
Liễu Châu - thị trấn Thiên Giang: 130 km
Ngày thứ hai sáu: 20/1/2014
Sáng tôi ngủ dậy thấy Lan có vẻ rất đủng đỉnh, không có vẻ gì là vội đi làm. Lan chờ tôi sắp xếp đồ đạc rồi đưa tôi đi ăn sáng ở một tiệm ăn cách nhà khoảng 15 phút đi bộ.
Tiệm ăn này chỉ bán một loại bánh cuốn tráng mỏng nhưng không bày ra đĩa để chấm nước mắm như ở Hà Nội mà cho vào một bát to, có nước dùng và gia vị. Loại bánh này tôi thấy hơi nhạt, vì không giống như bánh cuốn Việt Nam, món này không cuộn thêm thịt, mộc nhĩ, nấm hương, hành... Quán khá đông, chúng tôi phải kê thêm bàn để ngồi bên ngoài.
Ăn xong, chúng tôi chia tay nhau, Lan về để chuẩn bị đi làm còn tôi lên đường. Trong thời gian của một ngày, có lẽ tôi thích nhất thời điểm xuất phát là vào sáng sớm như thế này. Tôi vừa hăm hở với khởi đầu mới, vừa hồi hộp chờ đợi những điều sẽ xảy đến. Khi cuối ngày, hoặc buổi chiều, tôi mệt mỏi và luôn trong tình trạng phải cố gắng để chạy đua với bóng đêm.
Sau lần bị thủng săm, vừa đi đường tôi vừa nơm nớp lo. Vết keo dán 502 ở lốp xe của tôi đã khô và rơi ra từ bao giờ, để lại một lỗ hổng còn to hơn trước. Tôi chẳng biết làm thế nào. Vẫn còn quá sớm, tôi vào một hàng tạp hóa bên đường mua thêm keo 502, keo dán chết. Tôi lấy một ít giấy ăn nhét vào lốp và đổ keo lên trên.
Hôm nay tôi xuất phát khá sớm, vừa đi tôi vừa nhìn nắng lên. Người đi lại ngược xuôi, ra vào các quán ăn sáng nghi ngút khói hoặc người ta co ro ở bến xe buýt chờ xe. Những người khác bước vội vào trong các tòa nhà. Những người chở đồ bằng xe ba gác đang gù lưng đạp. Các bà mẹ thì cố kéo tay đứa con đi học.
Bốn mươi cây số đầu tiên của ngày, tôi được đi trên đường bằng. Đường thẳng tắp, hai bên là những ruộng lúa đã gặt hoặc các ruộng rau vụ đông. Nhà cửa xen kẽ, có nhiều nhà hai tầng và ba tầng, nhưng kiến trúc của chúng giống như những khối hình hộp bê tông chồng lên nhau, không hề có ban công, ở phía mặt tiền là một cửa sổ dài. Người ta phơi miến dong trên các giá trước cửa, miến rũ xuống vàng óng ánh như tóc người mới nhuộm.
Tôi cũng đạp xe qua những mảnh ruộng trồng hành theo từng hàng xanh rì. Ở Trung Quốc, người ta không có thói quen dùng hành củ khi nấu ăn, họ ưa hành lá hoặc lá tỏi hơn. Thỉnh thoảng, khi tụ tập, chúng tôi muốn nấu mấy món của Việt Nam đành lấy hành tây thay thế. Không hiểu có phải vì tôi không chịu tìm kiếm hay không, nhưng có lần tôi mua hành củ, người ta bán cho tôi loại làm giống về dùng. Hôm nay, khi đi qua những khu ruộng này, tôi cảm thấy rất bình yên. Trước mắt tôi là một khu đất dài bát ngát, hành phủ xanh mướt như thảm cỏ, xa xa có những ngọn núi nhỏ và xen kẽ, giống như được đặt chồng lên nhau trên khu đất này, mờ ảo sau màn sương.
Đoạn tiếp theo, tôi gặp các cánh đồng bạt ngàn mía đang thu hoạch. Mía chất thành từng đống sát nhau ngay bên vệ đường. Đây không phải loại mía tím người ta hay bán ở chợ để ăn, những cây mía này khẳng khiu, cong queo. Các cây mía chưa được chặt, lá đã chuyển sang màu úa. Ở những cánh đồng mía đã được thu hoạch, dưới đất chỉ còn những lá mía khô.
Tôi dừng lại dưới một bức tường đá, giữa tường khoét những vòm như vòm cầu. Buổi trưa, giữa một ruộng mía mênh mông, tôi lôi bánh mì ra ăn, giống như tôi đang đi picnic ở một vùng quê vắng vẻ. Gió thổi qua những lá mía khô xào xạc.
Tuy vậy, cảm giác hớn hở thoải mái của tôi tắt ngấm sau khi lên đường một đoạn. Tôi đạp xe qua một hẻm núi, bắt đầu gặp những đoạn đường dốc lên dốc xuống. Con đường uốn lượn ôm sát vào những dãy núi. Tôi không nhớ mình đã đi qua con dốc được một đoạn bao xa trước khi bỏ cuộc, xuống xe dắt bộ. Khi tôi ở bên này dốc, tôi chỉ nhìn thấy phần đầu chiếc xe tải đang leo lên, sau đó là phần thân, khi xe lao xuống dốc, tôi mới thấy cả chiếc xe.
Đang dắt bộ được vài bước chân, tôi thấy phía trước có một ông cụ đi xe đạp Phượng Hoàng*. Những tiếng cót két phát ra theo từng vòng đạp của ông. Đằng sau xe, ông chở một bao tải màu xanh, loại bao bì 50 kg đựng đầy đồ đạc. Người ông ngả hẳn về phía trước, tuy những vòng quay bánh xe rất chậm nhưng đều đặn và bền bỉ. Tôi ngây người nhìn ông một lúc rồi nhảy lên xe đạp tiếp.
Khi tôi tới đỉnh dốc và thả dốc, xe tôi chạy nhanh hơn xe của ông cụ và tôi vượt qua ông. Tôi nhìn gần hơn. Tôi nghĩ ông đã hơn 70 tuổi. Ông mặc bộ quần áo màu đen, đội một cái mũ nồi kiểu Mao Trạch Đông có lưỡi trai rất ngắn, khuôn mặt ông nhăn nheo, đen sạm. Vì thả dốc quá nhanh, xe tôi trượt thêm được một đoạn dài trước khi phải leo tiếp đoạn dốc mới. Tôi dừng lại và tận hưởng, xe của ông cụ lại vượt qua tôi. Tuy vậy, sau khi lấy lại tinh thần, tôi bỏ qua ông cụ khá xa.
Suốt cả buổi chiều, tôi phải đạp xe qua những đoạn đường uốn lượn, không hề có bóng dáng của ruộng vườn hay đồng lúa. Mặt trời hắt xuống con đường màu đen tạo thành một dải vàng ánh. Chỉ có con đường và núi. Quê tôi thì ngay sát biển, một ngọn núi nhỏ cũng không có, tôi luôn thích cảnh rừng núi, nhưng ở thời điểm này, chỉ cần nhìn núi tôi cũng đã thấy sợ.
Tôi đi qua một tấm biển báo ghi Nam Ninh 170 km. Có lẽ tôi chỉ cần đạp xe thêm 1 ngày nữa là sẽ tới Nam Ninh. Nếu tới Nam Ninh, chỉ cần đạp thêm 2 ngày nữa, tôi sẽ về tới Việt Nam. Con đường về nhà càng ngày càng gần. Khung cảnh những ngày này cũng từa tựa với miền Bắc Việt Nam, càng ngày càng thêm gần gũi.
Chiều muộn, tôi lại đi qua một khu trồng rất nhiều mía. Người ta trồng mía ở dưới ruộng, trên đồi, phủ kín tầm nhìn của tôi. Chiều muộn, những ruộng mía cứ trải dài, không có dấu hiệu gì của thị trấn hay nhà dân, tôi chẳng còn hứng thú để tận hưởng nữa. Trời tối rất nhanh. Nỗi lo lắng của tôi tăng theo sự di chuyển của mặt trời về phía núi. Theo bản đồ, tôi còn cách một thị trấn nhỏ 20 km, nhưng ở thị trấn này có nhà nghỉ hay không thì tôi vẫn chưa biết. Có lẽ do tâm trạng bất an, không biết phía trước có gì đang đón đợi mình, vừa đi tôi vừa mong ngóng sớm đến thị trấn, nhưng càng ngóng càng cảm thấy nó xa hơn.
Hơn sáu giờ, tôi đi qua một khu có nhiều nhà dân nhưng lại không phải thị trấn cần tìm. Tôi đi qua một cây cầu, thấy đèn đường sáng rực hai bên, có khá nhiều nhà treo biển NHÀ NGHI. Những ngôi nhà san sát nhau, nhà nào cũng hai, ba tầng. Tôi vào ngay một nhà nghỉ có chú chủ đang kê sẵn một cái ghế ngoài cửa để đợi khách.
Giá phòng ở đây là 50 tệ có chứng minh thư, 60 tệ không giấy tờ. Giá này đắt hơn những nơi tôi vẫn nghỉ trước đây, nhưng nhìn mặt và thái độ của chú chủ, tôi không buồn trả giá. Khi tôi đưa hộ chiếu, chú bảo: “Đây là cái gì? Tao hỏi chứng minh thư cơ mà?” Rồi chú hỏi: “Mày không phải là người bản địa thì mày là người ở đâu?” Rồi chú nhếch mép: “Việt Nam à? Mày đến đây làm gì ?”
Do quá mệt nên tôi chẳng đi sang chỗ khác. Chú chủ nhà nghỉ bịa vào trong sổ một cái chứng minh thư giả rồi đưa tôi lên phòng. Phòng của tôi ở tầng hai, ngay bên phải cửa ra vào kê một cái giường, có một lối đi nhỏ về phía nhà vệ sinh. Phòng nhỏ nhưng sạch sẽ, chăn ga gối đệm màu trắng nhưng đã mòn vì qua nhiều lần giặt, nước vải ngả màu ngà.
Không có nước nóng để tắm, tôi lấy ấm siêu tốc đun nước pha vào nước lạnh. Mỗi khi về quê, tôi vẫn nấu nước như thế để tắm, hoặc dùng nước nóng tận dụng khi nấu rượu. Một nồi nấu rượu thường có ba khoang, một khoang đựng bã rượu, một khoang để chưng cất, khoang trên cùng có nước để làm lạnh. Khi phần nước này dần dần nóng lên và bốc hơi, tôi múc nước nóng ra ngoài và thay nước lạnh vào.
Tôi tắm xong thì đã khá muộn. Không còn hàng ăn nào mở cửa. Ở gần bến xe có những dãy hàng hoa quả bán dưa hấu, bưởi, mía, cam, chuối... Hàng nào cũng bán những loại quả giống nhau. Tôi mua một ít hoa quả và ăn nốt bánh mì.
Bánh mì tan trong miệng tôi đắng ngắt. Tôi uống liều thuốc cuối cùng, một viên Panadol tổng hợp, rồi chui vào trong chăn.
Tối nay, cô Mai, một cô giáo dạy đại học ở Hà Nội chủ động nói chuyện với tôi trên mạng. Cô hỏi tôi về chuyến đi, tôi đang ở đâu, tôi có ốm đau gì không... Cô nói với tôi rất nhiều, rằng lúc đầu thấy tôi cứ tổng kết số ki lô mét trên Facebook, cô nghĩ tôi chỉ chơi bời thế thôi, được mấy ngày tôi sẽ phải đi máy bay về nhà. Tuy vậy, tới ngày thứ mười, cô thay đổi suy nghĩ. Cô dặn tôi giữ gìn sức khỏe. Khi nghe cô nói câu này, sống mũi tôi hơi cay cay. Vừa trò chuyện với cô, tôi vừa dùng cuộn giấy của khách sạn để lau mũi. Cả ngày hôm nay trên đường, tôi đã dùng hết gói giấy tôi mang theo.
Sau một hồi trò chuyện, cô Mai khuyên rằng tôi chỉ cần cố gắng đi về tới nhà và chỉ một lần này thôi, vì con gái đi một thân một mình như thế thì không còn gì là nhan sắc. Nghe cô nói thế, tôi biết tôi không có ý định dừng lại. Khi đã ở đây, đã đi qua từng ấy chặng đường, tôi đã có suy nghĩ mới về kế hoạch tiếp theo, một kế hoạch xa hơn, vẫn là đi xe đạp, nhưng sẽ tới các nước Đông Nam Á.
Cô Mai cũng nói với tôi, rằng cô đã có chồng con, cô rất muốn làm như tôi nhưng không thể. Thỉnh thoảng cuối tuần, cả gia đình cô sẽ lái xe đi đâu đó. Tôi biết cuộc sống của mỗi người đều khác nhau. Cuộc sống của cô Mai có lẽ rất hạnh phúc. Có lẽ cô Mai đang lo lắng cho tôi nhiều hơn.
Trước đây, ở trong lớp, cô Mai không nhớ tôi là ai. Có lẽ cô chỉ nhớ có một đứa trong lớp tên là Xuyến nhưng cô không nhớ mặt tôi thế nào vì tôi nghỉ học quá nhiều. Mỗi môn học tôi đều tính đủ số giờ có thể nghỉ để đi làm thêm.
Trong thời gian học đại học, tôi nhận phiên dịch cho một quán massage chuyên về massage chân, ngâm chân thảo dược của Trung Quốc. Dù nghe từ massage có vẻ nhạy cảm nhưng nơi tôi làm việc là một dịch vụ lành mạnh. Quán massage này mang đậm phong cách Trung Quốc, từ cách trang trí, đồng phục nhân viên, dụng cụ massage, thậm chí cả âm nhạc. Ở đây lúc nào cũng có những bản nhạc đàn tranh.
Tôi làm từ mười hai giờ trưa tới một giờ chiều, dịch nội dung các cuộc họp đầu buổi của ông chủ người Trung Quốc với nhân viên người Việt. Giờ học của tôi ở trường là mười hai rưỡi, chưa kể không phải ngày nào cũng đúng một giờ chiều là tôi xong việc. Đôi khi tôi dịch nói, đôi khi tôi phải dịch văn bản. Trong một giờ vừa để họp vừa để dạy, tôi dịch tổng kết nhân viên nào có lỗi gì, dạy nhân viên các bước massage bấm huyệt. Bình thường, tôi chỉ quanh quẩn ở phòng khách và phòng làm việc. Chưa bao giờ tôi lên tới các phòng massage.
Tất cả nhân viên ở quán massage đều là nữ. Tất cả đều xúm xít quanh anh chủ người An Huy, tôi đoán có lẽ vì anh trẻ và độc thân. Anh chủ khá cao, khoảng hơn một mét tám, mắt một mí, nói tiếng Việt rất ngọng. Để hòa đồng với nhân viên, anh thường nói những từ đơn giản, ví dụ: không tốt, không được như thế... Sau một thời gian kinh doanh ở Việt Nam, anh mua được một cái nhà ở Nam Ninh, Trung Quốc, thêm một mảnh đất ở Nam Định, Việt Nam.
Tôi không thích thời gian mình làm việc ở đây, vì ngoài anh chủ ra, tôi hơi dè dặt với nhân viên. Trong những buổi họp đầu giờ, khi có ai mắc lỗi, tôi là người truyền đạt ý kiến khiển trách từ phía anh chủ. Vì tôi là người phiên dịch, nên khi các nhân viên phản bác, họ nói thẳng vào mặt tôi. Tôi không biết vì họ đã lăn lộn ở ngoài đời nhiều hay vì lý do gì, thái độ của họ thường gay gắt. Ngoài giờ họp, thời gian còn lại họ cũng hạn chế tiếp xúc với tôi. Tôi không biết được lý do vì sao, tôi đoán là vì tôi khá thân với anh chủ, tôi biết tiếng Trung và tôi có thể giao tiếp được nhiều với anh.
Các nhân viên trong tiệm massage tôi làm việc thường ít có ai ở lại làm lâu dài. Ở tầng một của tiệm massage có một phòng gọi là Phòng thực hành, chuyên dành để đào tạo người mới. Tôi không hiểu vì sao người ta không làm lâu dài, vì thu nhập ở đây khá tốt, lại được bao ăn, bao ở. Thời gian làm việc mỗi ngày là tám tiếng, chia theo ca. Ngoài tiền lương, họ còn có tiền bo của khách. Có lần, tôi nghe thấy một đám nhân viên ngồi nói chuyện với nhau, có một bạn tổng kết rằng tháng đó bạn nhận được hai mươi triệu.
Tiệm massage nơi tôi phiên dịch rất lành mạnh, đơn thuần là trị liệu, không giống nhiều tiệm khác. Có một lần, ở Hà Nội, tôi dẫn một ông khách người gốc Trung Quốc nhưng đã sống ở Nhật mười năm vào ăn hải sản ở một nhà hàng trên đê Yên Phụ. Tầng trên nhà hàng này có một tiệm massage. Vì đi bộ cả ngày, ông khách của tôi khá mệt mỏi và muốn tìm một nơi để được massage toàn thân. Tôi muốn ngồi đợi ở dưới nhưng ông nhất quyết mua hai vé.
Quán massage nơi tôi vào nằm trên tầng năm của một căn nhà trên đê. Khi cửa thang máy vừa mở, tôi nhìn thấy một quầy thu ngân và một dãy ghế để ngồi chờ. Ở đây có cả nhân viên massage nam. Tất cả quản lý, thu ngân và bảo vệ đều là nam. Có một em gái nhân viên ôm eo một chú khách hàng đi qua mặt chúng tôi, em gái này liên tục gọi “anh”. Tôi cũng nhìn thấy các em gái nói giọng miền Tây đi qua đi lại. Các em mặc những chiếc váy liền, độ dài chỉ bằng một chiếc áo phông.
Tôi rất muốn chờ bên ngoài để chơi điện tử nhưng ông khách khăng khăng kéo tôi vào. Massage cho tôi là một em gái 19 tuổi. Vừa massage cho tôi, em vừa kể chuyện. Lúc đó, tôi 21 tuổi nhưng tôi nghĩ em gái này trẻ hơn tuổi 19 rất nhiều. Dáng người em khá nhỏ, có lẽ em chỉ cao hơn mét rưỡi một chút. Nhìn cách làm việc của em so với các nhân viên tôi từng tiếp xúc ở quán massage kia, tôi thấy em khá vụng về. Tôi cảm giác em gái này là trẻ vị thành niên, và tôi cảm thấy rất không thoải mái.
Trong phòng massage có một buồng xông hơi thuốc nhưng vừa vào phòng khoảng mấy giây tôi đã ho sặc sụa và lập tức phải chui ra. Khi tôi vào bồn tắm, em gái cầm sẵn một cái khăn bông, ngồi ở thành bồn với chiếc váy rất ngắn. Sau đó, tôi được em massage bằng tinh dầu. Tôi không thể thả lỏng bản thân. Gói massage này kéo dài hơn một giờ nhưng được chừng 15 phút, tôi than mệt và bảo em gái ra ngoài trước. Em không chịu, vì như thế người quản lý sẽ tưởng em không làm hết nhiệm vụ và khiển trách em. Tôi mặc quần áo, ngồi nghịch điện thoại, em gái miền Tây cũng ngồi cạnh, chủ động gợi chuyện với tôi. Phòng massage của tôi mờ mờ tối và rất ngột ngạt.
Khi tôi ra ngoài được một lúc, ông khách của tôi mới ra. Nhìn ông như được hồi sinh. Ông cười nói không ngớt. Khi ra đường gọi taxi, ông bảo tôi: “Thái độ phục vụ ở đây đúng là số một!”
Tôi có nhìn thấy em gái nhân viên phục vụ cho ông. Em gái này khá cao, dáng đẹp. Theo lời ông khách, em cũng 19 tuổi và đến từ một tỉnh phía Nam Việt Nam. Em nói chuyện với ông khách bằng tiếng Anh. Ông cứ tấm tắc khen con gái miền Nam Việt Nam xinh, eo nhỏ, giọng nói ngọt.
Thỉnh thoảng, tôi vẫn nhận dẫn khách lẻ hoặc những công việc, tạm thời như vậy nên chẳng môn học nào ở đại học tôi có điểm chuyên cần. Tuy vậy, các cô giáo ở trường tôi đưa địa chỉ Facebook của họ cho sinh viên để cô trò gần gũi. Phần lớn các bạn bè trong lớp của tôi đều trở thành bạn bè của các cô trên Facebook nên tôi cũng làm theo. Trong thời gian tôi đạp xe từ Bắc Kinh về Hà Nội, không chỉ có cô Mai, những cô giáo cũ cũng hay vào bình luận ảnh của tôi đăng trên Facebook và trò chuyện với tôi.
Cô Mai cho số điện thoại của cô và dặn khi nào tôi về tới Hà Nội thì gọi, cô sẽ đón gió*. Khi nào tôi về, cô nói, tôi sẽ được mời qua nhà cô và cô sẽ trổ tài nấu nướng với tôi.
Xe đạp Phượng Hoàng: loại xe được xem là món tài sản vô cùng giá trị ở thời bao cấp.↩
(tiếp phong tẩy trần): theo văn hóa Trung Quốc, ai đi xa về sẽ được chào đón bằng một bữa tối thịnh soạn.↩