
Cửa ải cuối cùng
Ngày thứ hai chín: 23/1/2014
Xã Bản Lợi - Hữu Nghị Quan: 126 km
Hữu Nghị Quan - thành phố Lạng Sơn: 15 km
Hôm nay, bảy giờ sáng tôi đã xuất phát. Trời vẫn tối đen.
Ở khu này, chỉ có trạm xăng còn bật đèn. Đường vắng không một bóng người. Tôi vừa đạp xe vừa nhìn trời sáng dần lên. Cảnh vật hai bên lúc là những rặng mía, lúc lại có những hồ nước dưới chân núi.
Tôi đạp xe hơn một giờ trên đường mà vẫn chưa gặp ai. Theo tính toán, hôm nay tôi phải hoàn thành 126 km. Hải quan, cửa khẩu sẽ là cửa ải cuối cùng, tôi rất sợ bị kiểm tra vì hành lý quá tải hoặc gặp một vấn đề rắc rối nào đó.
Nhìn từ xa, tôi thấy phía trước bụi mù che kín cả tầm nhìn. Tới gần, tôi gặp một đoạn đường đang sửa. Từ chỗ chỉ có bụi đất, tôi đi sang đoạn đường có hai làn cao thấp khác nhau vì người ta làm một làn đường trước, phần bên kia vẫn đang trong giai đoạn đào lấp. Làn đường bên này được rải tạm một lớp đá mỏng, nếu không may bị trượt thì xe sẽ rơi xuống hố của làn đường còn lại.
Vận tốc của tôi giảm nhiều do chất lượng đường và do những con dốc. Khi xuống dốc, tôi không dám thả mà phải xuống dắt bộ. Con đường đá lổn nhổn rất nhiều ổ gà, ổ voi, nếu đang xuống dốc mà không làm chủ được tốc độ, chắc chắn tôi sẽ ngã.
Đi trên con đường đang làm dở, tôi thấy xót xa cho chiếc xe. Tiếng lốp xe cọ vào mặt đường lạo xạo. Thỉnh thoảng, đá bắn từ bánh xe tung tóe sang hai bên. Tôi không biết có phải những người công nhân làm đường đã về quê ăn Tết hết hay không, nhưng chín giờ sáng mà vẫn chẳng có ai làm đường.
Sương mù vẫn lửng lơ sau các rặng mía. Đoạn đường tiếp theo của tôi hoàn toàn là đường đất. Các tấm biển CÔNG TRƯỜNG ĐANG THI CÔNG, HẠN CHẾ TỐC ĐỘ được cắm khắp nơi. Tôi cảm thấy giống như mình đang thực hành thi lấy bằng xe máy ở Việt Nam, vì có rất nhiều chướng ngại vật trên đường, tôi phải đi vòng vèo theo hình số 3. Tốc độ đạp xe của tôi không khá hơn so với dắt bộ bao nhiêu. Từng chiếc xe tải đi qua tôi, kính xe mờ tịt vì bám bụi quá lâu. Hai bên đường, những người đội nón lá lúi húi bên những ruộng mía. Đàn trâu đứng cạnh xe kéo đợi chở mía về. Các cây mía không được trồng theo hàng hay theo luống, nhìn um tùm như lúa gieo sạ. Người ta tụm thành một đám đông để cùng thu hoạch mía, trên một thửa ruộng có tám, chín người dàn hàng. Vì sương nên lá mía ướt nhẹp, rỏ nước. Những người đang chặt mía áo cũng loang vết nước, không biết do mồ hôi hay do sương.
Tới hơn chín giờ, con đường của tôi trở nên bằng phẳng, êm ru. Giữa ruộng mía bát ngát, sương mù mờ mịt phía trước, tôi vẫn thấy hạnh phúc. Tôi nghĩ đoạn đường đau khổ nhất đã qua.
Nhưng tôi chẳng vui được bao lâu. Mười phút sau, tôi lại gặp bụi đất, lại đá lổn nhổn lạo xạo. Mặt trời lên cao, tôi thấy ngột ngạt vì màu xám bạc của đường, màu vàng mờ của bụi và đất đá. Có một đoạn thi công dở, hàng loạt xe tải, xe khách và xe con xếp hàng dài chờ người ta thi công và cất biển chắn. Một bên đường đang trong giai đoạn trải ni lông và tưới nước, một đoạn rải đá dăm bạc trắng.
Mười giờ, tôi quyết định ngồi nghỉ ở một sườn đồi. Xung quanh tôi mía chất thành đống. Những cây mía còi cọc, giống như chỉ có gốc và ngọn, mà ngọn mía cong queo, màu hơi trắng như còn rất non. Tôi lấy bánh mì ra ăn. Có một anh từ trên đồi đi xuống. Anh bảo tôi: “Cứ lấy mía thoải mái, mày chở được bao nhiêu thì chở.”
Đoạn đường tiếp theo của tôi vẫn không có dấu hiệu gì sẽ yên ả. Người dân hai bên đường mang vòi ra tưới nước để đỡ bụi vào nhà, nhưng với cái nắng hanh giáp Tết, một lúc sau, đường lại khô cong. Xe cộ đi lại khá đông khiến đường càng thêm bụi. Người ta tự buộc những cây tre thành lan can tạm thời hai bên đường, những lá cờ tự chế cắm ngổn ngang báo hiệu chú ý công trường đang thi công... Xe cẩu đi qua, để lại bánh răng hằn lên con đường đất. Chẳng có nơi nào bán đồ ăn, cũng không có cửa hàng tạp hóa. Nhà cửa hai bên đóng im ỉm.
Khi lên dốc, tôi thấy một bà lão đẩy xe ba bánh. Nhìn thấy bà, nhiều người mở cửa đứng ngóng, hoặc họ ra ngoài đường đợi. Trên xe của bà có chở một khối màu trắng, đậy vải lên trên. Lúc bà dừng lại, tôi nhận ra bà bán đậu phụ. Vì không có gì ăn, cũng chẳng có gì để mua, tôi mua hai miếng đậu và ăn giữa con đường đầy bụi như ăn bánh mì. Vừa đói vừa khát, tôi cứ thế đứng bên đường, chẳng thèm dựng chân chống xe đạp, tôi cầm đậu cắn từng miếng. Đậu rất mềm và ngọt.
Đi trên đường, tôi gặp một cây xoài phủ đầy bụi. Trên cây treo những câu đối đỏ, có khoảng sáu, bảy câu đối được treo lên, và khoảng ba, bốn người đang chụm lại bình phẩm dưới bóng râm của cây xoài. Có lẽ cây xoài chính là một gian hàng tạm bán câu đối Tết. Những chiếc xe máy vụt qua, tôi nghe rõ tiếng bánh xe mài vào đá khi lăn trên đường.
Khoảng một giờ chiều, tôi tới một cái chợ nhỏ nằm giữa con đường núi vắng vẻ. Ở đây có mấy hàng hoa quả bán táo, cam, quýt. Người ta bán nhiều loại bánh nếp, bánh rán làm bằng nhiều nguyên liệu khác nhau, nặn thành nhiều hình thù khác nhau. Đám trẻ con quây quanh những hàng bánh. Có một hàng bán thứ gì giống như bánh cuốn. Mặc dù vừa mới ăn trước đó hai tiếng, tôi vẫn ghé vào hàng này.
Tôi không biết người ta có gọi món này là bánh cuốn hay không. Thay vì tráng bánh bằng những tấm vải bọc trên mặt nồi, người ta đun một nồi nước sôi lớn. Trong lúc nước vẫn sôi, một khay nhôm được thả vào trong nồi nước để nổi lên, rồi bột được đổ vào khay nhôm và đậy vung lại. Một lúc sau, khay nhôm được nhấc ra, bột bên trong đã chín thành một lớp mỏng tựa như bánh cuốn. Hành lá, mộc nhĩ được rắc vào bên trong và cuộn lại như ở Việt Nam. Cứ ba cái bánh như thế là một suất, chấm với nước tương để ăn, loại tương khá giống xì dầu.
Khoảng hai giờ chiều, tôi đi qua một thị trấn. Đây là trung tâm của một huyện, cơ sở hạ tầng khang trang, giống như một thế giới khác hẳn với nơi tôi vừa đi qua. Tôi đạp xe qua những khu nhà cao tầng, các chung cư đang xây dựng dở. Có một cái chợ tạm có rất nhiều cô bán hàng đầu đội khăn vuông, mặc quần áo theo mốt của mấy chục năm trước ngồi bán gà đựng trong những cái bu đan bằng tre. Các bu gà xếp thành hàng dài. Các cô ngồi trong nắng, gò má cao hơi ửng hồng.
Đi hết thị trấn, toàn bộ hy vọng của tôi tan biến. Một lớp bụi mù lại xuất hiện trước tầm mắt. Tôi đứng ở một ngã ba, nếu đi thẳng thì tôi sẽ tới lớp bụi. Bên trái tôi là con đường dẫn tới cao tốc thẳng ra Hữu Nghị Quan. Đã hai giờ chiều, nếu đi tiếp con đường đang làm dở, tôi sẽ phải đi qua cả một đoạn đường dài đau khổ. Nếu đi cao tốc, đường sẽ ngắn hơn, đẹp hơn, nhưng xe đạp bị cấm ở đây.
Tôi từng đạp xe trên cao tốc vì đi nhầm khi từ Vũ Hán tới Xích Bích. Lần này, quá chán nản với đoạn đường vừa bụi vừa gồ ghề, tôi rất muốn chọn phương án cao tốc. Tôi đánh liều đi xuống con đường dẫn tới trạm thu phí. Con đường này dài khoảng 2 km nhưng khi tôi còn cách trạm thu phí chừng chục mét, nhân viên bảo vệ ở đây ra hiệu tôi quay lại. Tôi nhìn con đường thẳng tắp phía trước rồi ngậm ngùi quay lại ngã ba. Đi trước tôi trên đường là một ông cụ đi xe Phượng Hoàng màu đen rất cũ, phía sau chở một cái giỏ, rau trong giỏ tràn ra ngoài. Tóc ông bạc trắng. Ông mặc một bộ quần áo của quân nhân như trong các bộ phim dân quốc. Ông miệt mài đạp xe trên con đường đầy bụi, không có vẻ gì bận tâm. Có lẽ ông rất quen với việc đi lại trên con đường này. Những tấm biển CÔNG TRƯỜNG ĐANG THI CÔNG, GIẢM TỐC ĐỘ; CÔNG TRƯỜNG ĐANG ĐI CÔNG, CẤM THÔNG HÀNH cắm khắp nơi. Người ta cấm một bên đường, tất cả mọi phương tiện dồn vào làn đường còn lại.
Đến ba giờ, tôi đi vào đoạn đường đẹp hơn. Tôi cảm giác mình đang bị đem ra làm trò đùa. Tôi chỉ được sung sướng khoảng chục phút, rồi lại gặp đường xấu. Có lẽ càng tới giai đoạn cuối, mọi chuyện càng không có gì như dự kiến. Có lẽ tôi đang trải qua những thử thách cuối cùng. Phía trước mặt tôi có cả một dàn xe tải chở đầy mía, mỗi hàng khoảng hơn chục xe. Họ đang phải dừng lại để kiểm tra hành chính.
Đến tầm khoảng năm giờ, khi đang đi, tôi gặp một cái biển rất to, bên trên viết tiếng Trung, bên dưới tiếng Việt: HOAN NGHÊNH CÁC DOANH NHÂN TRUNG VIỆT ĐẾN NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG TRUNG QUỐC CHI NHÁNH BẰNG TƯỜNG LÀM NGHIỆP VỤ THANH TOÁN. Khi nhìn thấy dòng chữ tiếng Việt này, tôi biết sắp đến Bằng Tường và tôi sắp bỏ lại đoạn đường quái quỷ phía sau. Tuy nhiên Bằng Tường thì chưa thấy đâu, trước mặt tôi đã là một con dốc khá dài ở giữa núi non trùng điệp. Đường dốc, tôi thậm chí không đủ sức để dắt bộ. Tôi nghĩ tôi sẽ tìm một cái xe tải trống nào đó để đi nhờ. Nhưng không hiểu sao, tôi không thể mở miệng, thậm chí việc đưa tay ra vẫy tôi cũng không làm được.
Đã năm giờ, tôi còn hơn 20 km nữa mới tới được Hữu Nghị Quan. Tôi rất lo sáu giờ tối người ta không làm việc nữa, nghĩa là tôi chỉ có một tiếng để đi hết 20 km. Cuối cùng, vừa dắt xe vừa đạp xe, tôi qua được con dốc, tới gần Bằng Tường hơn.
Khi đang lên một con dốc nhỏ, tôi nhìn thấy một cô đi xe địa hình đi chậm lại và hỏi chuyện. Cô mặc đồ outdoor từ đầu tới chân, tết tóc hai bên dài gần chấm lưng, kính cận dày cộp. Cô có lẽ khoảng hơn 40 tuổi. Cô giới thiệu là người Mông Cổ, vừa kết thúc hành trình đạp xe qua mấy nước Đông Nam Á, tiếp theo cô sẽ đi đến đảo Hải Nam. Theo lời cô, mùa đông ở Mông Cổ rất lạnh và chẳng có gì chơi, con cô đã tốt nghiệp và đi làm, cô chẳng còn gì phải lo lắng, chỉ việc một mình đi chơi và tìm nơi tránh rét.
Như nhớ ra điều gì, cô quay sang hỏi tôi: “Giờ này mày còn lang thang ở đây làm gì? Mày định đi đâu?” Tôi trả lời tôi đang tới Hữu Nghị Quan, không biết mấy giờ họ đóng cửa. Cô bảo tôi qua sáu giờ họ sẽ không làm việc. Đã năm giờ bốn mươi phút, còn 14 km nữa mới đến Hữu Nghị Quan. Với thời gian và quãng đường này, chắc chắn tôi không tới kịp, nhưng tôi vẫn cố đi tiếp. Tôi cứ đến đó xem thế nào, cùng lắm là đi thăm dò trước để sáng mai quay lại. Tôi đã dự định hôm nay phải qua được cửa khẩu, nên tôi muốn bằng mọi cách phải rút ngắn khoảng cách tới biên giới Việt Nam. Tôi không muốn ngủ lại địa phận Trung Quốc hôm nay.
Đường phố ở Bằng Tường khá rộng. Tôi đi qua các dãy nhà chung cư, những khu đô thị cao tầng mô phỏng kiến trúc tháp đồng hồ Big Ben ở London, mô phỏng kiến trúc châu Âu... Tôi cũng nhìn thấy những cửa hàng đồ gỗ Việt Nam có biển hiệu viết bằng cả tiếng Trung và tiếng Việt bán gỗ trắc, chu sĩ, trầm hương...
Sáu giờ tối, tôi gặp tấm biển viết bằng ba ngôn ngữ Anh-Trung-Việt: Đồng Đăng 13 km, Lạng Sơn 26 km, Hà Nội 179 km. Con đường tôi đang đi được ngăn với cao tốc bằng một hàng rào kiên cố. Trời đã tối.
Trước đây, tôi chưa từng qua biên giới và tới Bằng Tường. Những lần đón khách ở đầu Lạng Sơn, tôi chỉ đứng ở phía bên kia cửa khẩu để đón khách, chờ khách lên xe. Những lần đưa khách về, tôi chỉ đứng bên kia và giúp khách làm thủ tục. Tôi không nghĩ rằng đường từ Bằng Tường tới biên giới là đường núi. Trước đây tôi nghĩ qua biên giới sẽ là bến xe hoặc khu chợ tấp nập bán đồ của cả hai nước.
Đường từ Bằng Tường đến biên giới uốn lượn quanh núi, không hề có nhà cửa. Chỉ thỉnh thoảng có những xe taxi tận dụng từ những chiếc ô tô đời cũ đón khách dọc đường để chở qua biên giới. Nhìn những chiếc xe này, tôi lóe lên một chút hy vọng, có lẽ vẫn còn giờ làm việc nên người ta vẫn còn đi. Đã hơn sáu giờ. Tôi mệt, đường dốc, dù vội nhưng có những đoạn tôi vẫn phải xuống dắt bộ. Trong lúc nản chí, cố vớt vát tia hy vọng cuối cùng, tôi thấy có người đi bộ về phía cửa khẩu.
Tôi đã nghĩ tới phương án đêm nay trải ni lông để ngủ trên đường. Các ngôi nhà hai bên ngổn ngang cát, gạch vữa và giàn giáo. Tối mịt, tôi không muốn lại phải đạp một vòng quay lại Bằng Tường tìm chỗ ngủ. Đến sáu giờ bốn mươi, tôi nhìn thấy một đám người đứng bên cạnh những chiếc va li trên đường. Tôi đã tới Hữu Nghị Quan.
Ngay đầu cửa khẩu có một thanh chắn, bảo vệ ngồi hai bên, phía trên có tấm biển ghi BÁN VÉ THAM QUAN CỬA KHẨU. Tôi hỏi một chú bảo vệ lối để đi vào nơi làm việc, tôi cũng hỏi luôn giờ này còn làm thủ tục xuất nhập cảnh không. Chú bảo vệ còn lo lắng cho tôi hơn cả tôi. Chú gần như hét vào mặt tôi: “Nhanh lên còn kịp, bảy giờ người ta hết giờ làm việc.” Tôi chỉ kịp cảm ơn chú rồi nhảy lên xe phóng thẳng.
Khoảng cách từ cổng chỗ gặp chú bảo vệ tới nơi làm việc không hề ngắn. Trong lúc vội vàng, tôi vẫn ngoái lại nhìn cái cổng ghi dấu biên giới Việt Nam-Trung Quốc. Tôi gần như phi hẳn xe từ trong sân vào tòa nhà làm việc.
Ở khu xuất cảnh của Trung Quốc chỉ còn hai nhân viên. Một anh nhân viên nhìn hộ chiếu của tôi, bắt tôi bỏ mũ, bỏ kính, chỉnh lại trang phục, đầu tóc. Anh nhìn đi nhìn lại và lẩm bẩm: “Không giống.” Tôi bảo: “Em biết bây giờ nhìn em rất thảm nên không giống trong ảnh.” Ngay lúc ấy, có một bạn đồng nghiệp của anh qua hỏi thăm và hỏi tôi: “Mày đạp xe từ Bắc Kinh về đây hả?” Nơi cấp visa cho tôi là Bắc Kinh, trong tờ khai của tôi ghi nơi thường trú là trường tôi. Anh hỏi một câu rất ngây thơ: “Mày đi đường cao tốc à?” Anh nhân viên còn lại lườm anh: “Thế mà cũng đòi làm người Trung Quốc, cao tốc thì ai cho mày lên mà đi ?”
Tôi làm thủ tục khá nhanh gọn. Làm xong thủ tục, tôi mới để ý người ta không hề bắt tôi dỡ đồ xuống để quét an toàn. Người ta để mặc cho tôi dắt xe từ phía cửa này qua cửa đi để đi ra. Khi ra khỏi khu làm việc ở biên giới Trung Quốc, tiến về phía biên giới Việt Nam, tôi vẫn theo thói cũ, phóng xe đi vào. Tôi bị một anh bảo vệ nói tiếng Trung với tôi: “Không được như thế, mày phải dắt xe vòng qua lối kia.” Tôi xuống xe và dắt vòng qua khu làm việc.
Ở bên phía Việt Nam, tôi vừa dắt xe vào bên trong, ở quầy làm thủ tục, một chú hải quan vẫy tay từ xa ý gọi tôi tới quầy của chú. Lúc đó chỉ còn hai, ba quầy làm thủ tục. Tôi thở hổn hển. Chú nói với tôi bằng tiếng Anh, đại ý xin chào và mời đưa hộ chiếu. Tôi bảo: “Dạ, hộ chiếu của cháu đây.” Chú gần như phản xạ tự nhiên, rụt cổ lại, nhìn tôi rất kỹ: “Tao tưởng mày là Tây?”
Chú là người Việt Nam đầu tiên tôi gặp và nói chuyện. Chú không hề có sự hách dịch và quan cách như người ta vẫn thường nói về hải quan. Trước đây, khi làm thủ tục xuất cảnh cho khách ở biên giới, tôi đều kẹp vào giấy tờ một tờ hai trăm. Lần này, chú vui vẻ và trò chuyện với tôi rất nhiều. Chú hỏi bạn trai tôi đâu, tại sao lại đi một mình? Chú bảo sẽ giới thiệu mấy thằng đệ của chú cho tôi. Chú cộp cho tôi một cái dấu cùng với nụ cười rất tươi. Ngay cả bên phía Việt Nam, tôi cũng không bị kiểm tra hành lý. Mọi thủ tục chỉ xảy ra với cái hộ chiếu của tôi. Tôi hơi ngạc nhiên vì điều này.
Đây là lần thứ hai tôi đi qua cửa khẩu. Lần trước khi ngồi tàu từ Bắc Kinh tới Nam Ninh, từ Nam Ninh về Việt Nam, khi quá cảnh ở biên giới Trung Quốc, tôi phải vác hành lý xuống, qua cửa quét an toàn, rồi lại lên tàu, lại qua cửa quét an toàn phía Việt Nam, rồi lại lên tàu.
Sau khi làm thủ tục xong, tôi ra ngoài. Anh bảo vệ vừa nãy bảo tôi xuống dắt xe, khi nhìn thấy tôi lại bảo: “Nhớ nhé, lần sau không được phi xe vào như thế nhé!” Tôi quay lại bảo: “Vâng, sẽ không có lần sau nữa ạ.”
Ra khỏi khu vực hành chính của cửa khẩu, tôi đến khu tập kết xe tải của phía Việt Nam. Lúc ấy, điện thoại của tôi vẫn còn sóng Trung Quốc. Tôi tranh thủ gửi tin nhắn và đăng một status trên WeChat để thông báo với mọi người, những người đã giúp đỡ tôi, rằng tôi đã tới nơi, đã vào tới địa phận Việt Nam.
Khi đứng trên con đường tối om, chỉ có ánh sáng xe tải, tôi nghe thấy tiếng ti vi, tiếng bản tin thời sự, tiếng trò chuyện của những người bốc vác, tiếng chửi tục của những chú lái xe. Tôi thở phào nhẹ nhõm.
Tôi đã về!
Đứng trước quốc huy ở ngoài sảnh khu nhập cảnh Việt Nam, bên dưới dòng chữ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM, tôi thực sự muốn hét lên mà không dám. Tôi cho tay vào miệng cắn. Trước đây, tôi trải qua rất nhiều cung bậc cảm xúc. Tôi cứ nghĩ mình sẽ phải ở lại phía bên kia biên giới trong đêm nay, tôi sẽ không kịp làm thủ tục xuất cảnh. Nhưng cuối cùng tôi đã kịp ở đây.
Tôi gần như đã quên mất con đường đất đá lúc nãy, những đoạn phải dắt bộ, tôi bỏ lại tất cả phía sau.
Tôi còn 15 km nữa mới tới được thành phố Lạng Sơn. Đường về thành phố tối om, lúc ấy là hơn bảy giờ tối giờ Việt Nam, đèn pin yếu, thỉnh thoảng tôi hơi giật mình. Đầu óc tôi khá mông lung, nhìn những cột mốc, tôi cứ tưởng bia mộ. Đoạn đường này tôi thấy trôi qua khá nhanh, nhưng tôi vừa đói vừa mệt.
Dù mới hơn bảy giờ Việt Nam, nhưng tính chênh lệch múi giờ, đã là hơn tám giờ Trung Quốc và tôi vẫn chưa ăn gì. Trong người tôi không có một đồng tiền Việt Nam nào cả. Một năm nay tôi chưa về nhà. Số tiền Việt còn lại khi đến Bắc Kinh, như những đống polime mười ngàn, hai mươi ngàn tôi đã tặng cho những người tôi có cảm tình, hoặc những người tôi gặp. Họ tò mò về tiền Việt Nam, họ hỏi sao lại có tiền làm bằng nhựa? Trước đây, tôi cứ đinh ninh tới biên giới sẽ đổi được tiền, nhưng vì quá muộn nên tôi chẳng hy vọng gì.
Đến thành phố Lạng Sơn, việc đầu tiên tôi làm là đi tìm chỗ đổi tiền nhưng nhìn mãi chẳng có cửa hàng vàng nào cả. Không có tiền thì không ăn được, không mua sim điện thoại để gọi được. Sim điện thoại của tôi nếu không phát sinh cuộc gọi trong ba tháng thì sẽ bị khóa nên sim cũ chẳng có tác dụng gì.
Đi tới một khu nhà đối diện với chợ Kỳ Lừa, ở những cửa hàng Made in Cambodia, tôi nhìn thấy mấy cây ATM. Thời điểm đó, tôi đã rút gần hết tiền trong tài khoản, nhưng trong thẻ ngân hàng, thật may còn khoảng 80-90 tệ, vì còn số dư mà tôi không rút ra hết được. Tôi rút được 200 ngàn tiền Việt.
Tôi đi theo trí nhớ đến một quán ăn bình dân ở ngã tư, bên trên một con dốc. Đây là quán ăn tôi hay tới ngày trước mỗi khi tới Lạng Sơn. Tôi ăn tối hết 50 ngàn, mua sim 50 ngàn, nạp thẻ 50 ngàn.
Nạp thẻ xong, tôi ngồi gọi điện. Rồi chỉ kịp thông báo cho bố mẹ và gọi cho chị họ tôi để chị tìm chỗ ngủ cho tôi. Chi nhánh văn phòng du lịch công ty chị ở trên đường Trần Đăng Ninh, thành phố Lạng Sơn. Tôi cũng gọi cho đứa bạn thân của tôi có dì ở Lạng Sơn. Trước đây hai chúng tôi từng tới nhà dì chơi mấy hôm. Chỉ từng ấy cuộc gọi là hết tiền điện thoại. Tôi loay hoay bật 3G nhưng không được. Tôi đã quên mất cách dùng 3G ở Việt Nam. Thông thường, ở Trung Quốc, chỉ cần mua sim và bật 3G. Tôi không biết cách đăng ký 3G ở Việt Nam. Hồi còn ở nhà, tôi không có smatphone để dùng nên cũng không biết cách. Lúc này, tôi cứ thắc mắc tại sao bật 3G, khởi động lại điện thoại rồi mà không thể lên mạng, không thể nhắn tin cho ai.
Một lúc sau, chị tôi gọi điện thoại báo là người cầm chìa khóa văn phòng lại không ở Lạng Sơn. Tôi bảo chị là tôi sẽ tìm tạm một chỗ nghỉ nào đó trong lúc chị tìm thêm. Tối hôm đó, gần như tôi huy động mọi mối quan hệ của mọi người, từ bạn của em họ, tới bạn của bạn của chị gái tôi. Mọi người tán loạn vì sợ tôi không chỗ ngủ, vì sợ tôi chỉ còn 50 ngàn tiền Việt trong túi, không đủ thuê nhà nghỉ. Tôi vẫn còn nhân dân tệ nhưng không có chỗ để đổi.
Tôi lang thang trên đường. Trời lạnh nhưng tôi rất muốn ăn kem. Tôi mua tạm một hộp sữa chua cứng ăn tạm. Tôi rất thích cảm giác ăn kem mùa đông. Tôi đứng ở vỉa hè ăn hộp sữa chua thì bạn tôi gọi điện, thông báo rằng bạn đã liên hệ xong xuôi. Tôi chỉ nhớ láng máng đường tới nhà dì của bạn, vì cũng hai năm rồi tôi chưa ghé qua.
Lúc tôi dừng ở cổng và gọi cửa, dì ra mở cửa và hét ầm lên: “Trời ơi sao mày nhanh thế? Nó vừa gọi điện cơ mà?”
Dù xét theo vai vế, đây là dì của bạn tôi nhưng chỉ hơn bọn tôi vài tuổi. Nhà bà ngoại bạn tôi rất đông con, dì là con út. Chồng dì làm hải quan ở cửa khẩu Tân Thanh, dì không đi làm mà ở nhà với con trai 5 tuổi, quản lý một cửa hàng nhỏ chuyên về gội đầu và chăm sóc da mặt. Con trai của dì cứ quấn lấy tôi bắt chơi với nó. Dì thậm chí còn phải quát nó tránh xa tôi ra để tôi đi tắm.
Khi đi tắm, tôi nhìn vào trong gương. Lông mi, lông mày, tóc tôi như được nhuộm vàng. Khi rửa mặt, tôi nhìn bọt sữa rửa mặt biến thành màu đất như vừa giặt một cái áo bẩn.
Lúc tôi xuống dưới, dì đã chuẩn bị xong đồ ăn. Hình như hôm nay là cúng ông Công ông Táo, tôi được hưởng lộc luôn. Lúc ấy quá bữa, có thể do tôi quá mệt, nên tôi không thấy đói. Dì thì cứ dồn hết món này đến món kia vào bát tôi.
Trong lúc tôi ăn, dì chuẩn bị sẵn đệm sưởi, dọn phòng cho tôi.