
Hiếu Cảm - Vũ Hán: 70 km
Ngày thứ mười hai: 6/1/2014
Chặng đường tôi phải đi hôm nay chỉ bằng một nửa những ngày trước. Tôi có thể bỏ qua Vũ Hán, từ Hiếu Cảm đi thẳng tới một điểm nào đó gần Xích Bích, nhưng ở đây có một người quen của tôi.
Bảy giờ sáng, tôi bị đánh thức bởi tiếng gà gáy. Chị gái Tiểu Ngư đã dậy và đi làm từ lúc nào. Tiểu Ngư cũng đã ăn mặc chỉnh tề và chuẩn bị ra ngoài. Hôm nay bạn phải tiếp tục đến trường lái.
Sáng nào cũng vậy, công việc khó khăn nhất của tôi vẫn là ra khỏi chăn và hất nước lên mặt. Tôi không thèm rửa mặt theo đúng cách. Mẹ Tiểu Ngư có lẽ nghe thấy tiếng nước chảy nên gọi Tiểu Ngư lấy khăn mặt cho tôi. Đây là chiếc khăn mặt mới, bác vừa mua chưa dùng, bác dặn tôi mang theo dùng luôn.
Tôi cầm chiếc khăn mặt màu xanh ngọc, có một bông hoa ở giữa. Nếu tự đi mua, chắc chắn tôi không bao giờ chọn loại này. Tôi ngây ra vài giây vì ngạc nhiên và cảm động. Cái khăn này giống hệt khăn nhà tôi vẫn hay dùng ngày xưa.
Nhà tôi có năm người. Khi tôi còn nhỏ, bố mẹ tôi dùng chung một khăn mặt, ba chị em tôi dùng chung một cái khăn khác. Lớn lên, bố mẹ và chị tôi có khăn riêng, tôi và em gái vẫn dùng chung nên nếu một đứa bị đau mắt thì đứa kia rồi cũng đau nốt. Khi học cấp hai, tôi có khăn mặt riêng, kiểu giống của em gái nhưng khác màu. Tôi phơi khăn mặt ở sân giếng, một thời gian sau khăn sẽ bị mọc rêu vì dính mưa. Tôi sẽ luộc khăn lên để dùng như bình thường. Nửa năm tôi mới thay khăn mặt một lần.
Sáng sớm, mẹ Tiểu Ngư ngồi trong phòng thêu tranh chữ thập, bố Tiểu Ngư chuẩn bị xe để ra đồng. Bố Tiểu Ngư nói với tôi: “Nhà có mấy mảnh ruộng trồng rau trước nhà, ngày nào chú cũng ra tưới tắm cho rau là hết ngày.” Tôi bảo với chú, bây giờ ở quê tôi đang là vụ đông, người ta trồng cải bắp, bí xanh các thứ. Bố Tiểu Ngư hỏi lại tôi, rất ngạc nhiên, rằng tại sao nhà tôi làm nông mà tôi lại có tiền đi chơi, đi du học... Tôi chẳng biết trả lời thế nào. Đây là câu hỏi mà rất nhiều người đã đặt cho tôi. Tôi không có tiền mua vé máy bay nên phải đi xe đạp, tôi thường trả lời như vậy.
Tôi đứng giữa sân hít hà. Tối qua, vì tới muộn nên tôi không nhìn thấy khung cảnh xung quanh. Phía trước nhà Tiểu Ngư là cánh đồng xanh mướt trồng các loại cải, xa xa là nhà cửa, đường sá. Khu này giống hệt quê tôi. Sân nhà Tiểu Ngư liểng xiểng rất nhiều gỗ và dụng cụ làm mộc, có cả mấy cái bàn xoa của thợ xây. Nhà Tiểu Ngư đang sửa, hình như chỉ có hai bố con cậu tự làm tất cả mọi việc. Những đồ đạc này rất quen thuộc với tôi vì bố tôi cũng là thợ mộc. Khi học cấp hai, thậm chí tôi còn tự đóng giá sách và giá treo quần áo cho mình.
Hôm nay, tôi rất thảnh thơi, xuất phát lúc nào cũng được, nhưng Tiểu Ngư có vẻ nhấp nhổm nên tôi dọn dẹp và đi cùng cậu luôn. Hai đứa dừng trước một hàng ăn sáng, Tiểu Ngư gọi ra hai món mà theo cậu là đặc sản ở đây: món mì khô hôm qua tôi đã ăn, và một bát giống bánh trôi nước không nhân pha với rượu nếp mọng.
Ăn sáng xong, Tiểu Ngư lầm lũi đi trước, tôi đạp theo sau. Trung bình Tiểu Ngư đi được tới 20 kmgiờ, nên khoảng cách 30 km cậu chỉ đi hơn một tiếng là tới. Hồi học lớp bốn, tôi từng phải ròng rã đạp xe kiểu nối gót thế này. Tôi học ở xã, sau đó đi thi học sinh giỏi cấp huyện và được chọn lên trường năng khiếu cách nhà 6 km để học tiếp. Tôi không biết đường nên mẹ tôi sẽ đạp xe đi trước, tôi đạp theo sau. Chiếc xe đạp tôi đi là do bố mua lại của ai đó, giá chỉ có 60 ngàn. Hai tuần liên tiếp như thế, mẹ đạp trước, tôi đạp sau, lúc về tôi sẽ tự đi, cho đến khi tôi quen đường thì mẹ dừng lại.
Trời hôm nay không có nắng, màu trời mù mịt trắng nhờ nhờ theo kiểu quen thuộc của mùa đông. Điều tôi thích nhất khi đến các thành phố lớn là ở đây luôn có làn đường dành riêng cho xe đạp, vỉa hè cũng rộng rãi, thoải mái, nếu đi bộ thì không bị ngắt quãng bởi tiếng chào mời xe ôm. Tuy vậy, đôi khi đang thả hồn trên làn đường riêng, tôi sẽ bị giật mình vì xe ba gác, xe tuk tuk và xe điện đi ngược chiều lao như điên.
Tôi và Tiểu Ngư chia tay nhau ở đoạn giao với quốc lộ. Đây là khu đô thị mới nên xung quanh trống trải, nhưng đường rất đông vì đang là giờ cao điểm. Có lẽ do tôi đang tiến dần về phía Nam nên hai bên đường, cây cối xanh hơn, người ta tận dụng trồng rau cải, rau thơm khiến con đường nhìn rất có sinh khí. Các cô chú lao công bên đường đang quét đá vụn do xe tải bắn ra.
Trời bắt đầu mưa lác đác nhưng khá nặng hạt. Tôi không mặc áo mưa vì ghét cảm giác bùng nhùng như bị nhồi thêm một lớp bông. Vừa đi, tôi vừa nhìn từ cột mốc đến biển số, tôi đoán xem chiếc xe vừa đi qua thuộc tỉnh nào, hoặc tôi cộng các con số lại xem được bao nhiêu nước như chơi ba cây.
Cách điểm đến 20 km, Tiểu Tịch gọi điện và nói sẽ đợi tôi đến rồi cùng đi ăn. Tiểu Tịch là người tôi sẽ gặp hôm nay, là em gái sinh năm 1992 tôi mới quen mùa hè vừa rồi. Đợt ấy, Tiểu Tịch đi du lịch phía Tây Bắc rồi ở lại nhà nghỉ tôi đang làm việc 3 ngày. Tôi rất vui khi có cơ hội gặp lại Tiểu Tịch vì kiểu quen biết trên đường, dù có thường xuyên nhắn tin nhưng chúng tôi cũng rất khó có cơ hội gặp lại nhau.
Càng gần đến thành phố, xe tải đi lại càng dày đặc. Tôi đạp xe qua một khu nhà máy, mùi bánh nướng từ quầy bánh của một cụ già tỏa ra thơm quá khiến tôi không đừng được. Cụ già nướng bánh bằng một cái thùng phuy to ngăn thành nhiều lớp xếp tầng, bên trong chứa than. Bánh của cụ không biết làm bằng loại bột gì nhưng rất dẻo. Khi bánh gần chín, cụ sẽ quết thêm một lớp mật hoặc đường vừa thơm vừa ngọt.
Đến giữa trưa, tôi dừng chân ở một đèn đỏ, sau đó phải di chuyển từng mét vì đường rất đông. Một bạn nam đi ngay bên cạnh tôi, râu ria xồm xoàm có vẻ đáng sợ, cứ nhìn chằm chằm vào tôi. Đèn xanh, tôi đạp vượt lên, bạn nam này đuổi theo và hỏi những câu quen thuộc: “Đang đi đâu? Từ đâu đến? Điểm tiếp theo có chỗ ngủ chưa? Có thể về chỗ tôi...” Tôi tròn mắt nhìn. Bạn nam vội giải thích rằng khi đi du lịch, bạn cũng hay xin ngủ nhờ nên khá thoải mái, cứ nói ra như vậy mà không suy nghĩ. Tôi từ chối vì đã có chỗ ngủ nhờ. Bạn nam lại bảo tối nay sẽ mời tôi và Tiểu Tịch đi ăn. Tôi chỉ ậm ừ, không để lại số điện thoại.
Đã nửa năm nay tôi không gặp Tiểu Tịch. Khi đến điểm hẹn là một cái siêu thị, tôi đứng ở bậc thang dưới, Tiểu Tịch đứng ở trên, Tiểu Tịch vẫy tay mãi tôi vẫn không nhận ra vì nhìn em quá khác. Tiểu Tịch trang điểm, tóc dài hơn, để xõa và uốn xoăn phần đuôi, đi giày cao gót. Hồi mùa hè, lúc nào Tiểu Tịch cũng đội mũ kín, đeo khẩu trang, đi giày đế mềm và mặc quần jeans. Lúc ấy, Tiểu Tịch đang buôn quần áo Trung Quốc xuất khẩu, em rất tự hào rằng tất cả quần áo trên người em đều có giá không quá 30 tệ vì toàn bộ là hàng tuồn hoặc hàng hết mùa, thậm chí cái áo Zara em đang mặc chỉ có giá 6 tệ.
Thành phố Vũ Hán chia làm hai phần, ngăn cách bởi con sông Trường Giang. Tiểu Tịch ở phía Bắc, khu Giang Hán. Chúng tôi phải đi khá xa để tới được chỗ này, qua rất nhiều con phố và những khu mua sắm đi bộ. Dù trời mưa nhưng người ta vẫn ra vào tấp nập các cửa hàng thời trang. Siêu thị và các trung tâm mua sắm san sát mà vẫn rất đông người mua. Đến một tòa nhà, ở dưới là trung tâm thương mại sầm uất, Tiểu Tịch chỉ lên và nói em đang ở tầng thứ ba mươi.
Khi bước vào tòa nhà, tôi càng ngạc nhiên hơn nữa: ở đây có phòng lễ tân, có bảo vệ, cửa an ninh hệt như một khách sạn sang trọng. Trước khi gặp Tiểu Tịch, ấn tượng của tôi về em là một người “nghèo bon chen”*.
Một phòng ở vị trí như thế này là điều trước đây Tiểu tịch không bao giờ dám thuê, em chỉ dám đứng ở dưới sân trung tâm thương mại và ngước lên nhìn. Tiểu Tịch vốn chỉ dám thuê những phòng trong các dãy trọ, giá chỉ vài trăm tệ một tháng. Em mơ ước về căn phòng như thế này từ rất lâu, rồi quyết định mỗi tháng sẽ tiêu ít hơn, thay vì cả ngày làm quần quật rồi ngược đãi bản thân, trở về một nhà trọ chật hẹp.
Nhìn bên ngoài, trung tâm thương mại rất hào nhoáng nhưng các căn hộ bên trong cũng bình thường. Phòng của Tiểu Tịch có giá 1.500 tệ, là một phòng trong một căn hộ. Phòng rộng khoảng 20 m2, có đầy đủ giường tủ, bàn ghế nhưng không có bếp và đồ nấu ăn. Phòng có một ban công rất đẹp, nhìn bao quát được khu mua sắm bên dưới.
Tiểu Tịch ở chung với một chị cùng chung vốn làm ăn với em. Lúc tôi lên phòng, có mẹ và em gái Tiểu Tịch từ quê lên chơi và chuẩn bị đi về. Em gái của Tiểu Tịch đang học cấp hai, nhìn rất sành điệu, đối lập với mẹ Tiểu Tịch dáng người nhỏ nhắn, giọng nói đặc sệt tiếng địa phương. Bác mang theo rất nhiều đồ đạc đựng trong các túi vải, gánh bằng quang gánh. Trước khi tiễn mẹ ra bến xe, Tiểu Tịch chỉ cho tôi chỗ máy giặt. Theo trải nghiệm của em, khi đi du lịch bụi, ngoài chuyện ăn ở, mối quan tâm lớn thứ hai là chỗ giặt và phơi quần áo. Tôi lôi hết đồ ra giặt, chỉ còn chừa bộ đang mặc trên người.
Trong lúc chờ Tiểu Tịch, tôi nhảy lên cân cân thử. Tôi đã sút 4 kg. Cả chục năm nay, tôi chỉ tăng cân mà không giảm. Tên hồi nhỏ của tôi ở nhà là Xuyến Xồm, vì tóc tôi xù, dựng đứng lên. Theo thời gian và sự tăng cân của tôi, mọi người chuyển sang gọi tôi là Xuyến Béo.
Tầm một giờ trưa, Tiểu Tịch về, đưa tôi ra khu phố ẩm thực gần nhà. Trời mưa nhưng khu phố đông nghịt người, chủ yếu là học sinh và thanh niên. Hai bên đường có những dãy hàng ăn, ở giữa là một lối đi nhỏ chừng 4 m, chật kín người.
Chúng tôi ăn từ món Hàn tới món Trung và đồ ăn Tây, từ trái qua phải: khoai tây vòng, bánh bao nước * đặc sản Vũ Hán theo lời Tiểu Tịch - đậu phụ tam tươi *, đậu phụ thơm (đậu phụ thái mỏng rán lên, rắc hành, tương ớt và các gia vị khác. Vì không có mùi như đậu phụ thối nên tôi tạm gọi đây là đậu phụ thơm*). Tôi còn ăn cả một loại bánh bằng bột nếp mà tôi không nhớ tên, khá giống mochi của Nhật. Tôi đoán đây là bánh mochi đã được thay đổi cho hợp với khẩu vị Trung Quốc.
Ăn xong, dù trời lất phất mưa nhưng tôi và Tiểu Tịch vẫn quyết định đi dạo ra bờ sông. Khu này chẳng nhìn thấy gì ngoài một lớp sương mờ mịt, có lẽ một phần do hơi nước bốc lên từ mặt sông, một phần do khói bụi ô nhiễm khá phổ biến ở mùa đông miền Bắc. Tôi không nhìn sang được bờ bên kia xem sông Trường Giang trong truyền thuyết rộng lớn đến thế nào.
Hai bên bờ sông được tận dụng làm công viên nhưng khá đìu hiu, cỏ khô úa, cây cối thưa thớt. Trong công viên, có một bác tầm 60, 70 tuổi đứng giữa một ngôi đình, đọc to bằng tiếng Anh những đoạn văn ngắn để luyện phát âm. Tiểu Tịch bảo ngày nào bác cũng ra đây vào giờ này để luyện tiếng Anh. Vừa đi dạo, tôi và Tiểu Tịch vừa ôn lại kỷ niệm mùa hè, về cuộc sống trước đây của em.
Tiểu Tịch sinh ra ở vùng nông thôn miền núi tỉnh Hồ Bắc, lớn lên, em đi làm công nhân ở Quảng Đông, rồi về Vũ Hán làm đủ các nghề. Sau hai năm, Tiểu Tịch tích cóp được 25.000 tệ, chung vốn với một chị để mở một cửa hàng quần áo. Đây là một cửa hàng bán buôn, cả ở cửa hàng và trên mạng. Cửa hàng mở cả ngày và tối, có nhận giao hàng tận nơi. Hằng tuần, hoặc vài lần một tháng, Tiểu Tịch ngồi tàu từ Vũ Hán đến Quảng Đông để lấy hàng. Dù có thể ngồi ở nhà gọi điện và yêu cầu họ chuyển hàng tới nhưng Tiểu Tịch muốn tới tận nơi để chọn mẫu. Cửa hàng của Tiểu Tịch kinh doanh khá tốt. Mục tiêu hiện tại của Tiểu Tịch là mua một cái máy ảnh cơ đắt tiền và đi Tây Tạng.
Bố mẹ của Tiểu Tịch từng đến thăm cửa hàng quần áo của em và thấy không hài lòng. Bố Tiểu Tịch chê cửa hàng nhỏ, một ngày bán ra chẳng được bao nhiêu. Đối với Tiểu Tịch, đó là một chút thành tựu cá nhân vì tất cả do một mình em tay trắng lập nghiệp. Từ khi còn làm công nhân ở Quảng Đông, Tiểu Tịch đã luôn tâm niệm mình phải chăm chỉ dành dụm để làm gì đó cho bản thân chứ không thể đi làm thuê suốt đời. Số vốn em còn lại đã trừ đi phần tiền gửi cho gia đình ở quê mỗi tháng và vào dịp Tết. Tôi rất khâm phục Tiểu Tịch vì em nhỏ tuổi hơn mà chịu khó chịu khổ được suốt hai năm chỉ vì mục tiêu này.
Hai năm làm công nhân ở Quảng Đông và làm đủ nghề ở Vũ Hán, có rất nhiều chuyện Tiểu Tịch muốn nói. Ở Quảng Đông, em không ở trong ký túc xá mà thuê nhà bên ngoài. Khi đi làm về muộn, Tiểu Tịch hay bị người khác theo dõi. Vài lần em bị một tên biến thái đi theo về nhà. Một người đàn ông ở phòng bên cạnh hay lấy trộm quần áo của em, rồi nhắn tin tán tỉnh, khủng bố... Trong công việc, Tiểu Tịch gặp rất nhiều lời đề nghị khiếm nhã, rất nhiều cám dỗ và cạm bẫy.
... Trước đây, khi còn làm việc trong quán nướng ở Bắc Kinh, tôi có quen hai chị cũng làm bán thời gian như tôi. Ban ngày, hai chị làm việc trong căng tin trường tôi từ sáng sớm đến bảy giờ tối, buổi tối tranh thủ bốn tiếng đi làm ở quán nướng này. Tại căng tin, công việc của hai chị là đứng ở quầy lấy đồ ăn cho sinh viên, ấn giá tiền để sinh viên quẹt thẻ.
Ở trường tôi, hai chị được bao ăn, được ở trong tầng hầm phía dưới ký túc xá nữ. Một chị lớn hơn đã kết hôn, chồng chị cũng làm trong trường nhưng hai người phải ở khác phòng vì làm việc khác ban. Mỗi phòng ở tầng hầm sẽ có ba giường tầng dành cho sáu người. Buổi tối, mười giờ hệ thống nước ở nhà tắm đã ngắt, phòng tắm tập thể rất xa, đi làm ở quán nướng về, hai chị phải lên nhà vệ sinh tầng một ở ký túc xá nữ, lấy nước lạnh từ bồn rửa mặt để vào nhà vệ sinh tắm.
Ở quán nướng, làm nhân viên bán thời gian còn có một bác gái đã ngoài 60 tuổi. Theo bác kể, toàn bộ không gian nhà trọ của bác là một cái giường, mỗi tháng phải trả 270 tệ. Ban ngày, bác đi làm tạp vụ ở một quán ăn khác, được trả 8 tệgiờ, buổi tối làm ở quán nướng được trả 40 tệ, nếu ít khách sẽ được về sớm và bị trừ tiền.
Tôi không biết tên bác, mọi người đều gọi bác là dì. Bình thường, bác rất nhanh nhẹn và vui vẻ, cho đến một hôm, có một chú đến quán, vào đúng giờ làm việc của bác, gọi mấy chai bia và ít đồ nướng, rồi cứ nhìn chằm chằm vào bác. Tôi không hề biết chuyện gì. Anh quản lý kể rằng đây là người sống chung với bác, ít tuổi hơn bác rất nhiều, không có nghề nghiệp gì, thường xuyên đánh đập bác. Khi bác dồn mọi lý trí để chia tay chú này, thậm chí còn đổi cả chỗ ở, ngày nào chú cũng đến chỗ làm của bác để khủng bố tinh thần. Tiền ăn tại quán chú nói trừ vào tiền lương của bác. Sau khi không làm ở quán nữa, thỉnh thoảng tôi vẫn hỏi thăm tình hình mọi người. Bác vẫn làm ở đấy, chú kia không tới quán nữa nhưng trên mặt bác vẫn có các vết bầm...
So với Tiểu Tịch trong quá khứ, nơi ở và đãi ngộ của ba người tôi quen ở quán nướng có lẽ vẫn tốt hơn nhiều. Điều duy nhất Tiểu Tịch hơn họ, có lẽ là một mục tiêu rõ ràng.
Theo những gì tôi được nghe kể, Tiểu Tịch có chính kiến từ nhỏ, em tự tìm việc làm từ năm mười mấy tuổi, tự quyết định mọi chuyện. Gần đây, Tiểu Tịch muốn đi niềng răng, nhưng mẹ em nhất quyết phản đối vì em sẽ phải chịu đau và đeo thứ xấu xí trên răng trong suốt hai năm. Ngày Tiểu Tịch đến gặp nha sĩ, mẹ em còn chạy đến phòng khám để ngăn cản nhưng Tiểu Tịch vẫn quyết làm.
Tất cả những chuyện như tự mở cửa hàng, chọn lựa công việc... bố mẹ Tiểu Tịch đều phản đối. Gần đây, họ liên tục giục Tiểu Tịch tìm đối tượng kết hôn. Theo lời bố mẹ em, con gái quá mạnh mẽ và quá tự lập thì khó mà lấy chồng được. Còn theo lời Tiểu Tịch, em có thể tự lo cho bản thân, tại sao phải tìm một người nào đó để chu cấp cho mình?
Buổi tối, khi về nhà, tôi gặp chị cùng làm với Tiểu Tịch. Chị sinh năm 1987, tóc dài nhuộm màu hung, đeo kính cận màu đen, vì đeo kính lâu năm nên mắt chị nhỏ xíu. Nhìn chị không giống người đi buôn.
Trời mưa nên tôi và hai vị chủ nhà loanh quanh ở khu trung tâm thương mại để chọn một chỗ ăn. Nhà hàng nào chúng tôi cũng không ưng, lúc thì quá sang trọng, lúc thì không thích món ăn. Cuối cùng, ba đứa vào một nhà hàng có nội thất rất sang trọng, salon phủ nhung hoặc ghế tựa mạ vàng, đến ngay cả nắp vung nổi lẩu cũng mạ vàng, ngăn cách mỗi bàn ăn là rèm dây màu tím. Bên trong chẳng có vị khách nào, chúng tôi chọn một chỗ ngồi rộng nhất, ở chính giữa nhất, mỗi người gọi một nồi lẩu ăn riêng.
Nước lẩu tôi chọn là loại thanh đạm, không có ớt, dầu, sa tế hay gia vị gì, chỉ có nước xương hầm, táo tàu và một số loại nấm khô. Hai người kia chọn nước lẩu cà ri đỏ ngòm. Quán vắng tới mức chỉ cần đặt đĩa xuống bàn cũng vang.
Mối lo duy nhất của chị ở cùng Tiểu Tịch là chuyện hẹn hò và chồng con. Chị bị giục nhiều quá, ban đầu còn phản kháng, sau đó thấy chai sạn, rồi chị bị thuyết phục lúc nào không hay. Bây giờ, chị chỉ muốn tìm một anh chàng bất kỳ để cưới. Tiểu Tịch tuy chưa hẹn hò bao giờ nhưng rất hay làm quân sư cho chị. Em khuyên chị phải dịu dàng, nữ tính, đừng quá thô kệch người ta sẽ chạy mất. Theo lời Tiểu Tịch nói, trong lòng chị có cảm tình với người này người kia, nhưng lời nói cũng như biểu hiện của chị lại tỏ vẻ chẳng có gì thiết tha, nên người ta hiểu nhầm và bỏ qua chị.
Tiểu Tịch và chị bạn khá hợp nhau cả về kinh doanh, sở thích. Mỗi năm cửa hàng đóng cửa một, hai lần, mỗi lần vài tuần để chủ nhân đi du lịch, nhưng hai người không đi cùng nhau. Chị bạn Tiểu Tịch đi du lịch vì hy vọng ở một nơi nào đó chị sẽ gặp được một người nào đó phù hợp.
Diaosi (điểu ti - tạm dịch: nghèo bon chen) là từ tôi thấy người Trung Quốc vẫn hay dùng khi nói về những người không có nhiều tiền nhưng vẫn đi chơi, dùng mọi cách trong khả năng để thực hiện được mong muốn của mình. Từ này có nghĩa khá rộng.
Diaosi trong ngôn ngữ mạng thường dùng để chỉ những người mang đặc điểm như: nghèo, xấu, lùn, đơ, mập... Đây lả một cách nói tương đương với Ải Tọa Cùng (thấp, béo, nghèo), tương phản với Cao Phú Soái (cao, giàu, đẹp trai) hay Bạch Phú Mỹ (trắng, giàu và xinh gái). Đặc điểm nổi bật của những người nghèo bon chen là nghèo, nhà hay xe lá những thứ không dám nhắc đến. Đầu năm 2012, tính từ này thịnh hành trong ngôn ngữ giới trẻ, trở thành một từ trào phúng mang tính xã hội. ở thời điểm hiện tại, từ này được dùng trong nhiều văn cảnh và được hiểu rộng hơn.
Tham khảo thêm tại trang wiki tiếng Anh: http://enwikipediaorgwikiDiaosi↩
Bánh bao nhân thịt và nước, khi hấp lên, nước từ thịt sẽ chảy trong bánh bao, khi cắn, nước trào ra khá đậm đà, nhưng ai không biết ăn thì sẽ bị dây ra người. Tôi bị nước canh bắn ướt một bên quần.↩
Đậu phụ tam tươi thực ra là xôi nếp đã chưng lên, tán mỏng ra, bên trên rắc một lớp thịt ba chỉ thái hạt lựu, cắt thành những khoanh nhỏ như đậu phụ, ăn khá giòn.↩
Đậu phụ Trung Quốc có tám họ cơ bản:
Đậu phụ nước: gồm loại đậu phụ chắc (đậu phụ Bắc), hoặc loại mịn, mềm (đậu phụ Nam)
Đậu phụ bán thủy (ví dụ như Bách Diệp, Thiên Trương...): có màu như giò lụa, nhiều lỗ.
Đậu phụ chiên (ví dụ đậu phụ chiên nổi, chiên sợi...)
Đậu phụ tẩm ướp (đậu phụ sợi tẩm ngũ vị hương, ớt... có nhiều kiểu gia vị khác nhau)
Đậu phụ chế biến thành các món chay thay thế cho xúc xích, thịt gà...
Đậu phụ đông lạnh.
Đậu phụ khô (váng đậu, phù trúc, bọt đậu được cắt thành từng khoanh như bánh mì gối)
Đậu phụ lên men (đậu phụ thối, chua đậu...)
Ngoài ra còn có các loại nước đậu nành, tào phớ (tào phớ mặn ăn với hành lá, bột ớt ngâm dầu, dấm gạo...), da đậu (mỏng như tấm vải, cắt thành từng sợi nhỏ như nấm kim châm)... ở các siêu thị ở Trung Quốc luôn có một tủ kính dài bày các loại chế phẩm từ đậu phụ.↩