
Chuyện linh tinh ở Bắc Kinh
Tôi bắt đầu thực hiện cuốn sách này khi về tới Việt Nam.
Trong đầu tôi chỉ toàn những dự định lên đường. Tôi về Việt Nam để hoàn thành nốt những việc còn dang dở, như kể lại hành trình 30 ngày vừa qua của mình. Có thể tôi sẽ tiếp tục đi làm, nhưng là để kiếm tiền đi tiếp. Tôi có thể vừa đi làm, vừa đi chơi, vừa xoay xở đủ mọi cách để sống được. Tôi sẵn sàng bỏ sức lao động chỉ để kiếm một chỗ ngủ.
Luôn luôn là một cuộc sống bấp bênh chờ đợi những người thích đi du lịch bụi như tôi, nhưng đổi lại, tôi sẽ có nhiều trải nghiệm. Dù sao, tôi nghĩ: chỉ cần vượt qua được một số khó khăn nhất định, những biến cố tiếp theo xảy tới với mình cũng sẽ giảm đi độ khó.
Vì dù sao, chuyến đạp xe từ Bắc Kinh về Hà Nội vừa rồi của tôi cũng không phải thử thách lớn nhất tôi từng vượt qua.
Trong hai năm du học ở Trung Quốc, tôi mang một số nợ khá lớn. Thời học đại học, tôi hay nghỉ học đi làm thêm nên không có điểm chuyên cần, điểm các môn ở lớp cũng không đều, tôi không tự tin để xin học bổng. Tôi không có tiền để đi du học, bố mẹ tôi thì càng không có. Tôi nghĩ tới phương án đi vay và sẽ trả dần.
Tôi giấu bố mẹ làm thủ tục đi học thông qua một công ty môi giới. Tôi phải trả cho họ 6.000 USD - số tiền này tôi vay của sếp cũ người Trung Quốc. Tôi từng giúp ông các bước ban đầu để khảo sát thị trường và thuê mặt bằng kinh doanh ở Việt Nam. Tôi cũng không hiểu vì sao ông lại đồng ý cho tôi vay tiền, ông chỉ bảo ông có con mắt của người kinh doanh. Tôi hứa với ông mỗi tháng sẽ trả 5 triệu tiền Việt. Trong hai năm tôi sẽ trả hết nợ.
Khi sang Trung Quốc, trong túi tôi có 800 tệ*. Tôi không quen ai ở Bắc Kinh. Du học sinh Trung Quốc không được phép đi làm thêm. Tôi đi loanh quanh khắp các quán ăn gần trường để tìm việc làm nhưng đều bị từ chối - họ không muốn nhận du học sinh, thời gian của tôi cũng không phù hợp. Sau một thời gian tìm kiếm mà không có kết quả, lại phải đối mặt với khoản nợ, tôi rất căng thẳng nhưng không dám nói với ai.
Tôi không thể chia sẻ với ai những khó khăn của mình. Tôi không dám nói với bố mẹ. Ý định của tôi khi đi du học là để cứu vãn niềm tự hào của bố mẹ về tôi. Tôi không dám kể với bạn bè. Tất cả bạn tôi đều vừa mới ra trường, đều vừa đi làm và tất cả đều nghèo. Chẳng ai có tiền cho tôi vay. Và dù sao, vay tiền ai thì tôi vẫn phải trả, chỉ là chuyển từ chỗ nợ này sang chỗ nợ khác, hoặc tăng thêm các chủ nợ, tôi chẳng giải quyết được vấn đề gì.
Những lần căng thẳng, tôi thường đi bộ, cứ đi mà chẳng suy nghĩ gì. Có lần tôi đi bộ từ trường học đến Thiên An Môn, khoảng cách giữa hai nơi là 15 km. Hôm đó là Quốc khánh Trung Quốc, tôi đi từ mười rưỡi tối tới hai, ba giờ sáng.
Có lần tôi đi bộ từ trường tới Vĩnh Hòa Cung và bị lạc đường. Tôi nhìn thấy những người vô gia cư nằm lăn lóc dọc đường. Họ ngủ trong công viên, trong nhà vệ sinh công cộng, ngồi co ro trên ghế đá hoặc dựa người vào bờ tường. Họ gối đầu lên các bao hành lý, dưới chân cũng đặt những bao tải. Tôi nghĩ tôi sẽ sớm giống như họ. Tôi vào một quán KFC vẫn còn mở cửa, gọi một cốc trà sữa, ngồi đọc truyện rồi ngủ chừng hai, ba tiếng. Trong đêm ấy, tôi đã thử trải nghiệm cuộc sống của một người vô gia cư. Nhà vệ sinh công cộng là chỗ sạc pin, tắm rửa. Đến năm rưỡi sáng, tàu điện ngầm bắt đầu hoạt động, tôi đi tàu về trường.
Có lần tôi đi lang thang trong công viên và nhìn thấy những người lao công. Tôi nói chuyện với họ, hy vọng tìm được một việc gì đó. Tất cả những người lao công ở Trung Quốc mà tôi từng nhìn thấy đều khoảng 60,70 tuổi, hầu hết là những ông già gầy gò, nhăn nheo, mặt đen sạm, mặc quần áo màu cam. Giờ nghỉ trưa, họ ngồi cùng nhau dưới một gốc cây và gặm màn thầu - một loại bánh bao không nhân, rất khô, giá hơn 1.000 đồng tiền Việt. Tôi ăn một cái là thấy no. Tôi bắt chuyện với một bà lao công và bày tỏ ý định của mình, nhưng bà trả lời tôi rằng tôi sẽ không thể làm được công việc này, phần lớn họ chỉ tuyển người già, hơn nữa thời gian của tôi cũng không phù hợp. Bà không hề biết tôi không phải là người Trung Quốc.
Trong lúc chưa tìm được việc làm, tôi vẫn đi học bình thường. Tôi vẫn còn 800 tệ. Tôi chờ đến khi có tiền học bổng và tiền hỗ trợ ổn định cuộc sống từ nhà trường. Tôi chờ và không biết phải chờ trong bao lâu. Tôi được trường miễn học phí, miễn phí chỗ ở, mỗi tháng họ còn cho tôi 1.700 tệ tiền sinh hoạt. Người ta nói đầu tháng sẽ có tiền. Mấy ngày tôi lại lên văn phóng nhà trường hỏi một lần. Tôi đã chờ 12 ngày, tới ngày 10/9/2012 thì có tiền.
Trong thời gian ấy, tôi không bắt chuyện với ai trong lớp. Cảm giác tự ti quá lớn. Lớp tôi có ba người Việt Nam, kể cả tôi, nhưng những người quen đầu tiên của tôi lại là hai chị người Thái Lan và một anh người Đức. Hai chị người Thái nói chuyện với tôi trước vì họ nghĩ tôi cũng là người Thái, da tôi rất đen. Hai chị bị “lừa” sang đây học, họ đóng cho người môi giới hai năm học phí nhưng người này chỉ nộp cho trường học phí một năm rồi bỏ trốn. Nếu muốn học tiếp, hai chị phải kiếm tiền thêm để trả. Khi ngồi với nhau, vấn đề được đề cập nhiều nhất giữa chúng tôi là chuyện tiền nong của hai chị. Tôi chỉ ngồi nghe, không nói gì tới chuyện của mình.
Loay hoay chừng nửa tháng thì tôi tìm được việc ở một quán ăn sáng. Họ cần tìm một người làm bánh bao và làm quẩy, mức lương là 20 tệgiờ. Tôi đến xin việc và làm thử một buổi. Các cô nhân công ở quán dạy tôi gói bánh bao nhưng tôi làm mãi vẫn không thành công. Gói bánh bao không được, tôi chuyển sang thái đồ và bị đứt tay. Các cô nhìn tôi thương cảm: “Chắc ở nhà mày không phải làm gì đúng không?”
Công việc ở đây bắt đầu từ một giờ sáng, gói bánh tới bốn giờ sáng, bán bánh đến sáu giờ sáng thì tôi về nhà chuẩn bị đi học. Lớp học của tôi thường bắt đầu lúc chín giờ. Tôi nghĩ rất đơn giản rằng cứ việc gì có tiền thì tôi sẽ làm, nhưng tôi không chịu nổi và phải xin nghỉ.
Một lần lên mạng, tôi tình cờ tìm được một quán BBQ ở gần trường đang tuyển nhân viên bán thời gian. Sáng tìm ra địa chỉ, chiều tôi tới xin việc luôn. Tôi nói chuyện với ông chủ suốt hai tiếng nhưng không hề biết tiền lương của mình sẽ được bao nhiêu vì người quản lý không có mặt ở quán. Câu chuyện giữa tôi và ông chủ chỉ xoay quanh chuyện Việt Nam như thế nào? Ở đất nước tôi thì có thể làm ăn gì được? Khoảng 2, 3 ngày sau, khi đã từ bỏ hy vọng, tôi nhận được điện thoại của anh quản lý quán. Anh nói tôi có thể làm hai việc: bưng bê hoặc nhận gọi món. Tôi nghĩ nếu nhận gọi món, tôi sẽ phải tiếp xúc trực tiếp với người Trung Quốc, qua giọng nói người ta sẽ phát hiện ra tôi không phải là người bản địa. Tôi liền chọn việc bưng bê.
Thời gian làm phục vụ ở đây, một ngày của tôi chỉ xoay quanh ba việc: đi học, về ký túc xá thay quần áo và đi làm. Tôi chạy đi chạy lại ở quán BBQ khoảng bốn tiếng rồi đi về. Chỗ làm của tôi chỉnh đồng hồ nhanh 10 phút, chúng tôi sẽ đến làm theo đồng hồ của mình, về theo giờ đồng hồ của họ. Khi ra về, người tôi nồng nặc mùi thịt nướng.
Mặc dù vậy, công việc ở đây khá vui. Mọi người biết tôi là người nước ngoài nên cũng không làm khó gì tôi cả. Mỗi khi có bạn bè tới, ông chủ quán thường gọi tôi ra và khoe với khách rằng ở quán có một con bé nước ngoài làm việc. Tôi chỉ có cảm giác cô đơn khi đi làm về một mình, nhất là những hôm tuyết rơi. Về nhà tắm rửa, học bài, tới mười hai giờ đêm thì đi ngủ. Tôi không bị thiếu ngủ, không đến lớp muộn và cũng không bị ảnh hưởng tới sức khỏe. Tôi vẫn còn cuối tuần được nghỉ để học và đi chơi.
Người quản lý quán BBQ không hề hỏi giấy tờ của tôi. Nếu làm việc chăm chỉ, tôi sẽ kiếm được khoảng 1.000 tệtháng. Cộng thêm 1.700 tệ tiền sinh hoạt phí hằng tháng do nhà trường cấp, trừ tiền trả nợ, mỗi tháng tôi còn 1.200 tệ để chi tiêu.
Tôi được tiêu chuẩn ở phòng 1.500 tệtháng miễn phí trong ký túc xá. Tôi ở đây một kỳ, sau đó chuyển sang phòng ở ba người để được hỗ trợ 300 tệtháng. Học kỳ tiếp theo, thấy những người khác thuê nhà bên ngoài rẻ hơn, tôi chuyển về phòng ký túc 1.500 tệ và cho người khác thuê lại phòng mình, còn tôi chuyển ra ngoài ở với giá thuê chỉ còn một nửa.
Phòng tôi thuê ở ngoài có giá 700 tệtháng, ngoài ra tôi còn mất 600 tệ cho “cò” và phải trả tiền đặt cọc. Sau khi ký hợp đồng trực tiếp với “chủ nhà”, tôi phát hiện ra cô chủ cũng thuê nhà của người khác rồi chia phòng và cho thuê lại. Cô ở ngay sát phòng tôi, hằng ngày chẳng làm gì trừ việc đi thu tiền nhà. Cô thuê chừng ba, bốn cái nhà như thế này và cho thuê lại.
Phòng tôi ở là một phòng nhỏ trong căn hộ chung cư khoảng 70 m2, ngăn thành tám phòng bằng vách gỗ dán. Ở đây chỉ có hai nhà vệ sinh, một cái nằm trong phòng lớn nhất có giá thuê 2.000 tệtháng, cái thứ hai nằm ở ngoài và bảy phòng còn lại dùng chung.
Ở cùng nhà với tôi còn có một chú bán đồ nướng vỉa hè vào buổi tối, một chú môi giới nhà đất, một cô thu ngân siêu thị, một bạn nữ mới ra trường... Dù nhà có bảy, tám phòng nhưng chúng tôi chẳng mấy khi gặp nhau.
Phòng tôi vẫn chưa phải loại rẻ nhất ở đây. Phòng tối, loại 500 tệtháng thì không hề có cửa sổ, chỉ rộng 6 m2. Phòng của tôi vẫn có cửa sổ, rộng 8 m2, để vừa một cái giường cá nhân, một tủ quần áo và xe đạp. Bình thường tôi chỉ ở đây buổi tối, còn ban ngày tôi đi học, lên thư viện hoặc đi làm.
Ngay cạnh phòng tôi là một phòng tối. Tôi ở đây ba kỳ học nhưng chưa từng nhìn thấy mặt hàng xóm. Có vẻ bạn ấy là một sinh viên mới ra trường. Phần lớn sinh viên mới ra trường ở Bắc Kinh sống trong những phòng tối như thế này, hoặc sống trong tầng hầm. Những tầng hầm này cũng nằm trong các chung cư ở Bắc Kinh, được ngăn thành các phòng có rất nhiều giường tầng và cho thuê theo giường. Tôi có quen một người ở giường tầng như thế, mỗi tháng bạn phải trả 270 tệ, toàn bộ diện tích sinh hoạt chỉ là một cái giường cá nhân, còn các sinh hoạt khác như tắm rửa... thì ra nhà tắm công cộng*.
Ở Trung Quốc cũng có những chung cư cho người mới đi làm, cũng có giường tầng, từ sáu đến tám người một phòng và đóng tiền theo tháng với giá chỉ 500 tệ. Cũng giống như phòng tối, nơi đây thường dành cho những người mới lên Bắc Kinh tìm việc, hoặc sinh viên mới ra trường chưa có nhiều tiền. Họ có thể ở tạm chỗ này một vài tháng, sau đó sẽ đi tìm chỗ ổn định hơn*.
Mặc dù vậy, tài khoản ngân hàng của những người sống ở nhà tạm, hay ở dưới tầng hầm, trong phòng tối... có bao nhiêu tiền thì không ai biết được. Cuối tuần, tôi thường ra ngoại thành chơi với một người bạn làm công nhân tên là Lượng Lượng. Lượng Lượng có một anh bạn người Hà Bắc. Dù chỉ kiếm được 2.000 tệtháng nhưng sau năm, sáu năm đi làm, ăn tiêu tiết kiệm và dành dụm, anh bạn này sắp mua ô tô. Mua xe là bước đầu tiên, sau đó anh sẽ mua nhà, và cuối cùng là lấy vợ.
Ở Bắc Kinh, thuê một căn hộ 15 m2 mất ít nhất 1.500 tệtháng, ngoài ra phải trả thêm tiền môi giới, tiền đặt cọc, và thường phải ký hợp đồng sáu tháng đến một năm, nên tổng số tiền bạn phải trả có khi lên tới 7.000 tệ. Hết một năm, hết hợp đồng, bạn lại phải đặt cọc tiếp, nếu không ở hết số thời gian đó thì sẽ mất tiền cọc. Ra ngoại thành, ở những vùng cách Bắc Kinh khoảng 60 km, một cái nhà như thế giá thuê chỉ tầm 300-400 tệ. Có nhiều người chọn thuê nhà ở xa, hằng ngày ngồi xe buýt chạy đường cao tốc mất khoảng một, hai tiếng để tới chỗ làm. Tôi còn biết có những người làm ở Bắc Kinh nhưng thuê nhà ở Thiên Tân, cách nơi làm việc 150 km.
Có một lần tôi tới nhà Lượng Lượng chơi đến tối muộn, phải chờ sáng hôm sau mới về được Bắc Kinh. Hôm đó, tôi dậy từ năm giờ sáng, ngồi hai chuyến xe buýt và đi tàu điện ngầm mất ba tiếng rưỡi để đến công ty. Trên xe buýt có rất nhiều người giống tôi, họ mất ba, bốn tiếng đi làm, ba, bốn tiếng về nhà. Tôi đi xe buýt từ nhà bạn đến bến trung tâm, đổi hai lần tàu điện ngầm mới đến được công ty. Nhưng đổi hai lần tàu như tôi vẫn còn ít, vì không phải ai cũng làm ở trung tâm Bắc Kinh.
Bến tàu điện ngầm là một nơi rất đông đúc, người người hối hả bước như đang hành quân. Sáng sớm, tôi gặp những người vừa hướng về phía tàu điện ngầm vừa cầm đồ ăn sáng ăn vội vã.
Ban đầu, khi mới tới Bắc Kinh, tôi rất háo hức mong được đi tàu điện ngầm, nhưng về sau, tôi giảm thiểu việc phải tới đây. Chưa bao giờ tôi có một chỗ ngồi. Thêm nữa, càng ở nơi đông đúc, cảm giác lạc lõng của tôi càng tăng lên.
Bớt tiền ở, đi làm thêm, ngoài ra tôi còn cố gắng tham gia các đợt phiên dịch ở hội chợ. Gần như tháng nào cũng có những phiên hội chợ của các doanh nghiệp Việt Nam sang Trung Quốc triển lãm, nhưng thỉnh thoảng tôi mới thu xếp được lịch học để đi dịch. Mỗi ngày tôi được trả 300 tệ, mỗi lần hội chợ như thế thường kéo dài 4 ngày.
Trong một thời gian dài, ngày nào tôi cũng lên mạng tìm thông tin việc làm, đều đặn như một cái máy. Trong hai năm ở Bắc Kinh, tôi làm khá nhiều việc: bồi bàn, dịch thuật online, dùng thử phần mềm trên di động (các công ty phần mềm cho điện thoại di động ở Trung Quốc sẽ tìm những người sử dụng phần mềm của họ để kiểm tra xem ngôn ngữ có phù hợp với văn phong, chính tả, phong cách của người Việt Nam không)... Tính đến nay, có lẽ tất cả các trang tìm việc ở Trung Quốc đều có hồ sơ của tôi.
Bằng đủ các con đường kiếm tiền, đến học kỳ thứ ba thì tôi trả hết nợ.
Đến bây giờ, tôi thấy chuyến đạp xe từ Bắc Kinh về Hà Nội của tôi cũng không phải chuyện gì ghê gớm. Chỉ là vấn đề của sự kiên trì - thứ tôi rất thiếu từ trước đến nay. Tôi luôn hứng lên và làm một việc gì đó, nhưng không bao giờ làm đến tận cùng.
Trước khi lên đường về nhà, tôi có 4.900 tệ. Tôi chỉ mang theo 1.500 tệ, gửi số còn lại cho bạn tôi cầm về Hà Nội giúp. Kỳ học đó tôi được nghỉ Tết hai tháng, tôi về trước, bạn tôi vẫn ở Bắc Kinh, nếu có vấn đề gì tôi có thể gọi cho bạn. Mặc dù vậy, tôi luôn nghĩ tất cả những khó khăn trên đường sẽ không đủ lớn để tôi từ bỏ. Sau một thời gian luyện tập và thích nghi, với tôi, việc đạp xe mỗi ngày là chuyện đương nhiên.
Trước đó, tôi từng đi xe máy lên Tây Bắc và đi vào miền Trung, nhưng tôi thường đi cùng bạn. Lần này ở Trung Quốc, tôi chỉ đi một mình.
Với tôi, việc đi một mình rất thú vị. Khi đi với bạn bè, tâm trí của tôi sẽ đặt vào họ, tôi sẽ quan tâm xem họ cảm nhận thế nào, họ nghĩ gì, sau đó mới là những cảnh vật và những người lạ. Khi đi một mình, vì chỉ có bản thân, tôi sẽ quan tâm nhiều hơn tới những thứ bên ngoài, hoặc tôi sẽ có nhiều thời gian để suy nghĩ. Trên hành trình của mình, tôi biết tôi sẽ có nhiều cơ hội tiếp xúc với nhiều con người, lắng nghe nhiều câu chuyện. Những điều ấy sẽ truyền cho tôi khao khát được tự do tự tại, hứng lên là xách ba lô lên đường, không cần bận tâm gì cả.
Tôi nghĩ có hai loại du lịch: nghỉ dưỡng và khám phá - khám phá thiên nhiên và khám phá bản thân. Tôi chọn đi du lịch để khám phá bản thân. Vì thế, tôi tự đặt mình vào hoàn cảnh khó khăn, khổ sở để thử xem phản xạ và khả năng xoay xở của mình ra sao.
Cho tới bây giờ, tôi vẫn không hiểu mình tự đặt áp lực cho bản thân hay là áp lực đó vốn đã có. Nhà tôi có ba chị em gái, một mình mẹ tôi nuôi ba con học đại học. Mẹ tôi chỉ đợi em gái tôi học xong để nghỉ chợ. Cho tới lúc tôi lên đường, nhà tôi vẫn còn nợ 60 triệu. Cho tới lúc đó, mẹ tôi vẫn nói rằng khoản nợ này mẹ và tôi cùng trả. Bố tôi sức khỏe kém. Tôi luôn nghĩ: chừng nào trả hết số nợ này, tôi có thể làm gì tôi thích, đi bất cứ đâu tôi muốn.
Rất nhiều khi tôi cảm thấy bất lực, giống như cuộc sống của mình chỉ xoay quanh việc trả nợ. Trong thời gian đi làm để trả số nợ riêng, thỉnh thoảng tôi vẫn phải gửi tiền về nhà, vì mẹ không hề biết tôi vay tiền để đi du học. Mọi người ở nhà luôn nghĩ cuộc sống ở Bắc Kinh của tôi rất tốt. Vì tôi được bao ăn ở, lại được hỗ trợ cả tiền sinh hoạt, nên giúp mẹ trả nợ là đương nhiên.
Lúc bắt đầu viết cuốn sách này, tôi mới đưa được cho mẹ 20 triệu. Tôi cảm thấy mệt mỏi. Nếu trả nợ xong, mẹ tôi sẽ muốn sửa nhà, sửa nhà xong thì mẹ tôi sẽ muốn làm việc gì đó khác. Nếu bị cuốn vào vòng xoáy ấy, cuộc đời với tôi có lẽ chẳng còn ý nghĩa gì nữa.
Dù chỉ đi làm toàn thời gian ở Trung Quốc hai tháng sau khi tốt nghiệp, thực tình tôi vẫn bị cuốn đi - có nhà, có xe là thành tựu lớn nhất đời. Tôi không biết người Trung Quốc làm thế nào để vừa mua nhà, mua xe, vừa nuôi vợ con và phụng dưỡng bố mẹ già khi lương tháng chỉ có 5.000-6.000 tệ, còn cái nhà tính ra tiền Việt tới mười mấy tỉ đồng mà chỉ được dùng trong 70 năm. Tôi cũng đã hiểu vì sao có những bộ phim ăn khách kể chuyện những cô gái nghèo lấy các anh trai nhà giàu.
Nếu không bị hết hạn visa, tôi e rằng mình sẽ quay trong vòng xoáy đó mãi mãi.
Hoặc nếu không đi du học, có lẽ tôi sẽ làm hướng dẫn viên du lịch, hoặc đi làm ở các khu công nghiệp, lương tháng năm bảy triệu.
Ở thời điểm xảy ra các sự kiện trong cuốn sách này, 1 nhân dân tệ quy đổi bằng 3.350 Việt Nam đồng.↩
Theo một thống kê, hiện tại ở Bắc Kinh có 5.500 tầng hầm. Không ai biết chính xác có bao nhiêu người sống trong những tầng hầm này, con số ước tính là một triệu người: http://tiebabaiducomp/1813098318?bd_source_light=1563095↩
Cũng theo thống kê trong bài viết trên, ở Bắc Kinh có 20 triệu người, một phần ba trong số đó, 7 triệu người là lao động nhập cư.↩