
Vũ Hán - Xích Bích: 133 km
Ngày thứ mười bốn: 8/1/2014
Tôi hẹn sáu giờ dậy nhưng khi mở mắt nhìn ra cửa sổ, ngoài trời vẫn tối om. Tôi ngủ tiếp đến bảy giờ. Chị bạn của Tiểu Tịch đã ra cửa hàng.
Tiểu Tịch đưa tôi vào một hàng ăn sáng rất đông ở dưới nhà, có vẻ quán lâu đời và khá nổi tiếng. Trong quán có một bàn thu ngân, người ăn phải mua phiếu rồi chuyển qua bên lấy đồ ăn. Các nhân viên phục vụ mặc đồ trắng. Các món của quán tôi đã được nếm từ hôm qua, đều là các đặc sản Vũ Hán, giá chỉ từ 2 đến 5 tệ. Trong quán chủ yếu là dân công sở. Khi tôi đến, không có chỗ ngồi riêng cho hai người, tôi và Tiểu Tịch phải ngồi xen kẽ với bàn khác. Tôi chọn sữa đậu nành và xôi nếp rán còn Tiểu Tịch chọn mì khô vì theo em món này làm từ bột mì nên ăn no nhanh, no lâu. Đồ ăn đựng trong bát giấy dùng một lần, thìa nhựa cũng dùng một lần.
Xe đạp tôi dựng ngoài quán mà không khóa, vì xe tôi trông như đồng nát, lại chở cả một đống đồ, ai lấy trộm cũng phải khổ sở. Tuy vậy, Tiểu Tịch vẫn không yên tâm. Em gọi đồ ăn rồi mang ra ngoài, đứng cạnh chỗ dựng xe, vừa trông xe vừa ăn. Vừa ăn, Tiểu Tịch vừa thao thao bất tuyệt về chuyện thầy xem tướng nói rằng số Tiểu Tịch tuy chậm đường tình duyên nhưng sẽ thành đạt trong sự nghiệp và giàu có.
Phương tiện di chuyển chủ yếu của Tiểu Tịch là đôi chân. Từ chỗ ở tới khu chợ có cửa hàng của Tiểu Tịch không gần, có lẽ đi bộ cũng mất 30 phút. Theo lời Tiểu Tịch, khoảng thời gian đi bộ này thú vị hơn nhiều so với việc phải ngồi trông cửa hàng cả ngày, trong không gian chật hẹp 8 m2. Tôi chưa từng đến cửa hàng của em.
Tiểu Tịch ở khu Giang Hán, tôi phải sang bờ bên kia sông Trường Giang, phía khu Vũ Xương để tìm đường ra quốc lộ và đi tiếp. Tôi phải đi phà qua sông.
Phà qua sông có hai tầng, bên dưới có một gian trống để các xe đi qua, tầng bên trên dành cho người đi bộ. Nhìn bên ngoài, cái phà như một du thuyền sơn màu trắng, kính sáng bóng, khoang lái phía trước. Giá lên phà chỉ có 1,5 tệ. Tôi phải đợi khá lâu để đủ số lượng người nhất định họ mới bắt đầu qua sông.
Người đi phà là các cô, các chú đi xe máy, xe điện, xe đạp, hoàn toàn không có bóng dáng của thanh niên hay dân công sở. Có lẽ những người này sẽ chọn đi xe buýt hoặc tàu điện ngầm, ở khu vực này có nhiều cầu bắc qua sông, có cả đường hầm, nhưng tôi không được phép đi xe đạp lên cầu.
Đây không phải lần đầu tiên tôi đi phà trên sông. Mẹ tôi buôn bán dọc sông Đà, đi từ Hòa Bình đến Sơn La, bắt đầu từ bến thuyền chỗ thủy điện Hòa Bình, rồi cứ thế lênh đênh trên phà đi dọc sông Đà khoảng 8 ngày. Đến điểm chợ nào mẹ tôi cũng dừng lại, lên bờ và bán hàng cho bà con dân tộc ở đó. Tôi từng đi với mẹ hai lần.
Ấn tượng của tôi trong cả hai lần không khác nhau, vẫn là cái thuyền ấy, một cái thuyền hai tầng, chủ thuyền và thợ thuyền ở tầng trên, tầng dưới dành cho những người đi chợ. Mỗi người có một cái phản gỗ khoảng 2 m2, gần bằng một cái giường, mọi hoạt động đều diễn ra trên cái giường - nấu cơm, ăn cơm, ngủ, soạn hàng... Dưới phản gỗ sẽ là kho hàng của người ấy.
Trên thuyền còn có động vật, một bên là chuồng gà, một bên là chuồng lợn, nhốt cả lợn và dê. Thông thường, người ta sẽ mang gà công nghiệp ở dưới xuôi lên và mua gà đồi ở miền núi về bán, mua lợn ở dưới xuôi và mua dê ở miền núi. Người ta cũng giết mổ lợn, gà ngay trên mui thuyền. Sáng nào ngủ dậy tôi cũng nghe thấy tiếng lợn kêu. Ngày mưa, mùi trên thuyền rất kinh khủng, tôi phải đi qua hai khu chuồng rồi mới đến khoang ở.
Khoang ở của mẹ tôi lúc nào cũng tối om, buổi tối người ta mới bật máy phát điện từ sáu giờ đến chín giờ. Mẹ tôi không sạc điện thoại được thường xuyên. Có một số đoạn trên sông không có sóng điện thoại, mẹ tôi nắm rất chắc đoạn nào có, đoạn nào không. Bố tôi còn nắm chắc hơn mẹ. Bố tôi biết rõ ngày nào có thể gọi điện cho mẹ, ngày nào sẽ mất liên lạc.
Ở phía đuôi thuyên, nơi để đầu máy có nhà vệ sinh kiêm nhà tắm. Người ta dùng nước sông, đổ rác xuống sông. Mùa đông, cứ khoảng ba giờ chiều mẹ tôi đã giục tôi đi tắm, vì nếu đợi tan chợ thì phải xếp hàng. Mùa đông, tôi lấy nước làm nguội máy để tắm. Cứ cách một ngày tôi lại gội đầu một lần. Tôi không ngửi thấy mùi dầu gội vì dùng nước sông. Tôi phơi quần áo ở đuôi thuyền, khi thuyền chạy, chỉ một lúc sau quần áo sẽ khô. Có mấy lần tôi bị bay mất quần áo.
Những cái chợ mẹ tôi lên bán hàng chỉ là chợ tạm, ai lên trước sẽ nhận chỗ trước. Chợ là một khu đất trống bên sông, hoặc gần nhà văn hóa của một bản nào đó, một tuần họp một lần. Ngày nào mẹ tôi cũng đi chợ, có ngày đi hai lần, nhưng mẹ tôi sẽ đi dọc sông, một tuần mới quay lại các điểm chợ một lần. Bà con dân tộc nắm cơm mang đi chợ, có người đi từ ba giờ sáng. Chủ yếu tôi gặp người Thái và người Mông đi chợ theo kiểu đại gia đình, bố mẹ cõng các con, nếu mua gì thì sẽ mua cho cả nhà. Mặt hàng lúc nào cũng đắt khách là nước giải khát và quần áo.
Lúc mẹ tôi bán được nhiều hàng nhất là sau mùa ngô. Người ta cầm cả một xấp tiền, cả nhà đi ăn chơi mua sắm. Khi tiêu hết tiền lại đến mùa đói ăn nhưng chẳng ai có ý thức dành dụm. Nhiều em trai chỉ khoảng 15, 16 tuổi nhưng đã giới thiệu với tôi cô vợ đi bên cạnh. Năm tôi 19 tuổi, một cô người Thái là khách quen của mẹ hỏi tôi có bao nhiêu con. Cô ấy mới 32 tuổi mà đã có cháu ngoại.
Lúc này, ở trên phà qua sông Trường Giang, tôi cứ chờ đợi để nhìn sang bờ bên kia. Nhưng trời hôm ấy vẫn mù sương, tôi chỉ nhìn thấy mặt nước màu xanh, bên trên có một lớp màn trắng, tôi không biết là hơi nước từ mặt sông hay khí bụi. Tôi cũng mong được nhìn tận mắt những cây cầu bắc qua sông Trường Giang dài thế nào nhưng chẳng trông thấy gì quá chục mét. Khi gần cập bến, bờ phía trước mặt tôi lờ mờ hiện ra. Mặt trời nhỏ xíu, mờ nhạt như đang cố vượt lên những tòa nhà cao tầng.
Dù trời hơi mưa và sương mù nhưng có rất nhiều người đi tập thể dục trong công viên gần bờ sông, nhất là các ông già. Nhiều ông lão đã bày biện bàn cờ và ngồi hàn huyên với nhau. Mải ngắm cảnh, tôi quên lối, đi theo cảm tính và lại lạc đường.
Thực ra, người trò chuyện nhiều nhất trên đường với tôi chính là chị chỉ đường trong phần mềm Baidu. Cứ cách mấy giây, chị lại nói tôi đi thẳng 500 m, quặt phải, đi tiếp 1 km... giọng nói đều đều và đặc biệt rất tốn pin. Đi theo lời chỉ dẫn của chị, cuối cùng tôi cũng thoát được mớ bòng bong trong thành phố và ra được một khu ngoại ô.
Trời mưa nặng hạt hơn. Tôi dừng lại trên vỉa hè, lôi một đống áo mưa ra bọc tay, bọc giày, bọc người. Khi xong xuôi, tôi ngẩng lên thấy tất cả mọi người ở các hàng quán xung quanh đều đang nhìn mình. Đi thêm một đoạn, trước mắt tôi hiện lên một xóm chài ven sông. Những nóc nhà lợp tạm kiểu nhà sàn, tường nhà là các miếng tôn, bọc thêm bạt ni lông tránh gió, mái nhà cũng bằng tôn. Tôi không biết đến mùa nước lên, nơi này sẽ như thế nào.
Theo mũi tên trên bản đồ, tôi đạp xe lên cầu. Nhìn thấy trạm soát vé, không hề đắn đo, tôi lách qua chiếc xe tải chắn ngang, phi thẳng về phía trước. Đường rất vắng, rất trơn, thỉnh thoảng mới có một chiếc ô tô vụt qua, không có bóng xe đạp hay xe máy. Đi mãi, tôi vẫn không nhìn thấy cột mốc đỏ quen thuộc với ký hiệu quốc lộ 107. Thay vào đó, tôi lại thấy những tấm biển màu xanh lá, bắt đầu bằng chữ G và các biển hiệu lái xe an toàn. Hai bên đường có những dải phân cách rất chắc chắn. Không có nhà cửa hai bên, đường cứ thẳng tắp, không một ngã rẽ. Thỉnh thoảng, một vài anh tài xế lái xe vượt qua, ngoái đầu nhìn tôi như một vật thể lạ.
Tôi bỏ điện thoại ra xem bản đồ và dần dần hiểu chuyện. Tôi đang ở trên cao tốc, chứ không phải ở đường quốc lộ như tôi tưởng. Đường này chỉ dành cho xe ô tô, xe tải, tuyệt đối cấm xe đạp, xe máy, xe thô sơ các loại. Có lẽ các cô chú ở trạm thu phí không nhìn thấy tôi để chặn tôi lại. Tôi đã quên mất bản đồ của Baidu chỉ hướng dẫn đường cho ô tô nên luôn ưu tiên chọn đường cao tốc.
Tôi đang ở trên đường một chiều, chia làm ba làn, phân cách bằng ba vạch trắng, một cho xe ô tô lớn, một cho xe bốn chỗ, và một chuyên dành cho xe dừng tạm để xử lý sự cố hoặc dành cho các xe tránh nhau. Nếu cứ đi tiếp, sẽ có hai khả năng xảy ra: một là tôi sẽ gặp tai nạn, vì xe đi với vận tốc rất cao, không ai nghĩ có con bé ngu ngốc nào lại đi xe đạp lên đây; nguy cơ thứ hai xác suất cao hơn, là bị bắt gặp bởi xe đi tuần của bộ phận bảo vệ đường, bị cho cả người lẫn xe lên thùng ô tô và chở về đồn. Tôi có thể phải nghe giáo huấn, nghe dạy luật lệ rồi mới được thả. Dù sao, ít ra tôi cũng không phải đối diện với cảm giác bất an như lúc này.
Tôi phải tìm ngay một lối rẽ để ra khỏi đây nhưng đường thẳng vun vút, dưới lan can chỉ có đất đá và cây cối, không một đường mòn. Tôi cứ đi như thế khoảng 40 km và tìm được một ngã rẽ, theo bảng chỉ dẫn thì đây là lối vào một huyện lộ. Tôi chẳng quan tâm huyện nào, miễn thoát ra khỏi đây. Các cô chú ở chốt chặn có vẻ ngơ ngác khi thấy một vật thể lạ lách qua barie vút về phía đường mòn. Tôi không dám quay lại nhìn.
Tôi đang đi vào một khu chế tác sản xuất, con đường toàn bùn đất và bụi. Quanh tôi chỉ toàn những công xưởng vắng không một bóng người. Dọc đường, tôi chỉ thấy một hàng tạp hóa để mua nước. Nơi này cũng bán bánh kẹo và một số đồ khô, nhưng đến thời điểm này, tôi đã quá ngán bánh quy và lương khô. Đi thêm một quãng, tôi ra được tỉnh lộ, rồi quốc lộ. Đường lại dốc lên dốc xuống. Nhìn theo một cách tích cực, việc lạc vào cao tốc sáng nay giúp tôi tránh được một đoạn đường núi. Hai bên quốc lộ là rừng trúc. Mưa lất phất, trúc phủ xanh mắt tôi.
Vẫn còn cách xa Xích Bích đến mấy chục cây số. Tôi đi qua một trường tiểu học đúng giờ tan trường. Trẻ con ùa ra khỏi cổng, vây lấy một ông lão bán đồ ăn. Tôi dừng lại nhìn. Ông bán xúc xích nướng, bánh rán và cơm nếp đựng trong ống tre, bịt hai đầu rồi hấp lên như cơm lam của Việt Nam. Ống tre nhỏ, đậy nắp giống súng xoan trẻ con quê tôi hay chơi. Khi ăn, chỉ cần lấy que đẩy lên, cơm sẽ có hình một cây kem, chấm với đường để ăn, món này khá rẻ, chỉ có 1 tệ.
Đi qua thị trấn, tôi lại quay về với khung cảnh vắng hun hút. Dọc đường quốc lộ có ngã rẽ để đi vào một cái làng phía xa xa. Thỉnh thoảng có đôi ba xe khách vượt qua tôi, dừng lại thả một đứa trẻ con xuống. Những đứa trẻ miền núi đi học bằng cách bắt xe khách. Chúng xuống xe, vác ba lô nặng trịch màu hồng có in hình búp bê Babie, rồi đi bộ xuống dốc, men theo lối mòn để về ngôi làng phía xa.
Hôm nay tôi gặp rất nhiều vấn đề với bản đồ nên quyết định không đi theo chỉ dẫn của nó nữa mà tự đi theo cảm tính. Bản đồ chỉ đường cho ô tô nên ưu tiên chọn đường rộng, tránh các điểm đèn đỏ, còn tôi có thể tự tìm con đường ngắn nhất để đến nhà Tiểu Lưu ở thành phố Xích Bích.
Tiểu Lưu là một em trai sinh năm 1993, làm việc cùng tôi ở nhà nghỉ tại Đôn Hoàng. Tiểu Lưu họ Lưu, nhưng tôi hay gọi là Tiểu Ngưu, nghĩa là con trâu nhỏ, vì nó đen nhẻm, râu ria xồm xoàm, tóc lúc nào cũng dựng đứng lên. Ngày ở Đôn Hoàng, Tiểu Lưu chỉ có đúng hai bộ quần áo vì bị mất đồ đạc. Nó mua quần alibaba bán ở khắp mọi cửa hàng lưu niệm với giá 15-20 tệ để mặc, quần rộng thùng thình và xoăn tít lên.
Tiểu Lưu rất xuề xòa về ăn mặc và đầu tóc. Chỉ khi nào nó mượn dầu gội của tôi, tôi mới biết là nó sắp gội đầu. Từ lúc ra khỏi nhà đi du lịch cho tới mùa hè, nó chưa cắt tóc lần nào. Có lần, tôi và Tiểu Lưu ra núi cát phía sau nhà nghỉ, tôi chụp cho nó một bộ ảnh để đời. Nhìn lại ảnh, Tiểu Lưu trông không khác gì thổ dân, tóc quấn khăn, râu hơi nhú, cởi trần, đeo một cái vòng cổ làm bằng da thuộc lủng lẳng hình chiếc lá, mặc chiếc quần alibaba trứ danh.
Gặp Tiểu Lưu và chơi với nó một thời gian, tôi cũng bất cần chuyện đầu tóc, ăn mặc theo. Tôi chỉ mang trong hành lý một chiếc quần dài, còn lại là quần soóc cho đỡ tốn diện tích. Ở Đôn Hoàng, ngày nào tôi cũng mặc quần áo ngắn, loẹt quẹt dép lê. Khí hậu Đôn Hoàng hanh khô nên môi tôi nẻ toác, da cũng nứt nẻ, tóc khô và tích điện tanh tách. Quần áo, chân tay tôi lúc nào cũng có cát.
Lúc đi từ Bắc Kinh, tóc tôi dài gần ngang lưng, đến Tứ Xuyên, tôi cắt tóc để gội đầu cho nhanh khô. Tôi vào một cửa hàng cắt tóc vắng hoe để khỏi phải xếp hàng, rồi ra khỏi tiệm với một kiểu tóc trị giá 15 tệ, chỉ với hai nhát kéo - một nhát cho tóc mái, một nhát cho đuôi tóc, nhát nào cũng thẳng tắp. Chị cắt tóc đeo kính còn dày hơn cả tôi. Nhìn vào gương, tôi rùng mình nghĩ tới hình ảnh cô gái rô bốt vì tóc tôi rất cứng. Có lẽ tôi không giống cô gái rô bốt lắm vì đứa trong gương tròn hơn, lùn hơn, mặt ngu hơn. Vì kiểu tóc này nên suốt dọc đường đến những điểm tiếp theo, tôi đội mũ bất cứ khi nào có thể. Sau lúc gặp Tiểu Lưu, tôi kệ luôn.
Tiểu Lưu kém tôi 3 tuổi nhưng luôn nhường nhịn, hy sinh ở nhà để tôi đi chơi với anh Tần chủ nhà nghỉ, ở Đôn Hoàng rất bụi bặm, lại không có bóng dáng con gái nên anh chủ nảy ra ý tưởng mua hoa về trồng. Thỉnh thoảng, nửa đêm, anh gọi tôi, hai anh em lái xe ra khu du lịch ăn trộm hoa. Tôi không biết người Trung Quốc có biết về ngôn ngữ các loài hoa hay không, nhưng anh chủ thường lấy trộm hoa cẩm chướng. Đây là loại hoa người ta thường lấy để làm vòng hoa đám ma. Cứ cây này sắp chết, anh lại ra lấy cây mới. Tôi cũng hay theo đuôi anh đi mua đồ, đi đón khách, tiễn khách.
Mỗi lần tôi ra ngoài về, Tiểu Lưu luôn để phần dưa hấu, dưa vàng Tân Cương hoặc nho cho tôi. Nho nhà anh chủ trồng nhưng thỉnh thoảng mới được hái. Ở Tân Cương có tỉnh Ha Mi là nơi trồng nhiều dưa vàng nhất, dưa vàng nhiều và rẻ tới mức người ta chất đống dưa trên đường, giá chỉ 1 đến 2 tệ một quả. Ở đây cũng có công việc thời vụ là hái nho, mỗi người được phát một cái giỏ, mỗi ngày hái được bao nhiêu thì tính lương theo số nho hái được, nghe nói cũng được 100 đến 200 tệ một ngày, lại được ăn nho thoải mái.
Những ngày ở Đôn Hoàng, tôi và Tiểu Lưu suốt ngày phải ăn mì. Dù luôn miệng nói nhớ cơm trắng nhưng hai đứa vẫn ăn sạch từng cọng. Món mì này rất đạm bạc, làm thủ công, kéo sợi bằng tay, sau đó chần qua nước sôi. Người ta dùng luôn nước sôi này để làm canh. Nước xốt chỉ là cà chua xào lên, thỉnh thoảng thêm đỗ dải áo hoặc cà tím, rất ít khi có thịt. Tất cả các rau quả đều là đồ hái trong vườn nhà anh chủ. Sáng nào tôi cũng mang một cái giỏ mây ra vườn, hái đủ các loại cà tím, cà chua, đỗ, dưa chuột, cả các loại quả như táo, lê, mận. Tôi cầm giỏ mây đi trong vườn như sơn nữ trong rừng, dù tôi nghĩ mình giống sơn tặc hơn.
Suốt mùa hè, tôi và Tiểu Lưu ăn chơi với nhau ở Đôn Hoàng. Hết kỳ nghỉ, tôi về Bắc Kinh để làm thêm, kiếm tiền cho năm học mới. Nếu lúc đó không kiếm được việc làm thêm, có lẽ tôi đã đi tiếp lên Tân Cương. Tôi nghe mọi người ở Đôn Hoàng nói quá nhiều về vùng đất ấy, một nơi rộng lớn, có nhiều tộc người có bản sắc độc đáo. Phía Bắc Tân Cương rực rỡ với bốn mùa rõ rệt, có nhiều cánh đồng hoa oải hương, nhà cửa theo lối kiến trúc đặc trưng của Hồi giáo, phía Nam là hoang mạc và sa mạc trải dài. Nghe những lời kể, tôi thấy Tân Cương vừa hoang sơ, vừa khác lạ, vừa xa vời.
Khi tôi về Bắc Kinh, Tiểu Lưu vẫn còn trụ thêm một tháng ở Đôn Hoàng để có tiền đi tiếp Tân Cương và Tây Tạng. Thông thường, chúng tôi sẽ đổi sức lao động ở nhà nghỉ để có chỗ ăn ở, không có lương, nhưng vì Tiểu Lưu quá đen đủi nên anh chủ vẫn trả công để nó có tiền đi tiếp.
Tôi không biết vì sao anh chủ Tần tiếp xúc hằng ngày với những người đi du lịch nhưng không hề bị ảnh hưởng. Anh không hề thích đi du lịch. Em trai của anh cũng vậy. Anh dúi tiền cho em trai, lôi cậu ta ra ga, đẩy lên tàu để đi Thành Đô chơi. Anh rất muốn cậu em đi chơi để biết đây biết đó, nhưng trong suốt những ngày ở Thành Đô, cậu ta chỉ ngủ ở nhà nghỉ 3 ngày rồi về. Theo lời Tiểu Lưu, sau Tết, khả năng cao anh chủ sẽ kết hôn. Anh và đối tượng được mối lái đang trong thời gian tìm hiểu, nếu phù hợp thì sẽ cưới luôn.
Từ Đôn Hoàng, Tiểu Lưu đi Tân Cương, từ Tân Cương đến Tây Tạng, rồi từ Tây Tạng về Thành Đô. Trong lần dựng lều ngủ ở công viên Thành Đô, một lần nữa nó bị lấy trộm đồ. Từ đó, Tiểu Lưu tặc lưỡi chấp nhận số phận, quay về Xích Bích và ngoan ngoãn ở nhà từ đó đến nay. Mục tiêu tiếp theo của Tiểu Lưu là đi Nepal, Ấn Độ và các nước Trung Á với xuất phát điểm là 300 tệ.
Ấn tượng của tôi về Tiểu Lưu là một thằng bé lúc nào cũng nhếch nhác, không có lấy một đồng. Trong suốt ba tháng ở Đôn Hoàng, Tiểu Lưu không bao giờ tiêu gì vì nó không có tiền. Tiểu Lưu đi Tân Cương và Tây Tạng với 300 tệ anh chủ đưa vì nó cũng chỉ có bằng ấy. Bố Tiểu Lưu gửi cho nó một cái điện thoại để nó đi Tân Cương thì tiện liên lạc, chứ không gửi tiền.
Tiểu Lưu cũng quen với Tiểu Tịch. Hai đứa nói chuyện và rỉ tai nhau rằng không hiểu tôi nghĩ gì mà lại đạp xe từ Bắc Kinh về Hà Nội.
Tiểu Lưu đã thay đổi khá nhiều, tóc cắt gọn, da trắng hơn, không có một sợi râu nào. Hôm nay Tiểu Lưu mặc một cái áo hoodie trẻ trung, quần jeans, đeo lủng lẳng một cái máy ảnh trước ngực. Nó vừa đi chụp đám cưới về.
Tiểu Lưu đưa tôi về nhà, một căn hộ tầng ba nằm trong một khu chung cư cũ ở một con hẻm nhỏ. Trước khi lên tầng, tôi để xe đạp vào nhà kho dưới gầm cầu thang. Nhà kho là một phòng nhỏ khoảng 30 m2, có đầy đủ nhà vệ sinh, kệ bếp và giường cá nhân. Đây là nhà bố mẹ Tiểu Lưu mới mua để sau này chuyển xuống, nhường căn nhà hiện tại để Tiểu Lưu làm phòng cưới.
Nhà kho này rất bụi, ngăn với cầu thang bằng một cánh cửa song sắt, từ ngoài nhìn thông được vào bên trong. Chung cư này có năm tầng, chỉ có thang bộ, cầu thang trát xi măng đã sứt mẻ vài chỗ. Tuy vậy, nhà Tiểu Lưu rất sạch, có ba phòng ngủ, hai nhà vệ sinh và gian bếp rất rộng. Nội thất trong nhà sáng bóng, không có một hạt bụi nào. Em gái Tiểu Lưu đang xem phim hoạt hình. Bé gái này cắt tóc mái như nhóc Maruko, tóc đen bóng, mặt tròn. Em ngồi xem phim hoạt hình, ôm lấy điều khiển, không cho bố hay anh động vào. Bố Tiểu Lưu đang nấu ăn trong bếp, đeo tạp dề và hai ống tay bằng ni lông, chít lại bằng chun nhỏ xòe hoa. Trong nhà, bố Tiểu Lưu là người nấu ăn, dọn dẹp, đón đưa con đi học... Mẹ Tiểu Lưu đi làm xa.
Trưa nay cả nhà đi ăn cỗ cưới, bố Tiểu Lưu tận dụng tất cả những gì có thể trong tủ lạnh để nấu bữa tối, có rau cải xào, bí hầm xương, canh cá nấu thả mấy quả ớt dại cay gấp mấy lần ớt chỉ thiên. Bố Tiểu Lưu cứ hỏi đi hỏi lại xem tôi có ăn được mấy món chú nấu không.
Trong bữa cơm, bố Tiểu Lưu liên tục kể xấu con trai, rằng Tiểu Lưu chỉ biết cắm nước sôi và pha mì tôm, trong khi chú ưa sạch sẽ, dọn dẹp, nấu ăn suốt ngày, rằng Tiểu Lưu cứng đầu, cứ đi lang thang như bị bệnh, không thể bảo ban gì được... Lần Tiểu Lưu bị mất đồ ở Đại Lý, nó lang thang đến Tứ Xuyên, trong người còn hơn 100 tệ nhưng không dám tiêu. Đến cổng nhà một bác gái, Tiểu Lưu lả đi. Trong mấy ngày, bác gái này cho nó ăn, cho nó tiền để đi tiếp. Bố Tiểu Lưu than phiền rằng không dạy được con, nhưng chú vẫn giữ liên lạc với tất cả những người đã giúp đỡ nó trên đường, từ bác gái này đến anh chủ nhà nghỉ.
Hiện tại, bố Tiểu Lưu bó tay vì nó cứ khăng khăng muốn mua máy ảnh và học chụp ảnh. Chú thấy chuyện này chẳng có gì hay ho, chú cũng không tin Tiểu Lưu có tố chất gì. Dù vậy, tôi chắc chắn rằng bố Tiểu Lưu sau này vẫn đầu tư tiền mua máy ảnh cho con.
Thực ra Tiểu Lưu thích chụp ảnh từ lâu. Khi ở Đôn Hoàng, Tiểu Lưu suốt ngày mượn cái máy ảnh Canon của tôi, nó chụp từ ngỗng đến dê, nói chung là chụp tất cả những gì nó nhìn thấy, tận dụng mọi thời gian để chụp ảnh. Tiểu Lưu cũng xem kỹ những bức ảnh chụp của những người khách đã từng trọ ở nhà nghỉ để học hỏi kinh nghiệm và các góc máy, tình nguyện dẫn khách đến các điểm tham quan và chụp ảnh cho họ.
Ăn xong, bố Tiểu Lưu rửa bát. Có lẽ bố Tiểu Lưu khá kỹ tính, bát đĩa, dầu rửa bát để ở đâu phải theo đúng ý chú. Tôi và Tiểu Lưu chẳng động tay gì. Tôi ngồi ở salon xem ti vi. Trên bàn có rất nhiều kẹo hỉ, loại kẹo gói giấy toàn màu đỏ. Nhìn đám kẹo, tôi nhận ra Tết sắp đến rồi.
Tối hôm ấy, tôi và Tiểu Lưu ngồi ôn lại rất nhiều chuyện.
Ở Đôn Hoàng, tôi gặp một anh người Chiết Giang. Thực ra, tôi cũng không biết anh có phải là người Chiết Giang hay không, vì những người tôi gặp trên đường chỉ có mặt mũi là thật. Anh đã đi hầu hết các nước châu Á, từng đến Việt Nam và thuê xe máy đi xuyên Việt. Khi du lịch ở Myanmar, anh mua rất nhiều ngọc. Đến Thái Lan, anh mua rất nhiều bạc. Về Trung Quốc, anh vừa đi vừa bán ngọc và bạc, những món đồ này anh bán với giá hàng vạn tệ. Anh chiếu đèn pin vào ngọc để cho tôi xem, nhưng vì không hiểu gì nên tôi chẳng hứng thú. Anh cũng từng trải chiếu bán đồ lưu niệm ở Lệ Giang, kiếm từng tệ lẻ. Cuộc sống của anh khá phong phú, anh vừa đi bộ, vừa đi nhờ tới Thanh Hải, rồi mua một cái xe máy phân khối lớn ở đó và phóng tới Đôn Hoàng. Mục tiêu tiếp theo của anh là đi tới Tân Cương, tìm một cái nhà hợp mắt và dừng lại sống ổn định. Suốt một tuần ở Đôn Hoàng, lúc nào anh cũng mặc áo ba lỗ, quần alibaba như Tiểu Lưu, loẹt quẹt dép tông. Tay phải của anh có vết tích của một hình xăm đã bị xóa.
Người thứ hai tôi gặp ở Đôn Hoàng là một anh trọc đầu. Tôi không biết tuổi của anh, nhưng theo lời kể, anh đã đi lang thang vòng quanh Trung Quốc trong khoảng mười năm. Anh tự cạo đầu trọc lóc, mảng da đầu sau khi cạo trắng hơn rất nhiều so với da mặt. Anh ta vừa từ Tân Cương về, anh khoe với chúng tôi rất nhiều chiến tích như bị sói đuổi, bị chó cắn, phải chịu đói chịu khát ở sa mạc... Anh thề sẽ không bao giờ tới sa mạc ở Tân Cương lần thứ hai. Anh ở Đôn Hoàng khá lâu, trả tiền giường hằng ngày nhưng lại dựng lều ở gốc táo và ở trong lều. Khi chúng tôi cắm trại, đốt lửa ở ngoài sa mạc và chơi trò nói thật, có một bạn hỏi anh: “Tiền ở đâu ra mà anh có thể đi du lịch như vậy?” Anh ta bảo rằng câu hỏi này khó quá đến mức anh không biết trả lời thế nào.
Tôi còn gặp một anh, tạm gọi là anh Stylist, người Quý Châu. Anh Stylist tự nhận mình là 9x, nhưng do tôi check in phòng cho anh nên tôi biết anh sinh năm 1980. Công việc chính của anh là quản lý một salon tóc ở Quý Châu. Anh còn có một cửa hàng quần áo và một cửa hàng phụ kiện, thỉnh thoảng có dự án quay phim thì anh đi theo.
Anh rất cao và gầy, lúc nào cũng mặc đồ màu neon và rất chú trọng kiểu tóc. Ban đầu, anh định đi du lịch nghỉ dưỡng sau khi xong việc làm stylist cho một đoàn phim ở Bắc Kinh. Anh mang theo một va li lớn đầy các loại quần áo. Đến Ngân Xuyên, anh gặp hai người bạn cùng nhà nghỉ, hai người này dẫn anh đi mua áo gió, giày thể thao và ba lô, còn lại đồ đạc trong va li đều gửi bưu điện về nhà. Anh Stylist này có biệt tài nói chuyện không ngừng. Anh từng hẹn hò với một chị trên mạng, chỉ sau vài câu, anh hẹn gặp và hai người nói chuyện liên tục trong năm tiếng. Sau đó, anh giơ cờ đầu hàng vì gặp đối thủ xứng tầm.
Anh Stylist rất sợ Tiểu Lưu vì anh đi đâu nó cũng mang theo máy ảnh để chụp.
Có một bạn dự kiến sẽ ở nhà nghỉ nơi tôi làm việc một ngày, sau đó đi luôn. Khi ra chuồng dê chơi, bạn làm rơi thẻ nhớ xuống ngay sát cửa chuồng. Để tìm được thẻ nhớ có từng bức ảnh bạn chụp từ khi bước chân ra khỏi nhà, bạn phải đeo khẩu trang, quét từng ngóc ngách đầy phân dê trong chuồng.
Tôi cũng gặp hai bạn nam lúc nào cũng phe phẩy quạt mo. Hai bạn ăn mặc giống nhau, một người cầm quạt mo bên trái, một người cầm quạt mo bên phải. Tôi không phân biệt được ai là ai, dù hai bạn không phải là anh em sinh đôi. Lúc nào tôi cũng nhìn thấy hai bạn ngồi ở cái bàn trong khoảng sân chung, hí hoáy viết một cái gì đó.
Ở Đôn Hoàng, tôi còn gặp một em gái 18 tuổi, người Ngô Duy Nhĩ ở Tân Cương. Em vừa thi đại học xong và đang chờ kết quả. Em từng đi vòng quanh Tân Cương, đến cả những vùng biên giới giáp Kazakhstan. Mục tiêu tiếp theo của em là đi Tây Tạng, em chỉ dừng chân nghỉ ở Đôn Hoàng.
Em gái này ăn mặc rất giản dị, dáng người cao, tóc dài, nhìn mặt rất thanh tú. Ở Đôn Hoàng có nhiều khách muốn đi Tân Cương nên em vui vẻ chia sẻ kinh nghiệm với mọi người. Mối lo phổ biến nhất ở đây là nỗi sợ những người ở Tân Cương sẽ kỳ thị người Hán, vì từng có nhiều vụ nổ súng giữa người Tân Cương và người Hán. Tuy vậy, em gái này nói rằng nếu xin ngủ nhờ hay xin ăn cơm ở một gia đình Tân Cương thì thoải mái. Để đến được Đôn Hoàng, em cũng chỉ đi nhờ xe, ăn màn thầu và hoa quả trừ bữa. Trước khi lên đường, em chỉ có 500 tệ.
Một buổi chiều, mọi người tản đi ngắm hoàng hôn, chỉ có tôi, Tiểu Lưu và em gái Tân Cương ngồi nói chuyện. Trước đó, nhiều người khách trọ ở nhà nghỉ được giới thiệu là ở đây có lễ tân người Việt Nam nên màn chào hỏi của chúng tôi bao giờ cũng là: Tiểu Lưu giả vờ là người Việt Nam, còn tôi giả vờ là người Thái Lan. Khi nói chuyện với em gái Tân Cương, Tiểu Lưu lại bắt đầu màn kịch, rằng nó là lưu học sinh, đợt vừa rồi xuống Đại Lý bị mất hết đồ đạc, hộ chiếu, máy ảnh, điện thoại. Em gái Tân Cương lắng nghe rất chăm chú, rồi em bảo: em không có nhiều tiền, nhưng em đưa cho Tiểu Lưu 200 tệ, em vẫn còn 70 tệ. Em sẽ nghĩ ra cách để đến được Tây Tạng.
Tôi và Tiểu Lưu tròn mắt, không nói được gì trong mấy giây, rồi sau đó phá lên cười. Sau khi Tiểu Lưu thú thật rằng nó không phải là người Việt Nam, em gái Tân Cương vẫn không rút lại tiền. Tiểu Lưu và em đưa đẩy, giằng kéo 200 tệ rất lâu. Cuối cùng, Tiểu Lưu nói rằng nó được bao ăn bao ở tại nhà nghỉ, sau đó nó sẽ tới Tân Cương hái nho, hái bông và làm thuê, tự lo được lộ phí. Nghe vậy, em gái Tân Cương mới thôi.
Nhà nghỉ tôi làm việc nằm khá xa trục đường chính, vị trí không đẹp, nhưng lượng khách vào mùa hè khá đông vì không gian vui vẻ, thoải mái, phục vụ chu đáo, anh chủ Tần lại đưa đón khách miễn phí bằng xe ô tô. Tuy vậy, anh chủ luôn kêu lỗ, vì anh hứng lên là mời mọi người đi nhậu. Có vị khách nào ấn tượng anh cũng mời họ đi nhậu luôn. Ai ở lâu, anh quý, anh giảm tiền, có khi cho ở miễn phí. Theo lý thuyết của anh, giường trống để không cũng chẳng để làm gì, nên ai xin ở nhờ anh cũng đồng ý. Tôi cũng là một người ban đầu được anh cho ở nhờ.
Đằng sau nhà nghỉ là một sa mạc, nhưng vẫn có một khoảng đất đủ nước, có thể trồng cấy bình thường. Trong vườn trồng đủ các loại quả. Nhà nào ở khu vực này cũng trồng táo và lê, đi đường, chỉ cần ngước mắt nhìn lên là thấy táo lúc lỉu. Mỗi lần sau cơn mưa, nước đọng lại thành một cái hồ nhỏ gần nhà nghỉ, mọi người sẽ ra hồ bơi nhưng gần như là tắm bùn. Thời gian đầu ở đây, ngày nào tôi cũng quét nhà những mọi thứ luôn y như cũ. Về sau, mẹ anh chủ bảo tôi đừng quét, chỉ cần thay ga giường.
Từ khi tôi và Tiểu Lưu tiếp quản nhà nghỉ, anh chủ không lo lắng gì nữa, anh chỉ việc đi chơi và thu tiền. Chúng tôi tự đề ra quy định chỉ cho ở nhờ một tối duy nhất, riêng với em gái Tân Cương, chúng tôi cho em ở miễn phí thêm 2 ngày.