dựng tóc gáy, nghiến răng lại. Chống lại nó làm gì? Tôi có muốn sống với nó đâu; tôi chẳng đã được nuôi dạy tử tế hay sao? Thế nhưng, tôi đã phải sống với nó năm năm trời; không lúc nào tôi không nguyền rủa cuộc đời mình. Bây giờ, nó lấy một cô gái khác mười lăm tuổi; cô này bảo đã được dạy dỗ trong tôn giáo. Bà chủ cô ta dạy cô đọc kinh Thánh cô có mang theo... Vứt đi!
Người đàn bà cười đau đớn và man rợ; tiếng cười vang lên trong cái kho hoang tàn cũ kĩ, một tiếng vang lạ lùng, rùng rợn.
Bác Tom chắp hai tay lại. Đêm tối như mực, và khủng khiếp.
– Lạy Chúa! Chúa đã quên những người khốn khổ rồi hay sao? Xin Chúa cứu vớt linh hồn con... hoặc con chết đi cho xong...
Người đàn bà lại nói:
– Thế còn những người nô lệ kia thì sao? Họ đã làm gì để bác phải cứu vớt họ? Họ độc ác, chỉ đợi dịp là chống lại bác.
Bác Tom đáp:
– Những người khốn khổ ấy, ai đã làm cho họ độc ác? Nếu tôi chịu khuất phục, tôi sẽ trở thành như họ, như hệt họ. Không, không thể được! Tôi đã mất hết cả, nào vợ con, nào gia đình, và một ông chủ tốt nữa, ông ấy giá sống thêm được tám ngày nữa đã giải phóng được cho tôi... Tôi mất sạch. Nhưng tôi sẽ không chịu để mất Thiên đường.
– Thế nhưng khi ta bó buộc phải làm điều ác, Chúa sẽ không buộc tội ta; Chúa bắt kẻ ép ta phải chịu trách nhiệm.
– Nhưng cái đó không ngăn được ta không trở thành tàn nhẫn. Nếu tôi độc ác như Sambo, điều quan trọng không phải là xem vì sao tôi độc ác; nhưng việc chính là con người độc ác; vì vậy mà tôi sợ.
– Trời hỡi! Bác nói đúng sự thật!
Chị Cassy ngã lăn xuống đất, như bị một cơn đau giày vò...
... Lúc tỉnh dậy, chị kể cho bác Tom nghe cuộc đời của chị trước đây:
– Tôi lớn lên trong cảnh xa hoa. Tôi còn nhớ, lúc bé tôi ăn mặc như một con búp bê, nô đùa trong những phòng khách rất đẹp. Ai cũng nuông chiều. Tôi chơi đi trốn với anh chị em tôi ở ngoài vườn. Tôi được gửi đến nhà tu, học tiếng Pháp, âm nhạc, học thêu thùa, nhiều thứ khác nữa. Năm mười bốn tuổi, tôi ở nhà tu ra, cũng là lúc bố tôi chết, chết bất ngờ; đến lúc chia gia tài, mới biết là chẳng còn gì để trang trải công nợ. Chủ nợ đến làm bản tổng kê tài sản, bao gồm cả tôi nữa, bởi vì mẹ tôi là nô lệ. Bố tôi hứa sẽ giải phóng cho tôi, nhưng bố tôi không làm, thế là tôi có tên trong món tài sản. Ai biết đâu một người đang khỏe mạnh, bỗng nhiên lại chết được; bố tôi bị bệnh tả, được bốn giờ thì chết. Một hôm sau ngày tang lễ. Bà vợ của bố tôi lúc ấy đưa con cái về đồn điền ông cụ thân sinh ra bà ta, mọi công việc thì giao cho một luật sư. Ngày nào ông ta cũng đến nhà, nói năng với tôi rất lịch sự. Một hôm, ông ta dẫn đến nhà một người con trai xinh đẹp. Không bao giờ tôi quên cái buổi tối đầu tiên hai chúng tôi đi chơi với nhau ở ngoài vườn. Tôi một thân trơ trọi, buồn quá; anh ấy rất tử tế. Anh ấy bảo trông thấy tôi từ ngày tôi vào ở nhà tu và yêu tôi từ đấy, anh ấy sẽ là bạn tôi, sẽ che chở cho tôi. Anh ấy không nói, nhưng tôi biết anh ấy đã bỏ ra hai nghìn đô la để chuộc tôi; tôi thuộc về anh ấy. Tôi cũng chẳng đòi hỏi gì hơn, bởi vì tôi yêu anh ấy. Anh ấy đưa tôi về một căn nhà xinh đẹp, có đày tớ, có ngựa xe, áo quần, thứ gì cũng đầy đủ. Còn tôi chỉ biết một điều là yêu anh ấy.
Tôi ước mong anh ấy cưới tôi. Nếu thật lòng anh ấy yêu tôi như anh ấy nói, thì anh ấy đã nhận lời cưới và giải phóng tôi. Nhưng anh ấy chỉ đáp không thể được. Anh ấy còn bảo, nếu hai người ăn ở thủy chung với nhau thì chẳng phải là đã cưới xin trước Thượng đế rồi đấy ư. Nếu thật thế, tôi đã là vợ anh ấy, trước con mắt của Chúa. Bảy năm trời, tôi sống để chiều chuộng chồng. Một lần, anh ấy bị sốt rét vàng, một mình tôi chăm nom săn sóc; lúc khỏi, anh ấy bảo tôi đã cứu sống anh ấy. Chúng tôi có hai cháu; cháu trai tên là Harry, giống bố như đúc; cháu gái là Eliza, lại giống mẹ... Chúng tôi sống những ngày sung sướng. Nhưng một hôm, anh dẫn về nhà một người anh họ, vừa trông thấy hắn ta, tôi đã run sợ, không hiểu vì sao. Tôi đinh ninh trong bụng, hắn ta sẽ gây cho chúng tôi một tai họa. Tối tối, hắn hay rủ nhà tôi ra phố, nhiều khi quá nửa đêm mới về... Tôi được biết hai người thường lui tới sòng bạc; tôi biết đã đến nước ấy, không sao kìm giữ nhà tôi lại được. Thế rồi, một hôm anh ấy giới thiệu cho tôi một người phụ nữ. Tôi biết anh ấy không yêu tôi nữa... Rõ ràng như thế... Tôi đau khổ, nhưng không hề nói một lời. Lão anh họ xúi anh ấy bán tôi và hai đứa con cho hắn, để lấy tiền trả nợ và cưới người đàn bà kia. Thế là anh ấy bán ba mẹ con tôi. Một hôm, anh bảo phải đi xa có việc, hai ba tuần lễ mới trở về. Anh nói năng ngọt ngào, nhưng tôi không mắc lừa. Tôi biết, giờ phút đau khổ đã đến, tôi xót xa, không nói được một lời, hai mắt ráo hoảnh. Anh hôn ba mẹ con tôi mấy lần, rồi lên ngựa đi... Tôi ngất đi.
Thế là cái thằng anh họ khốn nạn kia dẫn xác đến. Nó bảo nó đã mua ba mẹ con tôi, nó đưa giấy tờ cho tôi xem. Tôi căm ghét nó, tôi bảo nó thà tôi chết còn hơn là phải lấy nó. Nó đáp: "Tùy ý cô; nếu cô không biết điều thì tôi sẽ bán hai đứa con của cô, cô sẽ không bao giờ trông thấy chúng nó nữa." Nó còn bảo nó thích tôi từ ngày đầu nó trông thấy tôi; nó đẩy nhà tôi đến chỗ mang công mắc nợ. Nó còn đẩy người đàn bà kia vào tay anh ấy. Thế là tôi mới biết, tôi khóc cũng chỉ là vô ích mà thôi.
Tôi đành chịu. Số phận con tôi ở trong tay nó; mỗi lần tôi làm trái ý nó, nó lại dọa bán con tôi. Tôi sống khổ cực... tinh thần và xác thịt thuộc về một kẻ tôi căm ghét... Trước kia, tôi thích đọc sách cho nhà tôi nghe, thích nhảy với anh, hát cho anh nghe; đối với thằng chồng mới này, mỗi việc là một hình phạt. Nó tàn nhẫn với hai đứa bé, Eliza nhút nhát, nhưng Harry táo bạo và nóng tính như bố, nó không bao giờ chịu qụy lụy ai. Lão kia luôn luôn gây chuyện với thằng bé, tôi thì lúc nào cũng lo sợ. Tôi cố sức bảo cháu ngoan ngoãn hơn, nhưng không được; tôi tìm cách cho thằng bé sống xa lão kia, nhưng chẳng ăn thua gì. Thế là nó bán hai cháu. Một hôm, nó đưa tôi đi chơi, lúc về thì không thấy con đâu. Nó đưa cho tôi xem số tiền nó đã bán được. Tôi như người điên, tôi chửi rủa trời đất và loài người; hình như nó cũng sợ tôi. Nó bảo tôi có được thấy lại con tôi hay không là do tôi quyết định, và nếu tôi không im đi, con tôi sẽ chịu mọi đau khổ... Nó bắt tôi phải khuất phục, làm cho tôi hi vọng một ngày kia nó sẽ chuộc hai cháu về. Hai tuần lễ sau, một hôm tôi ra phố, qua một nhà trừng giới, trước cửa đầy những người xem; tôi nghe thấy tiếng trẻ con kêu khóc. Bỗng tôi thấy thằng bé con tôi, giằng được khỏi tay mọi người giữ nó, vừa chạy vừa gọi tôi kêu khóc. Nó níu lấy áo tôi. Bọn người kia vừa chửi vừa nhảy xổ ra. Một đứa bảo cháu phải vào để nó cho một bài học nhớ suốt đời. Tôi bênh cháu, van xin cho nó, chúng nó chỉ cười khinh bỉ. Khốn khổ, thằng bé cứ bám chặt lấy áo tôi; chúng nó xé áo tôi, lôi cháu đi. Tôi nghe thấy nó kêu gào "Mẹ ơi! Mẹ ơi!"... Tôi chạy trốn, nhưng tưởng như còn nghe thấy tiếng con gọi. Về đến nhà, tôi chạy vào phòng khách thấy Butter, thằng chủ của tôi, tôi van xin nó can thiệp cho cháu, nó vừa cười vừa bảo như thế là đáng đời thằng bé, có thế nó mới sợ. Tôi phát điên lên; thấy một con dao trên bàn, tôi vớ lấy nhảy xổ vào thằng chủ; ngay lúc ấy, tôi tối tăm mặt mũi, ngất đi một hồi lâu. Khi tỉnh dậy, tôi thấy mình nằm trong một căn buồng xinh xắn không phải buồng của mình, một bà già da đen chăm sóc. Một thầy thuốc đến thăm bệnh. Sau, khi biết Butter đã bỏ ra đi; nó đã bán nhà. Tôi hiểu tại sao tôi được chăm sóc như thế.
Tôi mong được chết đi; nhưng rồi tôi khỏi sốt; tôi dậy được. Ngày nào người ta cũng bắt tôi tô điểm. Nhiều ông sang trọng, ngậm xì gà to tướng, đến xem hỏi tôi mọi chuyện, trả giá. Tôi buồn quá, chẳng muốn nói gì, thế là chẳng ai thèm mua. Người ta bảo nếu tôi không tươi tỉnh lên thì sẽ bị đòn. Sau cùng, một ông tên là Stuart hình như có cảm tình với tôi, hiểu nỗi cực khổ của tôi; ông ta đến thăm tôi nhiều lần; khi chỉ có hai chúng tôi, ông ta hỏi chuyện tôi. Ông ta mua tôi và hứa sẽ tìm hai cháu để chuộc. Ông ta đến nhà trừng giới thì người ta trả lời nó đã bị bán cho một chủ đồn điền gần sông Trân Châu. Từ đấy, bặt tin cháu. Rồi, ông Stuart đi tìm cháu gái. Nó ở với một bà cụ già. Ông ta trả một giá rất đắt, nhưng nhất định người ta không bán. Thằng Butter biết ông Stuart mua con bé là vì tôi; nó viết thư cho tôi bảo không đời nào tôi được gặp lại cháu. Ông Stuart đối với tôi rất tử tế. Ông có một cái đồn điền đẹp lắm; hai chúng tôi đến đấy ở. Ít lâu sau, ông chết vì bệnh tả. Những người muốn sống thì đều phải chết; chỉ có tôi là cứ sống mãi. Tôi bị bán từ tay người này qua tay người khác, cho đến khi tôi héo mòn, đau ốm. Thế là thằng Legree khốn nạn này mua tôi, mang tôi về đây.
Chị Cassy dừng kể chuyện. Câu chuyện cuộc đời chị, chị kể rất nhanh, sôi nổi. Lúc thì chị như nói với bác Tom, khi thì như nói một mình. Câu chuyện sôi nổi ấy có lúc làm cho bác quên đau đớn. Bác chống tay dậy, nhìn theo chị đang bực bội đi lại trong căn phòng, mái tóc buông xõa sau lưng. Một lát sau, chị nói:
– Bác vừa bảo có Chúa. Có thể có... Dạo tôi ở nhà tu, những cô nữ tu sĩ bảo tôi sẽ có cuộc phán xét cuối cùng, khi mọi việc đã sáng tỏ. Lúc ấy, tha hồ mà báo thù! Người ta tưởng những điều chúng ta và con cái chúng ta chịu đựng chẳng có nghĩa lí gì? Thế à? Trước kia, khi tôi ra phố, tôi đau đớn quá, muốn tiêu diệt cả cái thành phố ấy đi. Tôi mong ước các ngôi nhà đổ sập xuống tôi, đường phố sụt cả xuống. Khi tôi còn nhỏ, tôi tưởng tôi ngoan đạo lắm, tôi kính Chúa, tôi thích cầu kinh... Bây giờ tôi là một người bỏ đi... Đêm ngày quỷ sứ thôi thúc tôi... giục giã tôi... một ngày kia, tôi sẽ làm! Chị Cassy kêu lên như vậy, bàn tay nắm lại, trong con mắt lóe lên một ánh sáng dữ tợn. - Tôi phải giết nó... Có thế mới được. Một đêm nào đó, dù có bị thiêu sống.
Một tiếng cười man rợ vang lên một hồi dài trong căn phòng: chị nức nở khóc. Chị lăn lộn dưới đất, tưởng như điên như dại. Rồi chị từ từ đứng dậy, bình tĩnh lại. chị đến gần bác Tom, dịu dàng hỏi bác:
– Bác còn cần gì nữa không? Bác có uống nước nữa không?
Bác Tom uống nước rồi, thương hại nhìn chị, bác bảo:
– Mong bà quay trở lại với Chúa, Người có thể ban cho bà chút nước của cuộc đời vĩnh cửu.
Ngày xưa, tôi thấy Chúa trên bàn thờ. - Cassy mơ màng nói. - Nhưng Chúa không ở đây. Ở đây chỉ có tội lỗi và tuyệt vọng.
Chị thở dài, đặt tay lên ngực, hít một chút không khí, như để cho nhẹ người. Bác Tom muốn nói nữa, nhưng chị ra hiệu bảo thôi:
– Thôi, bác đừng nói nữa. Bác cố ngủ đi.
Chị để cái bình nước cạnh bác Tom, cố đặt bác nằm lại cho dễ chịu hơn, rồi bước ra ngoài.