
Trên đường Hành Dương - Quế Lâm: 370 km
Ngày thứ hai mươi: 14/1/2014
Kế hoạch của tôi là mỗi ngày đi được ít nhất 120 km, đoạn từ Hành Dương tới Quế Lâm sẽ đi mất 3 ngày. Hôm nay tôi sẽ phải hoàn thành chặng đường 120 km đầu tiên.
Cả đêm trước tôi mất ngủ. Sàn gỗ nhà Trung Hoa có lẽ đã quá cũ, khi tôi đi ngủ, hai anh em cậu vẫn ra ra vào vào, mỗi bước lại dội lên những tiếng cọt kẹt. Bảy giờ sáng, tôi dậy chuẩn bị gói ghém đồ đạc. Ngoài cửa sổ, sương mù dày đặc.
Chín giờ sáng, Trung Hoa tỉnh dậy, kéo tôi ra ngoài ăn sáng. Quán ăn sáng nằm ngay đối diện khu chung cư, có những món chủ đạo như phở, bún bò. Ngay ngoài cửa, ông chủ quán đặt một nồi nước lèo và một thùng đựng bánh phở. Trung Hoa bảo tôi đây là đặc sản của khu này.
Bát đặc sản có nước dùng, bánh phở, vài miếng thịt bò, không có rau sống và chanh, thay vào đó là ớt tươi. Trên bàn có bột ớt xào với mỡ sôi, tùy theo độ ăn cay mà khách hàng tự gia giảm. Tôi thấy món phở này rất nhạt nhẽo. Trong quán có nhiều sinh viên, có cả các ông bố bà mẹ cho con vào đây ăn để chuẩn bị đi học.
Ăn sáng xong, Trung Hoa khăng khăng đưa tôi ra công viên tham quan, sau đó tôi mới được lên đường. Công viên này cách nhà cậu ba, bốn điểm đỗ xe buýt. Vừa xuống xe, Trung Hoa đã giới thiệu tỉ mỉ như một hướng dẫn viên du lịch. Cổng công viên ghi chữ THIÊN HẠ ĐỆ NHẤT Nam Nhạc gì đó, tôi không nhớ Trung Hoa đã nói những gì. Nam Nhạc là ngọn núi nổi tiếng tôi đến hôm qua, tôi không biết công viên này có gì để so với Nam Nhạc mà nói là Thiên Hạ Đệ Nhất. Trung Hoa giải thích rằng câu này là của một ông nào đó. Cậu còn nhấn mạnh thêm rằng mọi người khi đến đây tham quan thường check in ở cổng để làm kỷ niệm. Để khỏi mất lòng cậu, tôi giơ máy lên chụp mỗi cái cổng.
Đây là một công viên nhân tạo. Sương mù dày đặc, thời tiết này có lẽ chẳng ai ra ngoài tập thể dục. Trong công viên có những cây hoa cắt tỉa gọn gàng, những mái đình... theo quan điểm của Trung Hoa là rất đặc sắc. Tôi chỉ mong đi cho nhanh từ cổng vào tới cổng ra để đi về. Không may cho tôi, trong công viên có một cái chùa. Mặc dù ngôi chùa đang tu sửa nhưng Trung Hoa nằng nặc đòi vào, rồi lên tầng hai ngắm cảnh. Tôi chỉ nhìn thấy một màn sương mù dày đặc. Ngôi chùa khá nhỏ, chúng tôi vòng ra phía sau để xem bút tích của một nhà thơ. May là cuối cùng, tôi cũng ra được cổng sau. Ở đây có một tượng đài hình những cánh chim. Trung Hoa tiếp tục bảo tôi nhất định phải ghi lại khoảnh khắc này, tượng đài này là biểu tượng của thành phố Hành Dương vì đây là nơi chim bay về. Tôi lại giơ máy lên chụp. Tôi liên tưởng tới cảnh xe du lịch đưa khách tham quan tới một điểm, thả khách xuống để họ đứng cạnh tượng đài giơ hai ngón tay chụp ảnh, 10 phút sau xe lại tới đón khách đưa tới một bồn hoa, rồi họ lại đứng cạnh bồn hoa giơ hai ngón tay để chụp ảnh, rồi tất cả lại lên xe đi...
Ra khỏi cổng công viên, tôi đi thẳng tới bến xe buýt nhưng Trung Hoa muốn hai đứa đi dọc men theo bờ sông để về nhà, vừa đi bộ vừa ngắm cảnh. Tôi đã đi ngắm cảnh dọc bờ sông từ hôm qua nhưng Trung Hoa vẫn khăng khăng lôi tôi ra bờ sông. Tôi gặp lại những cảnh chiều qua tôi đã thấy.
Hơn mười một giờ, tôi và Trung Hoa về tới nhà. Tôi nói với Trung Hoa rằng tôi đi bộ quen rồi, tôi không thấy mệt, tôi phải xuất phát ngay. Trung Hoa nhìn tôi một lúc rồi bảo thông thường con gái đi bộ như thế sẽ kêu la oai oái. Anh của cậu đã ngủ dậy, ra ngoài phòng khách. Nhìn thấy tôi, anh hỏi: “Đi luôn à?” Anh của Trung Hoa tầm 30 tuổi. Từ tối qua tới bây giờ, anh nói với tôi hai câu, âm lượng vừa phải, giống như nhả lời, giống như anh vứt ra ngoài một lời nói chỉ để cho có, mặt anh không biểu lộ một sắc thái nào. Tôi chào và cảm ơn anh đã cho tôi ở nhờ tối qua.
Trung Hoa tiễn tôi ra tận cổng chung cư, vừa đi, cậu vừa giới thiệu cái lầu chung cư này là tập thể của cái gì đó, cái này cái kia xây từ những năm bao nhiêu. Cậu nói một lèo, tôi nghe nhưng không đọng lại được gì. Sương mù vẫn lác đác nhưng tôi vẫn nhìn được đường.
Tôi nhớ tới những ngày đi học trong sương khi còn nhỏ. Sáu giờ rưỡi, tôi đạp xe đến trường trong sương mù dày đặc, tôi nghe thấy tiếng người nhưng chẳng nhìn thấy ai. Trên đường líu ríu tiếng trẻ con. Sương đọng thành giọt trên áo len, tôi vừa đi vừa vuốt nước...
Đường rộng thênh thang, thỉnh thoảng tôi mới gặp một chiếc xe cơ giới. Tôi bắt đầu đi trên quốc lộ 322, bắt đầu từ một cột cây số rất nhỏ. Đường lát bê tông chứ không đổ đá. Tầm hai giờ chiều, tôi gặp cái nắng đầu tiên của ngày. Hai bên đường, những ruộng rau vụ đông vừa nhú.
Đi qua những dãy nhà bên đường, tôi nhìn thấy bốn đứa trẻ ngồi vây quanh một cái bàn gỗ, xung quanh là mấy chiếc ghế băng chân chữ A, kê bên trên là một thanh gỗ như trường học ngày xưa ở Việt Nam. Cái bàn chỉ là những ván gỗ đóng đinh lại, không sơn quét gì. Bốn đứa trẻ ngồi, mỗi đứa một vở như học nhóm, vừa ngồi vừa sưởi nắng vừa học bài.
Tôi cũng thấy có rất nhiều căn nhà bỏ không. Tôi không hiểu chủ nhà đi vắng quanh năm, đi làm hay đi đâu. Có những nhà bỏ hoang hẳn, có những nhà khóa cửa, nhưng bên ngoài không hề có dấu hiệu của chủ nhân: không hề phơi quần áo, khoảng sân không có dấu tích quét dọn.
Tôi định sẽ dừng lại tìm một nhà nghỉ. Hôm nay tôi xuất phát quá muộn, ở làng quê rất khó tìm một chỗ ngủ buổi tối. Tôi chắc chắn không tới được điểm dự kiến trong hôm nay. Chiều tà, tôi gặp một bạn nam đi xe đạp ngược chiều. Bạn đi một chiếc BMW, loại xe có vành được sơn màu xanh neon rất chói. Nhìn thấy tôi, bạn quay ngoắt xe lại và đuổi theo, lân la kể với tôi rằng bạn vừa đạp xe từ Thâm Quyến về nhà, khoảng cách 900 km bạn đi trong 5 ngày. Bây giờ, bạn đang trên đường đi mua thức ăn cho mẹ. Sau năm ngày đạp xe, ai cũng bảo bạn bị điên, vì thế, khi nhìn thấy một người như tôi, bạn liền đuổi theo ngay.
Hỏi han tôi một hồi, bạn phán một câu xanh rờn: “Quế Lâm sao lại đi đường này? Lạc đường rồi!” Tôi giật mình. Hôm nay tôi xuất phát muộn, lại còn đi nhầm đường, không hiểu tôi đang ở đâu. Tôi mở bản đồ ra tra, thấy mình vẫn đang trên quốc lộ 322. Bạn nam muốn về nhà lấy bản đồ giấy cho tôi, vì theo bạn, bản đồ trên điện thoại nhìn không rõ.
Tôi đang rất vội. Trời sắp tối. Bạn nam nhìn về hướng Tây rồi khẳng định: đúng 30 phút nữa trời sẽ tối. Thị trấn gần nhất, theo lời bạn, cách chỗ tôi đang đứng 10 km, nhưng ở đấy có nhà nghỉ hay không thì bạn không rõ. Bạn đề nghị tiễn tôi một đoạn. Khoảng hơn 10 phút sau, bạn xin phép về trước vì quốc lộ không đèn, xe đạp của bạn không có đèn. Khu này, ngoài cây cối ra không có nhà cửa gì. Chúng tôi chia tay nhau.
Trời tối hẳn. Tôi bật cả đèn trước soi đường và đèn đuôi báo hiệu. Qua ánh sáng của đèn pin, cây cối là những bóng mờ mờ lẫn với bóng đêm và màn sương. Tôi chẳng nhớ buổi trưa tôi đã ăn gì. Trời lạnh, tôi cố đạp tới thị trấn gần nhất với hy vọng sẽ tìm được một chỗ nghỉ ngơi. Mỗi lần nhấn chân xuống bàn đạp, tôi thắt bụng lại vì đói. Thị trấn bạn nam kia nhắc đến có lẽ là một đoạn phố rất ngắn, hai bên có hàng quán, nhiều đại lý bán đồ xây dựng, đồ gia dụng, bánh kẹo... nhưng không có bóng dáng nhà nghỉ. Tôi dừng lại hỏi thăm một bác gái bế trên tay một đứa trẻ con đứng bên đường, bác trả lời tôi bằng tiếng địa phương, có lẽ bác cũng chẳng hiểu tôi nói gì. Tôi đành cảm ơn và đi tiếp.
Sương mù ngày càng dày đặc. Tôi dừng lại ở một cửa hàng bên đường, hỏi thăm nhà nghỉ. Chị chủ quán bảo tôi đi đến thị trấn tiếp theo, khoảng 9 đến 10 km. Tôi không nói được gì. Chị chủ và anh chồng nhìn tôi ái ngại. Tôi thực sự hy vọng bản thân có thể thốt ra một lời đề nghị ở nhờ, nhưng cuối cùng tôi đã không dám nói.
Không còn sức để đạp, tôi xuống xe dắt bộ. Con đường không đèn, không có xe cộ đi lại, kể cả xe tải. Dắt được một lúc, tôi lại leo lên xe và cố đạp. Trời tối đến mức tôi không biết mình đang lên dốc hay xuống dốc. Trên xe, tôi còn một quả chuối. Nước đã uống cạn từ lâu. Tôi đã rất chán đồ ăn khô.
Sáu giờ tối, tôi đến được một thị trấn tấp nập hơn. Nơi này vẫn không có đèn đường, chỉ có ánh sáng từ những cửa hiệu hắt ra. Một chú cảnh sát giao thông bảo tôi cứ đi thẳng quốc lộ thì sẽ không .có nhà nghỉ nào, nhưng nếu tôi rẽ vào bến xe thì may ra tìm được một chỗ ngủ. Tôi đi theo con đường được chỉ, đi qua một quảng trường, một khu chế xuất hoặc trường dạy nghề, vì có nhiều người trẻ không biết là sinh viên hay công nhân tấp nập trong các quán ăn đêm, rồi tôi gặp bến xe. Người và xe hòi hả trả khách. Theo khuyến cáo, tôi không nên ngủ ở những nhà nghỉ gần bến xe, nhưng thời điểm này, với tôi, tìm được chỗ ngủ là may mắn lắm rồi.
Tôi đạp xe hai vòng quanh khu vực này, cuối cùng tôi dừng lại ở một nhà nghỉ gần ngã ba. Tầng một của nhà nghỉ không có bàn làm việc hay bàn tiếp khách, chỉ có một cái ghế salon dài, có một chú khoác bộ quần áo như công an địa phương đang ngồi ăn cơm. Chú bưng một bát ô tô to. Nhà nghỉ còn phòng, giá phòng 20 tệ, tôi mệt tới mức không lên xem phòng.
Tôi gỡ đố, đi qua cầu thang để lên tầng hai. Tôi nhìn thấy cô chủ, vợ của chú công an đang ăn cơm. Cô chủ dáng người đậm, mặc quần legging da báo, tóc nhuộm màu vàng rực, dựng đứng ở trước mái và xòe sang hai bên như một cái bờm sư tử. Phần tóc ở phía trước trán cô dựng đứng nhưng vẫn có những sợi lưa thưa xòa xuống trán, giống các ca sĩ thập niên 70 của thế kỷ trước. Da mặt cô như được tẩy trắng. Cô xăm môi, xăm mày, xăm mí mắt. Tôi đoán cô khoảng hơn 40 tuổi nhưng nhìn cô rất già so với chồng.
Nhìn cô chủ, tôi thấy hơi sợ. Tôi theo cô lên phòng. Tôi hỏi cô xe đạp của tôi để dưới nhà có sao không, cô ném cho tôi một cái nhìn. Tôi không dám hỏi gì thêm. Tôi đoán chú chủ nhà là công an nên chắc an ninh ở đây tốt. Nhà nghỉ có ba tầng, lâu đời và mục nát tương đương với nhà nghỉ lần trước tôi dừng chân. Cầu thang xây ở giữa, hai bên là hai dãy phòng, mỗi tầng chỉ cho thuê tạm thời một phòng, những phòng còn lại là cho thuê cố định. Tôi đang vào một phòng cho thuê tạm thời.
Tôi hiểu vì sao phòng tôi ở có giá 20 tệ. Ở chính giữa phòng là một cái giường sắt cá nhân, một đầu kê sát tường. Giường không rộng, người ta đặt một cái phản gỗ cạnh giường để làm giường rộng thêm ra. Giường bằng sắt đã gỉ, chăn ga gối đệm mỗi thứ một kiểu hoa văn và đều đã ngả màu. Trong phòng còn có một bàn trang điểm đã mất gương, một cái bàn gỗ đã mất ngăn kéo, trên đặt ti vi - một cái ti vi siêu dày, đặt không ngay ngắn. Có lẽ người ở trước đã xoay để tiện xem hơn. Giữa phòng là một cái dây điện mắc thõng xuống, không hề có mắc phơi nào cả. Chỉ có một cái ổ điện tổng hợp, dây điện gãy gập, cũ nát. Ở một góc phòng, tôi thấy mạng nhện chăng kín. Phòng này không có chìa khóa, chỉ có thể khép chứ không thể chốt hay khóa.
Nhà tắm ở trên tầng ba, tôi phải tắm nhanh nếu không sẽ hết nước nóng. Đây là khu vệ sinh chung nên gần như không được dọn dẹp. Bệ ngồi bị sứt, không có chỗ treo đồ, chốt trong cửa chỉ là một cái đũa. Rác rưởi ngập trên sàn. Tôi lau người qua loa rồi ôm đồ chạy xuống. Nhà tắm nằm ở ngay cầu thang, rất nhiều người qua lại. Tôi nghe thấy tiếng của những lái xe chửi bậy và gọi nhau, tiếng mẹ mắng con ở các phòng cho thuê cố định.
Lúc xuống phòng, tôi không nhận ra cô chủ. Lúc này, tóc cô đen, ngắn cũn và áp sát vào da đầu. Hóa ra lúc nãy cô đội tóc giả. Chỉ cần bỏ bộ tóc ra, ấn tượng về cô khác hẳn. Cô đang ngồi giặt quần áo trong một cái chậu to ở phía cuối cầu thang. Với mái tóc đen ngắn, nhìn từ phía sau, cô lại trở về là một người phụ nữ của gia đình.
Đến lúc này, tôi lại chẳng muốn ăn gì nữa. Có các xe đẩy, những cái lều tạm dựng để bán đồ ăn đêm ở hai bên đường, nhưng quanh đi quẩn lại chỉ có đồ nướng hoặc đồ rán. Tôi dừng lại ở một quán bán đồ khô của hai cụ già. Hai cụ bán lạc, hướng dương, hạt bí, nhưng không cân mà đong bằng chén. Một cụ bị mù. Dù không có hứng ăn vặt nhưng tôi vẫn mua hai chén hướng dương và về phòng đi ngủ.
Vừa mở cửa phòng, mùi ẩm mốc xộc lên tận mũi. Trong phòng không có mắc áo, dây điện ở giữa nhà cáu đen, tôi không dám vắt quần áo lên trên. Tôi vắt đồ lên bàn, lên ghế, nhưng đồ đạc đã phủ một lớp bụi ngàn năm. Ngồi trong phòng, thỉnh thoảng tôi giật mình vì tiếng người qua lại và tiếng xe ô tô. Tôi kéo bàn ti vi chặn ngang cửa.
Chỉ cần nhấc chăn lên để chui vào, tôi đã ngửi thấy mùi vải lâu năm không giặt. Đến thời điểm này, tôi mới hiểu vì sao đám bạn hay mang túi ngủ riêng, cả chăn cá nhân riêng đi du lịch dù chúng nó không có nhu cầu cắm trại. Tôi nằm xuống mà không hề yên tâm. Tôi không biết có ai đã từng ngủ ở đây và họ đã làm gì. Dù sao, tôi cũng đã giải quyết được ba vấn đề: có chỗ để ngủ, có chỗ sạc pin và có chỗ tắm rửa.
Buổi tối, Lôi Huy nhắn tin cho tôi, thông báo nó được lên báo. Lôi Huy có một đứa bạn học cùng cấp ba làm báo, bạn của Lôi Huy đang thiếu đề tài. Trong bài trả lời phỏng vấn, Lôi Huy nhắc tới khá nhiều người, như bác chủ cửa hàng tạp hóa đã cho mượn chậu nước để vá xe, trước khi đi bác còn dúi cho Lôi Huy mấy thanh chocolate để ăn đường. Lôi Huy cũng nhắc tới tôi, có lẽ nó biết đạp xe 900 km là rất điên rồ, nhưng có đứa còn đi một chặng dài hơn nó và có lẽ khùng hơn nó.
Tôi bảo Lôi Huy rằng tôi đang ở một cái nhà nghỉ 20 tệ, có phòng riêng. Lôi Huy từng tìm được nhà nghỉ rẻ nhất giá 30 tệ, ba người không quen ngủ một phòng. Mỗi lần lên phòng, Lôi Huy vác xe đạp lên, khóa luôn xe vào chân. Tôi cũng từng ngủ ở một cái nhà nghỉ như thế ở Cách Nhĩ Mộc, đoạn cuối Thanh Hải, nơi dừng chân để đi Tây Tạng. Ở đây, người ta kiểm soát rất gắt gao, chỉ có những khách sạn vài sao mới được cho người nước ngoài ở. Hồi đó, tôi và hai người bạn phải ngủ trong nhà nghỉ của người Hồi với chứng minh thư của hai bạn kia. Cả đêm hôm đó, tôi không ngủ được vì nhiều muỗi. Muỗi bay nhiều như chim bay theo đàn trên trời. Chúng tôi không biết người Hồi nuôi muỗi kiểu gì mà nhiều và nhạy đến thế. Buổi sáng hôm sau, tôi tỉnh dậy mở cửa sổ và hiểu ra nguyên nhân. Ngay dưới cửa sổ là một đống rác lớn.