
Bảo Định - Thạch Gia Trang: 156 km
Ngày thứ hai: 27/12/2013
Câu chuyện của Tiểu Vương làm tôi củng cố thêm niềm tin: cứ đi là đến. Tôi tin rằng chỉ cần can đảm bước chân đi thì đã thành công tới 50%, còn nếu cứ lần khân, tìm kiếm lý do thì chẳng bao giờ đi được.
Tôi nghĩ có lẽ vì người ta nhìn thế giới bằng con mắt “nguy hiểm” nên thế giới thực sự nguy hiểm. Nếu tôi chỉ ngồi nhà và nói rằng chuyện đi lại rất đáng sợ, mọi người không đáng tin cậy... chắc chắn tôi đã không thể mắt thấy tai nghe nhiều chuyện và càng không thể kết luận được điều gì.
Cho tới giờ, tôi chưa gặp chuyện “nguy hiểm” nào. Tôi vẫn chưa dám kết luận, nhưng có thể cũng giống Tiểu Vương, tôi ngây thơ và thành thật với tất cả mọi người nên những người xấu không nỡ làm hại tôi, hoặc họ đối xử với tôi theo cách không quá phức tạp.
Sáu giờ rưỡi, tôi tỉnh giấc. Mọi người trong phòng vẫn đang ngủ. Toàn thân tôi ê ẩm, nhấc chân lên cũng khó. Phải mất một tiếng sau tôi mới trèo xuống được khỏi giường tầng để vệ sinh cá nhân và dọn đồ. Tôi không muốn gây ra bất cứ tiếng động nào cho mọi người.
Bảy giờ rưỡi. Tôi thu xếp đồ đạc, nhìn lại cả căn phòng. Tiểu Vương đã ngóc đầu dậy và trách tôi không gọi. Thật ra, báo thức của Tiểu Vương đã kêu hai lần nhưng cô bé vẫn không thể nào dậy nổi. Mặt Tiểu Vương nhìn rất buồn cười. Trước khi đi ngủ, em đắp mặt nạ và chưa kịp rửa, tóc em dựng đứng lên. Tiểu Vương vội vàng mặc quần áo, không kịp đánh răng rửa mặt mà tiễn tôi xuống đường.
Tiểu Vương nằng nặc đòi dẫn tôi đi ăn sáng rồi mới về. Cô bé đưa tôi tới con phố hôm qua. Lúc đó còn sớm, nhưng mọi người đã lục tục lên phòng học. Tiểu Vương mua ba cái bánh kẹp thịt, em ăn một cái rồi đưa cho tôi hai cái. Hai đứa ngồi bên vệ đường vừa ăn bánh vừa uống sữa đậu nành. Tiểu Vương hớn hở khoe với anh chủ cửa hàng rằng tôi là người Việt Nam, rằng tôi chuẩn bị đạp xe về Hà Nội. Anh chủ nhìn tôi không chớp mắt, liên tục hỏi: “Thật á? Em có bị làm sao không? Hai cái bánh có đủ không?”
Ăn xong, Tiểu Vương lại tranh trả tiền cho tôi. Em hỏi đi hỏi lại tôi có cần ăn gì nữa không. Tôi đuổi Tiểu Vương về ngủ tiếp. Cô bé sợ tôi không biết đường nên chỉ cho tôi tới đâu thì rẽ trái, tới đâu thì rẽ phải... phức tạp gấp vài lần so với việc tôi nhìn bản đồ.
Chia tay Tiểu Vương, tôi ra cổng trường tìm đường ra quốc lộ. Buổi sáng trời khá lạnh. Hơi thở từ mũi tôi phả ra trông như khói thuốc lào. Đoạn đường tôi đi là vành đai ba phía Đông ngoại thành, đường đang làm, bụi mù mịt. Guồng chân theo chỉ dẫn trên bản đồ, ban đầu tôi đi được 26 kmgiờ, rồi giảm dần xuống 18, 19, rồi tôi nhìn đồng hồ và lại cố để kéo tốc độ lên 20 km. Khi đi trên đường, tôi chỉ có hai thứ để nhìn ngắm: một là cảnh trước mặt, hai là đồng hồ tốc độ.
Đang đi, tôi nhìn thấy một bạn đang dừng lại trên đường xem điện thoại, hành lý lỉnh kỉnh, lại chằng cả một cây đàn guitar phía sau. Nom bạn nam này có vẻ khá dị nên tôi không dừng lại bắt chuyện. Một lúc sau, tôi dừng lại nghỉ, tranh thủ chỉnh lại đồng hồ, người bạn này đuổi theo và hỏi: “Đi đâu đấy?”
Hóa ra tôi và cậu ta sẽ đi cùng một đoạn đường. Cậu bạn tên Lôi Huy, đang trên hành trình đạp xe 1.000 km từ Thiên Tân về Hà Nam. Chúng tôi đi song song với nhau và chuyện gẫu. Được một lúc, Lôi Huy bắt đầu nghi ngờ về giọng tiếng Trung của tôi.
Theo tôi quan sát, tiếng Trung của người Việt Nam dù có chuẩn đến mức nào cũng chỉ dừng ở mức giống người phương Nam của Trung Quốc. Tiếng phổ thông lấy giọng Bắc Kinh làm chuẩn, giọng của người phương Bắc phát âm từ trong họng và khá nặng. Giọng miền Nam hoặc giọng Đài Loan thì nhẹ và ít cần hơi. Bình thường, người khác nghe tôi nói sẽ nghĩ tôi là người Quảng Tây hoặc Quảng Đông.
Thỉnh thoảng tôi bị “lộ” vì bị lẫn giữa thanh một và thanh bốn. Cách phát âm của tôi không chính xác lắm, gần như thanh huyền và thanh ngang không rõ ràng, tôi biết nhưng không sửa được. Mỗi từ sẽ có một phiên âm khác nhau, một vài từ hay dùng tôi sẽ nhớ và sửa nhưng khi nói nhanh hơn thì tôi lại quên.
Lôi Huy đeo kính cận dày cộp, tóc chôm chôm dựng đứng. Mặt và giọng nói của cậu khá đặc biệt, rất giống Đồng Đại Vĩ trong phim Những giấc mơ Mỹ ở Trung Hoa *. Lôi Huy sinh năm 1993, đang học năm cuối ngành Thương mại quốc tế tại một trường đại học ở Thiên Tân. Quê Lôi Huy ở Hà Nam nhưng bố mẹ cậu làm việc ở khu cảng Thiên Tân, chuyên về xuất nhập khẩu, vận tải đường biển. Lôi Huy từng tới Hải Phòng và làm thủ tục xuất cảng ở đó. Cậu cũng từng đưa hối lộ cho hải quan Việt Nam.
Lôi Huy hỏi quê quán của tôi, cứ hỏi đi hỏi lại như không tin rằng tại sao một đứa Việt Nam lại lang thang trên đường như thế này. Mặt Lôi Huy bỗng nghệt ra như chợt nghĩ tới điều gì. Cậu ta bảo tôi: “Đừng nói với em rằng chị đạp xe về Việt Nam đấy nhé!”
Tôi chẳng biết nói gì. Tôi bảo: “Chị cũng như mày, cũng đạp xe về quê thôi.”
Chuyến đi của Lôi Huy cả gia đình đều biết. Bố mẹ cậu ban đầu phản đối nhưng Lôi Huy vẫn quyết tâm lên đường. Ngày nào bố mẹ cậu cũng gọi điện hỏi thăm.
Đi với Lôi Huy, tôi vẫn giữ tốc độ bình thường, nhưng cậu ta thì cứ dần tụt lại phía sau, rồi lại gắng sức đạp đuổi theo. Tôi không thể đi cùng tốc độ với Lôi Huy, vì đoạn đường trước mặt của tôi dài 156 km, nếu đạp chậm hơn, tôi sẽ không tới kịp Thạch Gia Trang. Hơn nữa, tôi đã hẹn sẵn với chủ nhà thời gian đến, còn Lôi Huy mệt lúc nào nghỉ lúc ấy, ngủ dậy lúc nào đi cũng được. Một ngày Lôi Huy chỉ đi được 120 km. Lôi Huy biết điều này, nhưng cậu vẫn cố đi cùng tôi, vì như thế cậu ta sẽ đi được nhanh hơn.
Mải miết đuổi theo tôi khiến Lôi Huy khá mệt và bỏ lỡ nhiều thứ trên đường. Tôi đoán có lẽ do tôi luyện tập từ trước nên quen. Khi luyện tập, tôi nâng dần tốc độ của mình, đầu tiên chỉ 15 kmgiờ, về sau tôi đạp được 18-19 kmgiờ, sau đó là 20 km, tùy thuộc vào điều kiện sức khỏe.
Khi vừa ăn xong tôi đạp nhanh hơn, còn lúc đói và mệt thì tôi chẳng thiết nhìn đồng hồ.
Khoảng hơn mười hai giờ, tôi vẫn đi trước và Lôi Huy vẫn đi sau, rồi cậu lại vọt lên và hỏi về bữa trưa. Chúng tôi tìm mãi mới được một quán cơm bình dân. Hai đứa tấp vào quán.
Đây là một quán ăn sơ sài, chỉ có hai bàn tròn rất to, ngồi được khoảng mười người một bàn. Lúc tôi vào, quán không có khách, chỉ có hai ông bà chủ ngồi xem ti vi. Bà chủ quán có vẻ ngoài phốp pháp và giọng nói to đặc trưng của người phương Bắc. Ông chủ quán gầy, nhỏ, khoảng hơn 40 tuổi.
Vừa ngồi xuống, ông chủ đã ra hỏi thăm chúng tôi đạp xe đi đâu. Tôi không nói gì về mình, chỉ có Lôi Huy kể lể. Ông chủ nói thêm rằng vào mùa hè, trên tuyến đường này hầu như ngày nào cũng có những đoàn đạp xe từ Bắc vào Nam, nhưng mùa đông thì ông chưa gặp bao giờ.
Lôi Huy ngồi xuống rút bao thuốc ra mời ông chủ và mời cả tôi, rồi tỏ ra ngạc nhiên khi tôi không hút thuốc. Lôi Huy nhận xét rằng con gái đi phượt thường hút thuốc. Tôi biết một chị gái rất hiền, chị bảo tôi rằng hút thuốc là một cách để ngụy trang. Khi chị ra ngoài một mình và hút thuốc, người ta sẽ có cảm giác chị không dễ đụng vào.
Tôi có hút thuốc một vài lần, khi tâm trạng cực kỳ tệ. Tôi hút điếu thuốc đầu tiên khi đắn đo xem có nên đi du học hay không. Lúc đó tôi trọ ở một phòng tầng năm. Tôi ngồi trong phòng suy nghĩ, vừa mông lung vừa bế tắc, rồi tôi xuống tầng một và mua một bao thuốc Hàn Quốc mùi bạc hà dành cho nữ. Tôi hút liền một lúc ba điếu và quyết định sẽ lên đường.
Tôi không có phản ứng nào với điếu thuốc. Có lẽ tôi cần một cái gì đó giúp tôi suy nghĩ kỹ hơn. Chuyện hút thuốc với tôi lúc đó là một việc điên rồ bất kỳ mà tôi muốn làm để thoát khỏi mâu thuẫn bên trong. Chẳng có gì liên quan tới việc hút thuốc, nhưng hút xong ba điếu, tôi cảm thấy ổn hơn rất nhiều, tôi cảm thấy được giải thoát.
Lúc đó tôi muốn chạy trốn, chạy trốn lề thói thông thường, con đường thông thường. Trước khi đi du học, tôi làm trợ lý giám đốc ở bộ phận kho cho một công ty Trung Quốc. Hôm ấy là buổi sáng thứ Sáu, tôi tỉnh dậy và thấy trời mưa. Tôi gọi điện cho sếp xin nghỉ. Ông sếp nghĩ tôi mệt nên muốn nghỉ vài ngày. Tôi nói rằng tôi nghỉ hẳn.
Dù mới làm việc được 5 ngày nhưng sếp rất quý tôi. Ông dạy tôi nhiều điều, tỉ mỉ, chu đáo như dạy con cái trong nhà. Tôi chỉ phải tăng ca rất nhiều, sếp ở lại làm việc thì tôi cũng phải ở lại theo, ngày nào cũng chín, mười giờ tối tôi mới về nhà. Công ty tôi làm nằm ở khu công nghiệp Thường Tín, Hà Nội. Sáu giờ sáng tôi phải ra khỏi nhà để đi ô tô đến chỗ làm, từ thứ Hai tới thứ Bảy.
Mặc dù vậy, tôi vẫn cảm thấy tất cả những mệt mỏi, buồn chán đều là một món quà. Nhờ chúng mà con người tôi thay đổi, và đời sống của tôi cũng thay đổi. Ông sếp nói với tôi: “Cứ nghỉ ngơi một thời gian, khi nào nghỉ xong thì bảo chú.” Nhưng tôi không nghỉ ngơi mà đi du học.
Ở quán ăn, tôi và Lôi Huy chỉ gọi ba món - một canh, một rau, một món mặn. Không hiểu do hai đứa ăn ít hay ông bà chủ thương tình mà đồ ăn còn thừa rất nhiều. Ông chủ quay sang nói với tôi: “Mày không phải là bạn gái của nó đúng không? Nhìn hai đứa không giống.” Lôi Huy nói: “Chị này là người Việt Nam đấy, và chú không đoán được chị ấy đang làm gì đâu. Chị ấy đang đi từ Bắc Kinh về Việt Nam đấy.”
Nghe xong, có vẻ ông chủ chỉ kịp “tiêu hóa” vế đầu tiên: tôi là người Việt Nam. Ông hỏi tôi: “Việt Nam à? Có phải người Việt Nam hay vượt biên sang Trung Quốc lấy chồng phải không?”
Tôi bị người Trung Quốc hỏi rất nhiều về chuyện phụ nữ Việt sang đây lấy chồng. Một số câu hỏi thường gặp là: “Lấy một cô vợ Việt Nam rất rẻ phải không? Khoảng bao nhiêu? Mày có thể giới thiệu cho tao một cô không?” Lúc ấy, tôi chỉ trả lời rằng vấn đề này tôi không quan tâm lắm, và họ dùng từ không đúng rồi, “sao lại là mua?” Nhưng trong đầu, tôi biết chỉ mất khoảng trăm triệu là có một cô vợ Việt Nam.
Thông thường tôi sẽ hỏi lại: “Mày nghe ở đâu mà nghĩ thế?” Họ sẽ trả lời: “Ở mấy trang quảng cáo môi giới ở Trung Quốc.”
Những trang quảng cáo này được thiết kế rất giống các trang mua hàng online. Trên website, người ta đăng ảnh của từng cô gái, thông thường các cô sẽ mặc áo dài. Nhìn thoáng qua cũng có thể thấy tất cả ảnh chụp ở cùng một nơi, có lẽ là ở công ty môi giới hôn nhân. Khi click vào tấm ảnh, các thông tin cá nhân của cô gái trong ảnh như số đo, chiều cao... sẽ hiện ra. Ảnh là thật, không phải của các hotgirl Việt Nam.
Nhìn ảnh, tôi đoán các cô gái đến từ nông thôn, phần nhiều là các nhân viên gội đầu - họ ăn mặc hở hang, trang điểm đậm, tóc nhuộm màu, uốn xoăn, mặc áo cúp ngực hoặc hai dây. Thông thường họ sẽ giới thiệu tên, tuổi, quê quán, tự đánh giá tính cách bản thân, và họ hy vọng tìm được người như thế nào. Có lẽ những điều sau là do người môi giới tự viết hoặc tự biên tập. Thông thường các cô gái sẽ viết về mình: chăm chỉ, có thể làm việc nhà... Các cô nhấn mạnh vào những đặc điểm nổi bật của người phụ nữ Việt Nam: cần cù, chăm chỉ, chịu khó, yêu thương chồng con...
Tôi cũng nhìn thấy ảnh của cả những người đã đi học đại học hoặc đi làm công sở, vì nhìn khí chất của họ khác hẳn những người còn lại. Tôi không hiểu thông tin họ tiết lộ có phải là thật không, tại sao họ lại đăng ảnh ở đây.
Tôi từng xem một vài trang, trên đó những người môi giới cam kết đủ kiểu, ví dụ khách hàng có thể chọn các cô gái cho đến khi ưng ý thì thôi, không mất tiền đặt cọc. Trên những trang web đó cũng đăng một vài trường hợp môi giới hôn nhân thành công và những cặp đôi đang sống hạnh phúc.
Khi bị hỏi quá nhiều về vấn đề này, tôi cảm thấy bực mình, rồi sau đó là tức giận. Vì tôi cũng là con gái Việt Nam. Tôi bức xúc với thái độ của đàn ông Trung Quốc dành cho phụ nữ Việt. Tôi cũng thấy tức giận khi đọc về những giấc mộng lấy chồng nước ngoài để đổi lại một khoản tiền nào đó. Tôi không thật sự biết rõ, nhưng tôi từng đọc thấy rằng đàn ông Trung Quốc khi lấy vợ Việt Nam sẽ đưa cho bố mẹ vợ một khoản tiền khoảng ba chục triệu*.
Khi người đàn ông Trung Quốc chọn một cô gái và xác định sẽ lấy cô ta, cô gái người Việt sẽ được học ba tháng tiếng Trung để biết giao tiếp cơ bản, sau đó sẽ được làm các thủ tục kết hôn. Đôi khi quá trình này bị cắt ngắn đi. Tôi không biết họ sẽ giao tiếp với nhau trong cuộc sống bình thường như thế nào. Trong môi trường xa lạ, hoàn toàn không biết tiếng Trung, tôi không biết người phụ nữ sẽ làm thế nào để vun vén gia đình. Với một cô vợ “mua được”, tôi cũng không chắc người chồng có trân trọng hay không*.
Cô hàng xóm nhà tôi ở quê từng bị lừa bán sang Trung Quốc từ khi 20 tuổi. Bây giờ cô đã ngoài 50. Cô bị lừa bán sang khu miền núi Quảng Tây. Mãi mười năm sau cô mới liên lạc được về nhà. Cô lấy chồng, sau đó chồng qua đời, cô lấy anh trai của chồng - một người hơn cô rất nhiều tuổi. Cô sinh được ba người con gái, gửi bé út về nhà cho ông bà nuôi, cô nuôi hai đứa còn lại. Cuộc sống của cô rất khó khăn, nhưng cô không về quê, có thể vì hai con không nói được tiếng Việt, hoặc có thể do về quê cô sẽ cảm thấy xấu hổ...
Tôi vẫn nhớ, hồi tôi còn nhỏ, cô có về thăm quê một lần. Theo như lời kể của cô, số phận cô vẫn may mắn và hạnh phúc. Ở Quảng Tây, cô có quen một vài người, trong đó có một cô lấy một trong ba anh em trai nhưng cuối cùng trở thành vợ của cả ba người, vì hai người còn lại không đủ điều kiện để lấy vợ. Từ đó đến nay, tôi chưa gặp lại cô hàng xóm nhưng cô vẫn gọi điện về nhà. Bé út của cô giờ đã học lớp chín. Em bé mặc cảm về việc có bố là người Trung Quốc.
Các trường hợp vợ Việt lấy chồng Trung Quốc hạnh phúc cũng được đăng trên các trang báo mạng. Tôi đoán được một phần lý do họ hạnh phúc. Đàn ông Trung Quốc rất biết cách chăm sóc phụ nữ. Họ làm việc nhà, họ biết nấu ăn. Khi đi ngoài đường, tôi nhìn thấy rất nhiều bạn trai Trung Quốc xách túi cho bạn gái, hoặc làm tất cả mọi việc từ nhỏ đến lớn mà họ nghĩ là “thiên chức của đàn ông”. Họ rất chiều vợ. Nhiều người Trung Quốc hỏi tôi: Có phải đàn ông Việt Nam chỉ việc đi làm về, rồi vào các quán uống bia, sau đó về nhà ăn, trong khi vợ họ sẽ tan sở, đi đón con, đi chợ trên đường về, nấu cơm và đợi chồng về ăn? Họ nhận xét với tôi rằng nếu thế thật thì vợ Việt quả là lý tưởng, họ muốn đến Việt Nam để cảm nhận.
Một số người Trung Quốc tôi gặp cảm thấy bất bình thay cho phụ nữ Việt Nam. Có rất nhiều người nói đùa rằng “tao phải đến Việt Nam và kiếm một cô vợ mới được”. Thông thường, tôi trả lời rằng quan điểm mới ở Việt Nam bây giờ tiến bộ hơn rất nhiều, việc trong gia đình đôi khi vẫn được san sẻ giữa hai người với nhau, không phải phụ nữ gánh vác tất cả. Tuy vậy, tôi không phủ nhận sức chịu đựng cũng như rất nhiều đặc điểm khác của phụ nữ Việt Nam.
Báo chí Trung Quốc nói nhiều về chuyện môi giới hôn nhân giữa đàn ông Trung Quốc với phụ nữ Việt. Họ chỉ ra một sự thật rằng những người đi qua các công ty môi giới thường có thu nhập thấp, trình độ văn hóa không cao, không có khả năng kinh tế cũng như không đủ tự tin để lấy vợ người Trung Quốc, nên họ tìm đến phụ nữ Việt Nam, Myanmar... để không phải chi trả nhiều. Báo chí cũng chỉ ra rằng hôn nhân mà không qua tìm hiểu cụ thể, chỉ thông qua tiền, qua người môi giới... là chưa đầy đủ thông tin về đối tượng, cũng như về sự phù hợp trong cuộc sống sau này. Báo chí Trung Quốc cũng lên án cách quảng cáo của các trang mạng.
Ở Trung Quốc có ngày lễ Độc thân là ngày 11/11. Đây là ngày kích cầu hằng năm của người Trung Quốc. Tất cả các trang thương mại điện tử đều giảm giá. Các trang mạng quảng cáo rất rầm rộ, rằng nếu bạn còn độc thân thì hãy thế này thế kia, thậm chí họ tổ chức giảm giá dịch vụ môi giới hôn nhân với phụ nữ Việt.
Hỏi chuyện tôi một lúc, ông chủ quán mới kịp hiểu đến vế tiếp theo trong câu nói của Lôi Huy: Tôi đạp xe từ Bắc Kinh về Hà Nội. Ông bảo tôi: “Chuyến đi này không lên ti vi hơi phí. Khi nào lên ti vi nhớ nhắc đến quán này.” Nghe ông nói, tôi chỉ cười: “Cháu mới đi được đến hôm nay là ngày thứ hai mà.”
Sau khi ăn xong, Lôi Huy tranh trả tiền cho tôi. Hôm trước tôi tiêu hết 15 tệ, còn hôm nay tôi chưa tiêu đồng nào. Tôi định chia nửa số tiền nhưng Lôi Huy khăng khăng đòi trả. Chú chủ quán cũng cho rằng con trai thì phải trả tiền. Ăn xong, chúng tôi trao đổi số điện thoại và tôi lên xe đi tiếp.
Buổi trưa, đường quốc lộ rất đông xe tải, mỗi lần xe chạy qua tôi đều cuốn lên một cơn lốc bụi nho nhỏ. Cảnh vật bên đường như một bức vẽ sơ sài, chỉ toàn những quán ăn hoặc các ga ra ô tô nối tiếp nhau.
Tôi vừa đi vừa nghĩ về chị chủ nhà sẽ cho tôi ngủ nhờ hôm nay. Chị Nguyệt là luật sư, sinh năm 1985. Tôi mới nói chuyện trên mạng với chị hai lần. Tôi đoán chị khá khó tính, vì ngay lần đầu tiên nói chuyện tôi đã bị chị vặn vẹo về cách chào hỏi và cách đặt vấn đề. Chị bảo tôi chưa đủ tư cách nói chuyện với chị do không có giấy tờ chứng minh. Tôi gửi ảnh chụp hộ chiếu cho chị, chị bảo: “Không có tiếng Trung thì làm sao chị đọc được?” Những nội dung trao đổi giữa tôi và chị Nguyệt ngắn gọn, hỏi gì đáp nấy, rất tập trung. Tôi khá lo lắng, không biết khi gặp chị không khí sẽ căng thẳng, nặng nề đến mức nào.
Hôm nay là thứ Sáu. Sáng thứ Bảy chị Nguyệt phải về quê thăm con nên sáu giờ sáng chị đã ra khỏi nhà, tức là lúc đó tôi cũng phải ra khỏi nhà theo chị. Chị bảo tôi: “Nếu cảm thấy ổn thì đến, còn không thì liên hệ người khác.” Theo tính toán của tôi, khoảng cách từ Thạch Gia Trang đến Hàm Đan là 172 km, nếu tôi xuất phát từ sáu giờ sáng thì vừa kịp.
Tôi không định tìm ai khác xin ở nhờ vì chị Nguyệt đã nhận lời giúp tôi. Cả ngày hôm nay tôi nhắn tin nhưng chị Nguyệt không trả lời. Cảm thấy khá bất ổn, tôi đã nghĩ đến phương án tìm nhà nghỉ.
Con đường vẫn bụi mù mịt, không chỉ vì đây là đường quốc lộ, mà còn vì bây giờ là mùa đông. Ở Trung Quốc, nhất là những vùng gần Bắc Kinh, tình trạng ô nhiễm rất nặng nề. Vào mùa đông, trời mù mịt, gần như không nhìn thấy mặt trời. Chỉ khi có gió, trời sẽ trong hơn, nhưng sẽ có hiện tượng bụi mờ như sương*.
Khi ở Bắc Kinh, tôi thấy người ta bán nhiều các lon đựng không khí sạch. Bản tin dự báo thời tiết mỗi ngày đều có thông báo về tình trạng ô nhiễm không khí ở ba mức nhẹ, trung bình và nặng. Nếu tình trạng ô nhiễm nặng thì người già và trẻ em không nên ra ngoài, đặc biệt là lúc sáng sớm và chiều tối. Khi ấy, khẩu trang lọc khí đang gây sốt, khi đeo vào nhìn mọi người như đang đeo mặt nạ phòng độc. Mặc dù vậy, tôi vẫn chỉ đeo khẩu trang y tế khi ra ngoài.
Có những ngày ô nhiễm nặng, ở những nơi đông đúc như bến xe buýt, tàu điện ngầm, tôi nhìn thấy hàng loạt người đeo khẩu trang như đang có bệnh dịch. Phần lớn tình trạng này xảy ra ở miền Bắc, đặc biệt là vào mùa đông và đầu xuân. Người Trung Quốc thường nói đùa rằng tuổi thọ trung bình ở Bắc Kinh sẽ không quá 40. Tôi không biết, nhưng ở Bắc Kinh vẫn rất đông dân, tiền thuê nhà vẫn rất cao*.
Khi tôi đến Thạch Gia Trang - nơi này cách Bắc Kinh 300 km - vẫn có hiện tượng này. Không khí nhiều bụi bẩn tới mức áo gió của tôi ban đầu màu xanh, đến ngày thứ hai đã ngả thành màu cháo lòng. Ban đầu tôi còn lấy giấy ướt để lau áo, nhưng sau đó tôi mặc kệ.
Suốt cả buổi chiều, tôi đạp xe theo quán tính. Từ lúc lên đường, ngày nào của tôi cũng giống nhau: sáng dậy đón bình minh, đạp xe cùng mặt trời, buổi chiều hoàng hôn, tôi đạp xe tiễn mặt trời, chỉ như thế là hết một ngày. Lần này, có lẽ do tôi mệt và do quốc lộ không có đèn đường nên tôi đạp xe khá chậm. Tôi vào thành phố lúc bảy giờ tối, bản đồ trên điện thoại báo rằng tôi còn cách nhà chị Nguyệt 8 km. Đúng lúc ấy thì chị Nguyệt nhắn tin hỏi tôi đang ở đâu.
Nhận được tin nhắn, tôi bắt đầu cuống. Tôi hẹn chị sáu, bảy giờ tối sẽ có mặt, mà tôi phải đi 8 km nữa mới tới nhà chị. Mặc dù vậy, những tin nhắn chị Nguyệt gửi cho tôi nghe rất dịu dàng. Chị dặn tôi đi cẩn thận, đi chậm, chú ý an toàn. Trời tối, tôi bị lạc, đi lòng vòng, quãng đường chỉ 8 km nhưng tận tám giờ tối tôi mới tới nơi.
Chị Nguyệt đã đợi sẵn tôi ở tầng một. Nhìn chị khá trẻ so với tuổi. Chị chỉ mặc bộ quần áo hoa ở nhà, khoác bên ngoài một chiếc áo măng tô, đi bốt. Vừa nhìn thấy tôi, chị nói liên tục. Chị hỏi thăm tôi đi có mệt không, làm thế nào tôi tìm được đường tới đây... Mọi lo lắng của tôi tan biến hết.
Chồng chị Nguyệt cũng đợi ở nhà. Anh rót nước và kéo ghế mời tôi ngồi trong lúc chị Nguyệt vào bếp hâm nóng lại đồ ăn. Chị Nguyệt rất áy náy vì chị quá bận nên không nhớ đã hẹn tôi. Lúc tôi nhắn tin thì chị đang họp. Nhưng với tôi lúc này, các chuyện ấy có quan trọng gì.
Chị Nguyệt bưng ra rất nhiều đồ ăn, có cơm rang, cháo, các món xào... Hai anh chị đã ăn cơm trước, tất cả những món này là làm riêng cho tôi. Cứ một lát, chị Nguyệt lại vào tủ lạnh lấy thêm cam, táo, hồng để tôi ăn. Có lẽ chị nghĩ tôi đạp xe cả ngày thì tốn rất nhiều sức, bây giờ là lúc để bù lại. Chị hỏi tôi rất nhiều, về chuyện tôi đã đi đâu, ở đâu ở Trung Quốc, chị hỏi tôi cả về Việt Nam...
Thực ra tôi rất mệt. Trước khi tới nơi, tôi vừa đói, vừa khát, tôi phải cố gắng đến từng giọt sức lực cuối cùng, nhưng vừa bước vào nhà, tôi như được hồi sức. Trong nhà quá ấm vì lò sưởi trục trặc, tôi vừa ngồi xuống đã toát mồ hôi.
Nhà của vợ chồng chị Nguyệt khá đơn giản. Phòng khách có một bộ bàn ghế salon, một bàn ăn, không có ti vi. Có lẽ hai anh chị mới mua được căn nhà này, đồ đạc chưa kịp sắm hết. Căn hộ có hai phòng ngủ và một phòng đọc sách. Phòng đọc sách có kê thêm một giường cá nhân, thông thường sẽ cho người ở nhờ ngủ ở đó.
Thời gian trò chuyện khá ngắn, chỉ khoảng hơn ba giờ đồng hồ, nên tôi không biết được nhiều về anh chị. Cả hai đều không phải là người ở Thạch Gia Trang. Vợ chồng chị Nguyệt cho ở nhờ từ năm 2009, không chỉ qua các trang web của Trung Quốc mà qua cả Couchsurfing. Qua từng ấy thời gian cho ở nhờ, anh chị đã gặp đủ các loại người, có tốt, có xấu, có nhiều người vô ý thức, nhưng anh chị vẫn sẽ tiếp tục, vì họ được nghe nhiều câu chuyện, gặp được nhiều người khác nhau. Khi đi chơi, những người bạn này đều đón tiếp anh chị nhiệt tình, và điều quý giá nhất với anh chị là những mối duyên gặp gỡ sau này để cùng nhau ôn lại kỷ niệm và chứng kiến những thay đổi của nhau...
Chồng chị Nguyệt có lẽ là một người khuyết tật. Anh chỉ cao khoảng một mét sáu, tay ngắn hơn bình thường, nhưng trán rất cao. Anh chị là bạn học cùng đại học, họ yêu nhau khi còn học trong trường. Hai anh chị có một bé gái, nhưng em bé được gửi về quê sống với ông bà, chỉ cuối tuần anh chị mới sắp xếp về thăm con.
Chuyện gửi con về quê để ông bà nuôi khá phổ biến ở Trung Quốc. Các cặp vợ chồng sẽ gửi con về quê đến một độ tuổi nào đó, trong lúc ấy, bố mẹ sẽ chăm chỉ làm lụng để tích lũy tiền. Chị Nguyệt vừa đi làm vừa học Thạc sĩ Luật, anh chị cũng mới mua nhà mất một khoản tiền không nhỏ. Họ muốn dành những điều tốt đẹp nhất cho con. Đây là giai đoạn chuẩn bị. Em bé chưa đến tuổi đi học nên họ gửi tạm về cho ông bà nuôi, sau một thời gian, hai người sẽ phấn đấu để mang em bé về thành phố. Một gia đình trí thức như vợ chồng chị Nguyệt còn phải làm thế, tôi không biết những người nghèo hơn thì thu xếp thế nào.
Tôi từng xem một chương trình trên truyền hình có tên là Biến hình kê*. Một đứa bé ngoan ngoãn ở nông thôn nhưng có gia cảnh éo le và một đứa bé khá nghịch ngợm, khó dạy ở thành phố sẽ đổi chỗ cho nhau. Tùy độ cứng đầu của đứa bé thành phố, thời gian trải nghiệm có thể là một tháng hoặc 40 ngày.
Trong một tập tôi xem, có một cô bé ở trong một gia đình có bốn người: em, bố mẹ và chị gái. Bố mẹ em đi làm quanh năm, chỉ về nhà một, hai lần vào dịp Tết hoặc khi thu hoạch mùa màng. Chị gái của em học ở trường nội trú cách xa nhà. Em ở nhà một mình với một con lợn. Hằng ngày em phải gánh nước từ rất xa về sinh hoạt. Mười bốn tuổi nhưng em bị suy dinh dưỡng, nhìn em rất nhỏ. Nếu người ta không giới thiệu em là con gái, tôi cũng không nghĩ thế, vì tóc em cắt rất sơ sài. Em ăn cơm trắng với ớt ngâm dầu. Đây là một món ăn ở Trung Quốc, người ta phơi khô ớt, tán thành bột rồi ngâm dầu, có thể để ăn dần trong nhiều tháng.
Một ngày của cô bé này chỉ quanh quẩn với con lợn con. Cả ngày, chẳng có ai để nói chuyện, em ra chuồng lợn để tâm sự. Em sống một mình như thế từ khi lên 8. Em bé khá ngây thơ. Bố mẹ em bảo: “Cứ ở nhà chăm lợn, khi con lợn đủ lớn thì bố mẹ sẽ về.” Người ta hỏi em ở một mình có sợ không, em nói hồi năm 8 tuổi, khi bố mẹ đi, em không ngủ được cả đêm, chỉ biết trùm chăn khóc, nhưng em chẳng biết làm thế nào vì bố mẹ còn phải kiếm sống.
Rất lâu sau tôi vẫn nhớ cảnh giữa trời tuyết trắng, em bé vác một can nước khoảng 10 lít trên vai. Người em cực kỳ nhỏ, lọt thỏm giữa màu trắng của tuyết, hai má em đỏ rực lên vì quá lạnh.
Trước khi lên máy bay để đến thành phố, em có yêu cầu người làm chương trình ghé qua thị trấn, tìm đến trường của chị gái để đưa tiền cho chị. Số tiền là 12 tệ, toàn là đồng 1 tệ. Số tiền ấy em đã dành dụm từ rất lâu, là tiền bố mẹ để lại để chi tiêu. Đó là tất cả vốn liếng của em. Tôi nghĩ em bé tưởng rằng em sắp đi đến một nơi có cuộc sống sung túc hơn, nên em nghĩ đến chị gái, và đưa cả tài sản của em cho chị. Hai đứa trẻ giằng co số tiền lẻ. Người chị một mực không lấy, đứa em thì nhất quyết đưa tiền cho chị, rồi cả hai ôm nhau khóc.
Đối tượng tham gia chương trình không hẳn là trẻ con, mà có cả vị thành niên. Đứa trẻ thành phố đổi chỗ cho em bé chăm lợn của tôi khoảng 16 tuổi. Dù là con trai nhưng em có thói quen đi bar, bỏ học, hút thuốc. Trước khi ra ngoài, em bắt buộc phải gội đầu, soi gương, xịt keo. Em luôn tự cho rằng mình đẹp trai như người mẫu.
Trước khi đứa bé thành phố này tới, em bé chăm lợn của tôi đã làm sẵn cơm và viết lại một mẩu giấy nhắn. Trong khi đó, đứa trẻ thành phố tự tin nói với người quay phim rằng chắc hẳn dân làng đã xếp thành hai hàng đón tiếp, trưởng thôn sẽ ra bắt tay em. Cậu công tử đến làng vào một ngày mưa, đường lầy lội, chẳng có ai đón, may mà có bát cơm để sẵn.
Tôi nhớ có một lần đỉnh điểm, cậu trai điệu đà đến từ thành phố òa khóc vì không hiểu tại sao em phải đến đây và tham gia chương trình này. Em cảm thấy nhớ nhà, nhớ bố mẹ, em không hiểu tại sao cô bé kia có thể sống một cuộc sống như vậy: tự nhóm lò, tự nấu cơm, tất cả đều làm một mình.
Những ngày tiếp theo, cậu công tử không nấu được cơm vì không nhóm được lò, cũng không cho lợn ăn. Em quyết định đình công, chỉ nằm trên giường và trùm chăn ngủ. Thực ra đó cũng không phải giường mà là gạch trát xi măng, giống như một cái lò hình chữ nhật, cuối giường có một cái lỗ lò để cho than củi vào làm nóng giường khi mùa đông đến. Hệ thống lò sưởi chỉ có ở thành phố và phải trả phí. Về sau, nhờ sự giúp đỡ của bà hàng xóm, dần dần em biết nấu cơm, nhóm lò, gánh nước...
Tôi xem rất nhiều tập của chương trình này. Sau mỗi lần đổi chỗ, những đứa trẻ ở thành phố trở nên hiểu chuyện hơn. Ban đầu, chúng gây hấn và tức giận với những người làm chương trình, vì chúng bị tịch thu tất cả đồ đạc tiện lợi, thậm chí đến dầu gội đầu. Trong môi trường mới, chúng cảm nhận được sự khó khăn và hiểu ra sự chăm sóc quý giá của bố mẹ trước đây. Tôi đoán chương trình này hấp dẫn vì kể được sự khổ sở, vất vả của các em bé nông thôn; cuộc sống ấy cũng làm biến đổi những đứa bé thành phố, khiến chúng chín chắn hơn.
Những đứa trẻ nông thôn khi mới lên thành phố sẽ được bố mẹ nuôi dẫn đi mua đồ ở trung tâm thương mại và “tân trang” cho chúng từ đầu. Đám trẻ con nông thôn sẽ nhìn giá món hàng và nằng nặc không mua. Có đứa còn khóc. Những món đồ đó thường có giá hơn 100 tệ. Chúng khóc và không chịu mua, cho đến khi bố mẹ nuôi dỗ dành rằng đây là đồ do cô bán hàng tặng, không lấy tiền, cứ yên tâm mà mặc. Sau khi được “tân trang”, các em khác đi rất nhiều.
Tôi thấy cuộc chơi trong chương trình này không công bằng. Người ta có vẻ chú trọng hơn đến trẻ con thành phố. Họ có nhiều cảnh quay và biên tập sâu hơn hình ảnh của đám trẻ thành phố và sự thay đổi của chúng. Với trẻ con nông thôn, trải nghiệm này giống như một sự bù đắp ngắn ngủi, một chuyến du lịch để mở mang tầm mắt...
Đôi lúc tôi cũng thấy hơi lo lắng khi xem chương trình. Trong một thời gian quá ngắn, một thay đổi quá lớn diễn ra, một cảm giác choáng ngợp tới mức choáng váng trước vẻ giàu có của thành phố, sự chiều chuộng của bố mẹ nuôi... tôi không biết liệu những đứa trẻ nông thôn có hờn giận bố mẹ mình và oán trách hoàn cảnh hay không? Chương trình sẽ kết thúc khi đứa trẻ thành phố đã có chút thay đổi, khoảng một tháng, hoặc có trường hợp nhanh hơn.
Hoặc nếu có đứa trẻ thành phố nào cứng đầu quá, sau khi chương trình kết thúc, người ta sẽ giám sát nó sau khi quay về. Nếu xảy ra trường hợp xấu, đứa bé sẽ lại tham gia chương trình tiếp. Trên thực tế, chưa bao giờ có chuyện này xảy ra, vì người đăng ký tham gia quá nhiều.
Tối hôm nay, vợ chồng chị Nguyệt chuẩn bị phòng của em bé để tôi ngủ vì phòng đọc sách hơi lộn xộn, giường trong đó là giường cá nhân. Phòng của con gái chị Nguyệt thì có giường đôi và máy tính. Làm mọi việc xong xuôi cũng đã hơn mười hai giờ, dù mắt tôi đã rất mệt nhưng tôi vẫn phải mở máy tính để tìm đường cho ngày mai.
Cả ngày lầm lũi trên đường, tối đến được đón nhận sự nhiệt tình của anh chị, tôi thấy ấm áp hơn rất nhiều. Khi chuẩn bị đi ngủ, tôi mới sực nhớ ra mình có mang quyển Nghìn lẻ một đêm để gửi tặng con chị Nguyệt.
(Trung Quốc Hợp Hỏa Nhân (中国合伙人)- American Dreams in China) là bộ phim của đạo diễn Trần Khả Tân (Peter Chan), ra mắt năm 2013, với sự tham gia của Huỳnh Hiểu Minh, Đồng Đại Vĩ, Đặng Siêu. Bộ phim kể về ba người bạn học cùng đại học và cùng có ước mơ tới Mỹ.↩
Một bài viết đăng tài tại địa chỉ: http://wwwmafengwocntravel-news/213733. html đưa ra số liệu thống kê: có khoảng 83,6% cô dâu Việt Nam lấy chồng nước ngoài có cuộc sống hạnh phúc sau hôn nhân và thường xuyên gửi tiền về trợ giúp gia đình, có 36,3% gia đình Việt Nam có con lấy chồng người nước ngoài có mức sống cao hơn mức sinh hoạt bình quân của các gia đình Việt Nam khác.
Từ 1998-2010, Bộ Tư pháp Việt Nam tiếp nhận hơn 294.000 hồ sơ của các cô dâu Việt Nam xin kết hôn với người nước ngoài, trải khắp 50 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, nhiều nhất là Trung Quốc, Hàn Quốc, Đức, Canada, Pháp, Mỹ. Bài viết đưa ra nhận định: Do “lứa đầu” kết hôn với người nước ngoài có cuộc sống viên mãn nên hiện tượng “cô dâu Việt Nam” bắt đầu lan tỏa tới vùng núi Trung bộ, khu vực duyên hải... Những cô gái đến từ nơi có cuộc sống khó khăn trở thành lực lượng chính trong số các “cô dâu Việt”.↩
Bài viết trên cũng phân tích khá đầy đủ các lý do nên “mua vợ” Việt Nam (trong bài dùng từ “mãi thê” - mua vợ). Hình ảnh minh họa đầu tiên là một cô gái mặc áo dài đứng cạnh tờ quảng cáo có viết chữ: “Lấy được vợ trong vòng ba tháng, chỉ với 20 vạn tệ, đi về trong 6 ngày...” Ngoài ra, tờ quảng cáo còn viết bốn cam kết: đảm bảo còn trinh, đảm bảo ba tháng lấy được vợ, không tăng giá, trong một năm nếu trốn một cô sẽ đền luôn một cô. Ngoài ra trên các trang môi giới hôn nhân còn có hình thức “đoàn cấu” môi giới đông người) là một kiểu kích cầu với giá rẻ hơn.↩
Theo thông tin thời tiết, sương mù và khói trắng bao phủ Bắc Kinh từ chiều hôm trước và dự báo sẽ tiếp tục kéo dài trong 3 ngày tới. Theo dữ liệu của Cơ quan Bảo vệ môi trường Mỹ, nồng độ hạt bụi phân tử PM 2.5 trong không khí ở mức 300 sẽ được coi là rất nguy hiểm. Trong khi đó, nồng độ PM 2.5 được ghi nhận ở Bắc Kinh vào tuần trước đó là 500.↩
Người ta đã chỉ ra nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng ô nhiễm: do cây cối không còn lá vào mùa đông, do bụi khí công nghiệp, do bụi cát sa mạc từ phía Bắc giáp Mông Cổ thổi về... Bắc Kinh và các thành phố lớn ở Trung Quốc đều cấm xe máy, nên chỉ còn lại ô tô, xe buýt - một phần lớn đã là xe điện. Tuy vậy, tôi đoán khí thải ô tô cũng là một nguyên nhân góp phần vào tình trạng ô nhiễm.↩
X change, được phát sóng vào khung giờ vàng 19:30 các ngày Chủ nhật, thứ Hai và thứ Ba trên kênh Human Satellite TV. Đây là một chương trình truyền hình thực tế rất ăn khách.↩