Tôn Tử Truyện

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 53 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Xxx Lừa Kéo Cối Xay – Chắn Nước Bằng Túi Cát
Chương Xxx Lừa Kéo Cối Xay – Chắn Nước Bằng Túi Cát

❊ ❊ ❊

Lại nói Ngô Câu Tỳ cúi mình xuống nhặt lấy thanh gươm, lập cập bước lên phía trước, quỳ đánh “rụp” một tiếng xuống đất, rập đầu liền ba cái khóc khóc không ra lời nghẹn ngào nói:

– Thưa Thẩm tư mã, nô tài nhất định sẽ dâng thủ cấp của người lên cho Sở vương. – Nói xong, dằn lòng cắt đầu của Thẩm Doãn Tuất, rồi cắt lấy một mảnh áo bào của hắn gói lại, đeo vào bên mình, lấy tay bới đất vùi cái thây không đầu ấy xuống một chỗ. Sau khi làm xong những việc ấy, nhìn ra thấy quân Ngô cũng sắp đến gần, Ngô Câu Tỳ liền cắp gươm lên ngựa, xông ra khỏi vòng vây, thúc ngựa cho nhanh, chạy về phía Sính đô.

Vĩ Diên đã về đến kinh đô trước, khóc lóc kể lể với Chiêu vương mọi việc nào là Nang Ngoã thảm hại chạy trốn, Vũ Thành Hắc và Vĩ Xạ lần lượt chết trận, nào là Thẩm Doãn Tuất lệnh cho hắn phải về kinh. Chiêu vương nghe kể, xiết nỗi kinh hoàng, vội cho vời công tử Thân, Tử Tây, Tử Kỳ vào điện để bàn cách đôi phó. Đang lúc định đưa thêm quân đi cứu viện, thì Ngô Câu Tỳ về tới nơi, dâng thủ cấp của Thẩm Doãn Tuất lên, tâu trình mọi việc xảy ra, sau cùng nói:

– Tất cả là do lệnh doãn không dùng kế của tư mã, nên mới đến nông nỗi thua thảm thua hại như thế này!…

Nhìn thấy thủ cấp của Thẩm Doãn Tuất, Chiêu vương bật lên những tiếng bi ai.

– Trời ơi! Không biết sớm dùng tư mã, thật là quả nhân đắc tội quá! – rồi lại quay ra chửi bới Nang Ngoã – Thằng gian tặc hại nước ấy, thế mà cũng dám sống ở đời, sao lợn lòi chó sói không ăn thịt hắn đi!…

Đến lúc này đây Chiêu vương mới nhận ra rằng Nang Ngoã là một kẻ xấu xa, thì than ôi mọi chuyện lại muộn mất rồi!

Chiêu vương cho vời con trai của Thẩm Doãn Tuất là Thẩm Gia Lương vào triều nhận thủ cấp của cha mình về, làm lễ an táng rất trọng thể, phong Thẩm Gia Lương làm diệp công. Trước tình cảnh quân Ngô sắp áp sát Sính đô, triều đình nước Sở từ trên xuống dưới ý kiến mỗi người mỗi phách, chung quy lại có tới bốn loại quan điểm khác nhau: một là bỏ chạy, hai là cố giữ, ba là ra đánh, bốn là trước đánh sau giữ, cuối cùng bỏ chạy. Sở Chiêu vương là một trong những người chủ trương bỏ thành chạy trốn, nên đã nói:

– Chỗ dựa của nước Sở, là thế hiểm của Hán Giang, quân Ngô sẽ tới ngay trong ngày một ngày hai, sao có thể ngồi đưa tay chịu trói?…

Tử Tây khóc rống lên khuyên rằng:

– Thưa đại vương, tông miếu, lăng mộ của nước Sở đều ở cả Sính đô, nếu như nhà vua lại bỏ thành mà đi, thì không bao giờ có thể trở lại được ạ!

Tử Kỳ tâu lên:

– Trai tráng ở trong thành, đang còn tới mấy vạn, xin nhà vua hãy cho bỏ hết lương thực vải vóc ở trong kho ra, khích lệ các tướng sĩ, để họ cố giữ thành trì, mặt khác hãy sai sứ, tới các nước ở Hán đông, để họ liên quân cứu viện. Quân Ngô vào sâu đất ta, lương thực không tiếp tế kịp thời, hẳn là khó ở được lâu…

Sở vương buồn bã than rằng:

– Quân Ngô đã có lương thực trên đất của ta, thì lo gì thiếu ăn? Người Tấn hô lên một tiếng, nước Đốn, nước Hồ sẽ đến ngay. Quân Ngô đánh xuống phía Tây, nước Đường nước Thái dẫn đường. Nước Sở từ trên xuống dưới, lòng dạ đều đã rã rời, không thể vào đâu được.

Tư tưởng của Sở Chiêu vương, lúc nào cũng cực đoan như vậy, có được trong tay thanh gươm Trạm lư chẳng thèm hỏi đầu cuối ra sao, hí hửng mù quáng, chỉ lăm le dựa vào ý trời, suốt ngày đêm nuôi mộng bá chủ chư hầu, làm vua thiên hạ; đến lúc này kẻ địch mạnh mẽ áp sát tận nơi, thì lại tỏ ra bi quan thất vọng, không hề có một chút lòng tin nào để chống đỡ, đành chỉ còn khăng khăng một điều là bỏ trốn.

Công tử Thân thì nói:

– Chúng thần sẽ mang hết quân ra chống cự, đánh không được hãy đi cũng chưa muộn.

Chiêu vương thấy mọi người ai nói cũng có lý, đánh không dám đánh, bỏ thì cũng tiếc, đành phủi tay tỏ ý mặc kệ, nói:

– Nước Sở còn hay mất, tất cả trông vào các ái khanh, đáng đánh thì đánh, đáng giữ thì giữ, làm thế nào đấy thì làm, không cần phải đến quả nhân cân nhắc… – Nói xong, rưng rưng nước mắt quay vào hậu cung.

Chiêu vương bỏ đi rồi, quần thần lại bàn bạc thêm, phần lớn cho rằng lúc này chỉ có đánh hoặc giữ, chứ quyết không thể bỏ thành mà chạy. Một nước Sở lớn thế này, sao lại có thể chưa đánh trận nào đã hai tay dâng thành cho kẻ khác? Cũng còn may mà ngay từ đầu nước Sở đã xây được hai toà thành mới, đó là Mạch Thành và Kỷ Nam Thành, tạo nên với Sính đô một thế ỷ dốc, đánh thì chưa chắc đã đủ, nhưng giữ thế thủ thì thừa sức. Thế là họ quyết định lệnh cho Đấu Sào làm đại tướng, mang một vạn quân trấn thủ Mạch thành, chắn giữ hướng bắc; lệnh Tống Mộc mang một vạn quân, trân thủ Kỷ Nam chặn hướng tây bắc; công tử Thân tự mang hai vạn quân, đóng chặn ở sông Lỗ Phục, để giữ hướng đông. Còn lại, phía tây có sông Xuyên, nam có sông Tương, địa thế rất hiểm yếu, quân Ngô hiện không có thuyền bè, không phòng thủ. Ngoài ra, còn cho Đấu Sào, Tống Mộc lĩnh vàng bạc lương thực vải vóc ở trong cung, đến Mạch Thành và Kỷ Nam thành chiêu mộ thanh niên trai tráng vào lính, cùng giữ thành trì. Tử Tây, Tư Kỳ thân chinh mang các quan văn võ, cố thủ Sính Đô.

Tình hình bố trí của quân Sở, đã nhanh chóng loan báo tới doanh trại của quân Ngô. Tôn Tử cho rằng, quân Sở tuy bị thua liên tục, nhưng Sính đô vẫn hoàn toàn nguyên vẹn, hơn nữa sự liên hệ giữa ba toà thành lại tạo nên thế ỷ dốc, không dễ gì mà công phá được ngay. Vượt sông Lỗ Phục ở phía tây, là con đường ngắn nhất đánh vào nước Sở, nhưng quân Sở đã bố phòng rất chặt chẽ, bắt buộc phải đánh vòng lên hướng bắc, chia quân ra đánh Mạch thành và Kỷ Nam thành, để cho Đấu Sào và Tống Mộc đều phải tự chống chọi, không thể tiếp ứng được cho nhau, miễn là làm sao lấy được Mạch Thành và Kỷ Nam thành, thì Sính đô sẽ chẳng cần đánh cũng tan. Thế nhưng, đánh Mạch thành cũng không phải là chuyện dễ, tướng giữ thành là Đấu Sào bản lĩnh cao cường, lại giàu mưu kế, hơn nữa ở đó thành có hào sâu, trong thành lương thảo lại đầy đủ, công cũng chẳng được ngay, vây thì không đủ điều kiện, đánh như thế nào, cần phải đắn đo nhiều. Tôn Tử đã suy đi tính lại, cử Ngũ Tử Tư đem một vạn quân, Thái Chiêu hầu mang quân bản bộ của nước mình hỗ trợ thêm để đi công phá Mạch Thành. Bản thân Tôn Tử thân chinh đem một vạn quân với sự giúp đỡ của quân bản bộ của Đường Thành Công, Hạp Lư và Bá Bỉ vv… đem đại quân đi đánh Sính Đô.

Ngũ Tử Tư mang quân đi về hướng đông được mấy ngày tiến thẳng tới chân một quả núi cách Mạch thành mười lăm dậm rồi đóng quân ở đó. Vừa cắm xong doanh trại, Ngũ Tử Tư với Thái Chiêu hầu mang theo một số người cải trang đi trinh sát, để xem Mạch thành rốt cuộc kiên cố đến mức nào, khó đánh đến mức nào? Hơn chục người xuyên rừng rậm, vượt suối sâu, đến được chân Mạch thành, leo lên một cái gò cao rồi ẩn sau những thân cây bụi cỏ, nhìn thật rõ vị trí địa lý, hoàn cảnh xung quanh, đặc điểm thành trì cũng như việc canh gác Mạch thành như thế nào. Đây là một toà thành mới, chẳng những tương thành cao, hào thành sâu mà gạch để xây tường lại rất dày và cứng. Cổng thành đóng im ỉm, trên mặt thành cờ xí cắm dày đặc, gươm giáo như rừng, quân lính giữ thành người nào người nấy tên đã đặt lên nỏ, gươm giáo tuốt trần. Ngũ Tử Tư vừa nhìn vừa nghĩ: Đấu Sào quả thật là không hổ thẹn là một danh tướng của nước Sở, việc canh phòng trên toà thành này cũng đã nói lên một cách đầy đủ rằng, con người này quả thực là trí dũng song toàn, công cũng hay mà thủ cũng giỏi. Có một người như thế chỉ huy trong thành, muốn công phá để chiếm thành, thật là còn khó hơn lên trời! Ngũ Tử Tư thừa biết trong bụng rằng vùng này vốn sản xuất rất nhiều lúa mạch, bởi thế nên toà thành này cũng mới có tên là Mạch Thành, trong thành chẳng những có rất nhiều lương thực dự trữ, lại có rất nhiều ruộng đất được mùa một vụ, có thể no đủ được mấy năm, một toà thành như thế, còn lo gì bị bao vây!…

Ngũ Tử Tư về đến doanh trại, trằn trọc mãi, suốt một đêm không sao chợp mắt, nhưng vẫn chẳng nghĩ được ra cách gì. Việc quân sự bận rộn như níu lấy chân, không rời được nửa bước. Ngày hôm sau, Ngũ Tử Tư cử Thái Chiêu hầu đến Kỷ Nam thành, báo cáo lại mọi tình hình với Tôn Tử để xin kế sách gì hay nhằm công phá Mạch thành. Chiều tối lặn mặt trời, Thái Chiêu hầu trở lại, mang về một bức vẽ do Tôn Tử vẽ ra. Ngũ Tử Tư mở bức vẽ dàn ra trên án thư, xem đi xem lại mà không hiểu ý bên trong của bức tranh định nói những gì. Đó là bức tranh vẽ con lừa đang kéo cối xay, trong căn nhà xay bột nho nhỏ, giữa nhà là cái cối xay to lù lù. Một con lừa được mắc ách vào cái cối, trên đỉnh cối là một cái phễu, trong phễu chứa đầy lúa mạch. Con lừa bước đi, cối xay quay, trấu lúa mạch bay ra lả tả. Đây phải chăng là Tôn Tử mách cho ta cách phá thành? Thế nhưng, con lừa kéo cái cối xay bột lúa mì, thì có liên quan gì đến việc đánh thành nhỉ? Ngũ Tử Tử nghĩ mãi vẫn chẳng hiểu ra sao, sốt ruột quá, hết xoa tay lại gãi đầu, giậm chân đấm ngực và cũng loay hoay chạy quanh như con lừa kéo cối. Quanh đi quanh lại, bỗng nhiên một chữ “mạch” chợt loé lên như một chiếc chìa khoá mở bật ổ khoá trong lòng ông, nghĩa là coi Mạch thành như lúa mạch, chỉ cần có một chiếc cối, với lại một con lừa, từ từ mà xay, là sẽ xay lúa mạch ra thành bột. Nếu như muốn đặt cho cái kế đánh thành này một cái tên, thì đó là kế “lừa xay bột”.

Tảng băng đóng ở trong lòng đã tan ra, một khối nặng đeo đẳng trong lòng đã được cất đi, Ngũ Tử Tư thấy lòng nhẹ bỗng và không giấu nổi vẻ vui mừng, ngay đêm ấy đã sắp đặt xong kế hoạch chiến đấu. Mỗi người lính chuẩn bị một cái túi vải, trong chứa đầy đất, tất cả mọi chiến xa đều xếp đầy đá hộc, phải làm xong trước khi trời sáng, kẻ nào trái lệnh thì chém đầu! Năm trăm quân lính do Đảm Bao Thiên dẫn đầu, người nào cũng mặc quần áo của quân Sở bên trong, mũ quân Sở cũng nhét trong ngực áo, rồi ngầm dặn dò họ thế này thế kia, đến lúc nào đó thì trà trộn vào trong thành. Mệnh lệnh vừa truyền xuống, toàn quân răm rắp thi hành, không ai chậm trễ.

Ngày hôm sau, ăn sáng xong, Ngũ Tử Tư và Thái Chiêu hầu mỗi người lên một ngựa, tay cầm binh khí, điều ba ngàn quân chia ra làm hai đội, bình lính người thì đeo túi, trong túi chứa đầy đất, người thì đánh xe, trên xe cũng xếp đầy đá, rầm rầm rộ rộ, tiến về phía đông thành. Đoàn người ngựa dừng lại nơi cách thành bảy tám dặm, Ngũ Tử Tư chọn một nơi vừa ý, đùng mũi thương vạch xuống đất, rồi lệnh cho quân lính của đội thứ nhất dùng đá vừa chở trên xe và đất đeo bên mình, theo dấu đã vạch xây nên một bức tường. Mệnh lệnh vừa ban ra, quân lính vội bắt tay ngay vào việc, nào nhào vữa, nào bê đá nào múc nước, nào xây tường… Thái Chiêu hầu nhìn thấy vậy, không nhịn được cười, không biết đang làm cái trò gì đây mà cứ y như trẻ con chơi trò xây nhà vậy. Ngũ Tử Tư bảo với ông ta rằng, xây bức tường này gọi là “thành con lừa”, hai mặt đông tây thì ở giữa hẹp, hai mặt nam bắc ở giữa rộng, tổng thể là một hình chữ nhất, nhưng một đầu hơi rộng, đầu khác hơi hẹp lại, tất cả cũng chỉ lớn chừng hơn trăm gian nhà, trông chẳng khác gì một chiếc quan tài, chỉ khác là bốn phía mỗi nơi có một cái cửa. Theo chỉ thị của Ngũ Tử Tư, Thái Chiêu hầu lùi ra một chỗ xa hơn chút nữa mà ngắm, đúng là rất giống một con lừa, không trách được Ngũ Tử Tư đã gọi nó là “thành lừa”.

Đội quân thứ nhất bận xây “thành lừa”, Ngũ Tử Tư với Thái Chiêu hầu mang đội quân thứ hai đi vòng đường khác, đến nơi cách Mạch thành về phía tây chừng bảy tám dặm, cũng lấy thương vạch đất, theo dấu đó xây thành, chỉ có điều toà thành này không giống “thành lừa”, mà lại tròn xoe, y như cái cối xay, trông mặt mà đặt hình dong, chẳng cần phải nói, đây đúng là “thành cối xay”. Phía đông là lừa, phía tây là cối xay, ở giữa là Mạch thành cổ như kim thang. Thái Chiêu hầu hình như thấy rõ ra một điều gì ở trong lòng. Ngũ Tử Tư đang bắt chước lừa kéo cối xay, xay lúa mạch thành bột, để đánh Mạch thành. Thế nhưng, một toà Mạch thành lớn như vậy, lại chỉ trông vào hai toà thành cỏn con là “lừa” với “cối”, thì thử hỏi sẽ “xay”, ra làm sao? Ông ta thấy thật khó hiểu, định mở miệng ra hỏi, lại e rằng đây là bí mật quân sự, mà hơn nữa là e rằng Ngũ Tử Tư sẽ cười mình ngu xuẩn, cho nên lời nói đã ra đến cửa miệng bèn lại nuốt xuôi…

Thấy binh lính của mình làm việc rất hăng hái, Ngũ Tử Tư vui trong lòng, nói với Thái Chiêu hầu:

– Phiền Thái công hãy đi lại đôn đốc cả hai phía đông tây, hạn cho ba ngày phải xây xong thành.

Thái Chiêu hầu miệng thì thưa “vâng” nhưng trong bụng thấy chẳng có gì đảm bảo, liền nói:

– Đôn đốc thì chẳng có gì là khó, chỉ e rằng Đấu Sào ở Mạch thành nghe tin, sẽ đem quân ra quấy rối phá hoại…

Ngũ Tử Tư dặn:

– Đấu Sào có đem quân ra, cũng cố tránh không giao chiến, chúng có đến, ta sẽ cho quân chạy và sai người cấp báo cho tôi ngay.

Thái Chiêu hầu gật đầu thưa “vâng”, Ngũ Tử Tư về doanh trại của mình. Từ lúc ấy trở đi. Thái Chiêu hầu làm luôn luôn lần lượt đến hai nơi trông coi công việc, đôn đốc thi công.

Ngày hôm sau, ở Mạch thành, Đấu Sào nhận được tin. Lúc này tuy rằng bốn cổng Mạch thành đều đóng chặt, nhưng hàng ngày vào giờ nhất định cũng có mở ra, để cho những người làm công chức và dân chúng ở trong ngoài thành đi lại, thế nên lẽ đương nhiên những người vào thành, sẽ mang theo tin tức về việc quân Ngô xây thành và tin ấy đã đến tai Đấu Sào. Hơn nữa lính tráng đi tuần theo trên thành cũng từng phát hiện thấy ngoài thành phía đông và phía tây, đều có quân Ngô đang hoạt động, và đương nhiên cũng về bẩm báo với Đấu Sào. Nghe tin đó, Đấu Sào lập tức leo lên tường thành ngắm nghía, tuy cách xa nhau tới bảy tám dặm, nhưng vì đứng cao nhìn xuống, nên vẫn nhìn rất rõ, quả nhiên là cả hai phía đông tây đều có quân Ngô chuyển động rùng rùng như kiến đang lần lượt đắp lên ở mỗi nơi một cái ụ đất. Nghe dân chúng đồn rằng quân Ngô đang xây thành ở đó, cái nào cũng có tên, bên đông gọi là “thành lừa”, bên tây gọi là “thành cối xay”. Vậy thì thành lừa bên đông, thành cối xay ở bên tây rốt cuộc là để làm gì? Đấu Sào cũng thấy khó hiểu. Ngũ Tử Tư là bậc danh tướng trong thiên hạ ngày nay, không phải là hạng tầm thường, đã xây nên hai toà thành, lại đặt tên cho từng nơi như vậy, ắt hẳn là bên trong phải có chuyện gì, muốn hiểu được, cần phải nghiên cứu cho thật cẩn thận.

Đấu Sào cũng chẳng phải hạng xoàng, qua nhiều lần suy nghĩ, cuối cùng đã hiểu được điều sâu kín ở bên trong: Lừa kéo cối xay, rõ ràng là chúng định dùng hai toà thành này để đánh Mạch thành của ta. Ngũ Tử Tư đang đùng kế nghi binh, lấy việc xây thành để yểm hộ, trong thành sẽ cho quân lính khoẻ mạnh khoét đất đào đường hầm, hòng từ lòng đất xông lên đánh chiếm Mạch thành, hoặc cũng có thể còn có mưu kế gì hơn, cần phải thân chinh đến tận nơi quan sát, quyết không thể để chúng thực hiện được mưu mô. Đấu Sào vốn là một con người tinh tế, cân nhắc cả đến việc Ngũ Tử Tư có thể nhân chuyện này để lừa mình ra khỏi thành rồi thừa dịp tấn công mạnh mẽ, cho nên đã quyết định đi nhanh lại về nhanh, không để cho Ngũ Tử Tư có thể thừa dịp mà lợi dụng. Đấu Sào trở ra cổng ngoài, đội mũ mặc giáp, lên ngựa cắp đao, mang theo ba ngàn quân, ra khỏi cửa đông thành, xông thẳng tới “thành lừa”.

Thái Chiêu hầu đang đôn đốc quân lính xây “thành lừa”, bỗng nghe tiếng trống thúc thùng thùng, biết quân Sở đã ra khỏi Mạch thành, ngẩng lên nhìn, thấy tướng Sở mới đến đầy vẻ khác thường: Thân cao có thể tới hơn chín thước, mặt đỏ tưng bừng càng lộ rõ hai nét mày rậm và đôi mắt như mắt hổ, mũi nhô cao và to như mũi sư tử, cái miệng như miệng báo vừa hơi nhích, hàng râu rậm dưới cằm như hất đứng cả lên, chiếc mũ trận bằng đồng trên đầu, cân xứng với bộ áo giáp hoàng kim trên mình lấp loáng. Vị tướng Sở ấy chễm chệ ngồi trên lưng con ngựa bờm đen đang vươn cổ hí vang, tay vung cây rìu phá đá nặng trịch, đầy vẻ oai phong, dễ khiến người ta phải nể sợ. Thái Chiêu hầu thầm hiểu trong bụng, người này không phải ai khác, mà chính là Đấu Sào, tướng Sở đang trấn giữ Mạch thành. Ngũ Tử Tư đã từng dặn đi dặn lại, Đấu Sào có mang quân ra quấy rối, thì không cần phải giao chiến với hắn, thế nên đã hô lớn:

– Quân Sở đến đấy! Bắn tên ra đi! – Theo sau tiếng hô, một loạt mũi tên rào rào bay đi như châu chấu, Thái Chiêu hầu nhân lúc đó, dẫn binh lính của mình mau chóng chạy trốn rút đi, chỉ trong nháy mắt, đã mất tăm mất tích.

Đấu Sào đem quân xông đến “thành lừa”, không đuổi theo đoàn quân đang chạy trốn, đưa lưỡi rìu chỉ ra phía trước, hô lên:

– Quân bay đâu, phá thành đi! – Ba ngàn quân lập tức xông lên, nào phá, nào đập, nào đẩy… chỉ trong nháy mắt, bức tường cao hơn đầu người của “thành lừa” bị phá tanh bành, vô cùng thảm hại. Trước khi hạ lệnh phá thành, Đấu Sào đã vào trước bên trong thành nhòm ngó khắp bốn phía, không thấy có dấu vết gì tỏ ra quân Ngô đang đào hầm ngầm, cho nên trong lòng thấy nhẹ nhõm đi đôi chút. Do không dám lần chần ở đay lâu, “thành lừa” đã phá rồi, Đấu Sào liền hạ lệnh thu quân về thành. Đến trước cổng thành, quân hiệu giữ thành đã báo với Đấu Sào, không phát hiện thấy một bóng quân Ngô nào, tất cả bình an vô sự. Đấu Sào nghe báo vậy, không những hòn đá đang đè nặng trong lòng như có ai đã lấy đi, bỗng thấy gan dạ hơn so với lúc đầu, nên bất chợt nảy ra ý nghĩ, chỉ huy quân lính đi phá thành “cối xay”. Phá được “thành lừa” bên đông, “thành cối” ở bên tây, trong lòng Đấu Sào thấy vui, thầm bảo: “Lừa giết rồi, cối đập rồi, Ngũ Tử Tư, người còn có ý định đánh Mạch thành của ta, ta sẽ cho người chết đói!…”

Đấu Sào vừa đi khỏi, Thái Chiêu hầu liền quay về, mở mắt ra nhìn, đầu lừa bị đập vỡ, đuôi lừa cũng bị cắt đứt, chân lừa cũng bị đánh gẫy, “thành lừa” vừa mới ra đời bị phá tan tành. Lại bước tới xem “thành cối xay”, ở đó cũng bị đập phá tanh bành. Thấy tình cảnh đó, Thái Chiêu hầu bỗng thấy thương tâm, vội mang theo hai người đội trưởng đến đại doanh để báo cáo với Ngũ Tử Tử. Nghe nói vậy, Ngũ Tử Tư chẳng những không hề giận dữ, mà sau đó lại cười lên ha hả và khen:

– Xông lên khéo đấy! phá giỏi đấy!

Thái Chiêu hầu không hiểu ra sao liền hỏi:

– Hai thành đều bị phá, bao nhiêu công bỏ ra bỗng thành công toi, sao Ngũ tướng quân lại còn khen hay khen khéo ạ?

Sau khi dứt một hồi cười, Ngũ Tử Tư mới vui vẻ bảo:

– Ta cứ lo rằng Đấu Sào đóng cửa thành không ra, mặc cho ta xây thành, cũng không thèm đếm xỉa. Nhưng nay xem ra Đấu Sào quả thật là có ý nghi ngờ, thân chinh ra khỏi Mạch thành đi phá “thành lừa” ở bên đông “thành cối xay” ở bên tây, cứ thế không quá ba ngày, lúa mạch tất sẽ thành bột mì, có thể lấy được Mạch thành! Phiền Thái quân đừng chậm chễ, hãy về ngay chỗ cũ, vẫn dùng những người cũ, làm nguyên như cũ, nói nguyên như cũ, tiếp tục xây thành. Đấu Sào đem quân đến, ta lại rút đi, Đấu Sào đem quân đi ta lại tiếp tục xây…

Theo lời dặn của Ngũ Tử Tư, Thái Chiêu hầu chỉ huy hai đội quân lính chia ra hai phía đông tây của Mạch thành, tiếp tục xây thành như cũ, nhưng họ không biết rằng cứ xây xây phá phá như thế cho đến bao giờ mới thôi.

Và thực tế cứ tiếp tục diễn ra như thế, quân Ngô xây đến đâu, quân Sở lại phá đến đó. Quân Sở đến, quân Ngô lại chạy. Quân Sở đi, quân Ngô lại xây. Phá càng hăng, xây cũng càng hăng. Phá nhanh thế nào, xây cũng nhanh thế ấy. Ngày nào cũng xây, ngày nào cũng phá, hai bên giằng co nhau đợt này đã được ba ngày, đến buổi tối ngày thứ ba, Đấu Sào chợt nghĩ, quân Ngô ngoan cố kiên trì xây thành như thế, nhất định bên trong việc này còn có trò ma mãnh gì đây, nhưng nói thế nào thì nói, quyết không thể để cho chúng xây xong thành! Ngay sớm hôm sau, một lần nữa, Đấu Sào ra lệnh chuẩn bị rồi vác rìu lên ngựa, điều thêm ba ngàn quân, với năm mươi cỗ xe lớn. Mọi thứ chuẩn bị xong xuôi, Đấu Sào tế ngựa ra cổng thành, đi theo hướng đông, trước hết tiến thẳng tới “thành lừa”. Quân Ngô đang xây thành, thấy quân Sở đến lại trốn sạch sành sanh. Đấu Sào ra lệnh, vừa phá tường ra, khuân đá xếp lên xe, chở đến nơi cách đó hơn một dặm, đổ xuống sông. Phá thành thì nhanh, nhưng khuân đá chở đá thì rất lâu. Bởi vì một cỗ xe đều phải chờ xếp lên và đi lại lại nhiều lần. Như thế cũng có nghĩa là thời gian dùng cho công việc này phải dài hơn, nhìn thấy những tảng đá được khuân lên xe nườm nượp chở đi, Đấu Sào bỗng thấy hể hả trong lòng: Tao để cho chúng mày xây thành đấy! Không có đá hỏi chúng mày xây bằng gì?

Đến gần trưa, chuyến xe chở đá đổ đi sau cùng cũng đã quay lại, Đấu Sào ra lệnh chỉnh đốn hàng ngũ chuẩn bị kéo quân về thành. Đội ngũ vừa chỉnh đốn xong, bỗng có một tên quân kỵ từ Mạch thành phóng tới trước mặt Đấu Sào, tung mình xuống ngựa:

– Dạ bẩm chủ… chủ tướng! Hỏng to mất rồi ạ! Ngũ Tử Tư đã mang theo một đạo quân lớn, đang kéo đến cách thành không xa nữa ạ…

Nghe thấy báo tin như vậy, Đấu Sào tái mét mặt, giữa ngày đông tháng giá, mà mồ hôi tuôn ướt đầm. Hắn linh cảm và thấy ra rằng Ngũ Tử Tư đã nhân lúc hắn sơ hở mà kéo quân vào, bất giác thầm kêu lên trong lòng: Ngũ Viên đáo để thật! Ta ở trong thành, thì hắn không đánh, ba bốn ngày liền, ta đánh “thành lừa”, ta phá “thành cối” của hắn, đánh nhanh lại rút nhanh, hắn cũng không đánh ta. Hôm nay, đợi ta nổi nóng, đem đổ hết đá xây thành của hắn xuống sông, để hắn không xây thành được nữa, vì thế nên chậm lại nửa ngày trời, thì hắn lại đến đánh thành, thế là ta mắc vào mưu lừa kéo cối xay của hắn mất rồi! Thời gian lúc này không cho phép Đấu Sào suy nghĩ gì thêm nữa, nên hắn đã phải vội vã lệnh cho quân lính hoả tốc về thành và định vào thành theo cửa đông, vì đại quân của Ngũ Tử Tư đóng ở phía bắc thành, chắc hẳn sẽ vào thành theo hướng ấy và tất sẽ công phá cửa bắc trước, và sau khi vào được cửa đông rồi, hắn sẽ cho đóng chặt cổng thành, rồi lên mặt thành chỉ huy cuộc chiến đấu giữ thành. Đấu Sào nghĩ rằng mọi việc sẽ suôn sẻ ngon lành như thế đấy, thế nhưng đến khi đội ngũ của quân Sở lếch thếch quay lại đến trước cổng đông Mạch thành, quân của Ngũ Tử Tư đã chặn mất đường đi. Nhìn thế trận đang bày ra trước mặt, Đấu Sào biết chắc rằng chuyến này mình sẽ bị thiệt to: thứ nhất, đường trở về thành đã bị Ngũ Tử Tư chặn đứng, quân Ngô chủ động hơn, đã lấy kẻ nghỉ ngơi đánh người mệt mỏi; thứ hai, Ngũ Tử Tư trong tay có những tám ngàn quân, gần đông gấp ba lần quân Sở, như vậy quân Sở ít sẽ khó địch nổi đông. Vả chăng tình thế đã đến nước này, cũng chẳng còn sự chọn lựa nào khác, đành chỉ còn cách xông lên liều chết một phen. Đấu Sào nghĩ vậy, tế ngựa lên phía trước, đặt chiếc rìu lên yên ngựa rồi đè chặt lấy khum hai tay lại làm lễ:

– Tử Tư từ buổi xa nhau đến giờ vẫn được bình an luôn chứ?

Đây là hắn chủ trương lễ trước đánh sau, trò chuyện với nhau trước để mong hoà giải, bàn bạc không kết quả lúc ấy mới đánh. Hơn nữa, giữa họ với nhau dẫu sao cũng là chỗ quen biết cũ, gia tộc của Đấu Sào ở nước Sở cũng thuộc hàng thế phiệt trâm anh, đều là quan cùng triều với các bậc người trên của Ngũ Tử Tư. Họ quen biết nhau từ ngày tấm bé, đôi bên lại chẳng ai thù oán gì ai, gặp mặt nhau, lẽ đúng ra phải khuyên nhủ đôi câu.

Ngũ Tử Tư cũng gác giáo đè lên yên ngựa, khum hai tay lại đáp lễ:

– Nhờ trời cũng còn đang được sống đây!

– Họ hàng nhà ông đời đời ăn lộc của nước Sở, tiên vương có một thời nghe lời sàm tấu của Phí Vô Cực đem giết cả nhà ông, là hậu duệ của bầy tôi nước Sở, ông không nên bỏ Sở theo Ngô, lại càng không nên đem quân đánh nước Sở như hôm nay. Tôi khuyên ông hãy mau mau xuống ngựa quy hàng, tôi sẽ tâu lên với chúa công, sẽ không chấp gì chuyện cũ. Ông không muốn thế, cũng chẳng ép làm gì, chỉ khuyên ông hãy lui quân trở lại nước Ngô, kẻo sứt mẻ đến tình cảm giữa chúng ta từ trước đến giờ.

Đấu Sào liến thoắng tuôn ra một thôi một hồi, tưởng như người nghe phải xúc động lắm.

Đấu Sào không phân biệt phải trái, không biết đâu là đục là trong, tuy là chỗ đi lại với nhau hàng đời, là chỗ bạn bè xưa cũ, nhưng nghe những lời lẽ hoang đường vừa rồi của Đấu Sào, Ngũ Tử Tư cũng khó nén được cơn lửa giận trong lòng.

– Im mồm đi! Tên gian tặc Phí Vô Cực cố nhiên là đáng thù ghét, có uống mật ăn gan nó, cũng khó làm ta hả giận! Nhưng tên hôn quân Bình Vương kia, cha cướp vợ của con, nghe lời sàm tấu, không tiếp nhận lời khuyên trung thực, đã không đếm xỉa gì đến nhà họ Ngũ ta mấy đời có công với nước Sở, mà nỡ giết hết hơn ba trăm con người trong gia đình ta, bản thân ta cũng thập tử nhất sinh trốn được sang nước Ngô, tên hôn quân lại muốn nhổ cỏ trừ tận gốc, cho người sang nước Ngô, định đưa ta vào chỗ chết, chẳng lẽ đó lại là tội lỗi của Ngũ Viên này hay sao? Bình vương làm bao nhiêu điều phi nghĩa, để đến nỗi không biết bao nhiêu trung thần bị chết uổng mạng, biết bao nhiêu dân lành phải ngậm oan nỗi chín suối. Tên hôn quân ấy chết đi, Chiêu vương lên cầm quyền, để mặc cho Nang Ngoã chuyên chính lộng hành, đối nội thì hãm hại người trung lương, chém giết vô tội vạ, đối ngoại thì chiêu binh mãi mã bắt nạt các nước nhỏ yếu, khiến Chu thiên tử đã tập hợp mười tán nước chư hầu liên quân đánh Sở, còn ngày nay, Ngô vương Hạp Lư đã theo lời khẩn cầu của hai nước Đường – Thái, đem đội quân nhân nghĩa đến hỏi tội các người, thế ấy là việc lấy người có đạo đánh kẻ vô đạo, trên đời này ai chẳng vỗ tay khen hay! Ngũ Viên ta nhờ trời phù hộ, may mắn còn được sống đến ngày nay, chịu nuốt hận chốc đà mười sáu năm trời, thù sâu như biển máu, ta mà không trả, thử hỏi rằng còn đâu là đạo lý, còn đâu là lẽ trời? Thôi đừng có nhiều lời, hãy buông ngựa ra!

Đấu Sào xem ra có vẻ lúng túng, không biết làm thế nào:

– Nếu như ông đã không nghĩ đến tình bạn của chúng ta ngày trước, thì ai sẽ vì chúa của người ấy mà hành động thôi…

Đấu Sào nói xong, tế ngựa lên phía trước, giơ cao lười rìu, nhằm thẳng đầu Ngũ Tử Tư chém đánh vù một nhát.

Ngũ Tử Tư đưa cây thương đầu hổ sáng loáng lên đỡ. “Choang” một tiếng, lưỡi rìu văng sang một bên.

Hai ngựa quần nhau và kéo nhau đi một quãng xa, rồi quay đầu lại đánh tiếp, con ngựa của Ngũ Tử Tư chồm lên trước, cây thương trong tay ông vừa xỉa vừa ngoáy, nhằm vào ngực của Đấu Sào, miệng hô lên:

– Hãy nhìn đây! – Cùng với tiếng hô, là một mũi thương lao tới.

Đấu Sào giơ rìu lên đón:

– Khá lắm! – Theo sau lại một tiếng “choang”, mũi thương bị gạt sang bên. Hai con ngựa lại quấn nhau ra một quãng nữa, rồi quay đầu đánh tiếp, thương đâm rìu đỡ, đánh mãi không thôi, tay rìu của Đấu Sào cũng rất lợi hại, song gặp phải cây thương của Ngũ Tử Tư, cũng chẳng làm nên trò trống gì, còn Ngũ Tử Tư tuy cây thương lao tới đầy sức mạnh, nhưng trước lưỡi rìu của Đấu Sào, cũng không thể nào đã thắng được ngay. Hai vị chủ tướng của hai quân đọ sức với nhau không phân thắng bại, còn hai cánh quân giao chiến với nhau thì thắng bại đã rõ rành rành. Quân Ngô đông, quân Sở ít, mà tục ngữ thì có câu: “Hai thằng đánh một chẳng chột cũng què”, đánh quanh đánh quẩn một hồi, quân Sở không chết thì bị thương, số còn đánh được mỗi lúc một ít, cứ thế này mà đánh mãi, ba ngàn quân Sở chưa biết chừng mà chết sạch cũng nên.

Đấu Sào đánh nhau với Ngũ Tử Tư đến hơn chục hiệp, nói cho công bằng thì hắn vẫn còn có thể cầm cự được một lúc nữa, nhưng quân lính thương vong nhiều quá, thảm đến nỗi không nỡ nhìn, nên vị tướng Sở này bỗng thấy lòng đau như cắt. Hắn đang chuẩn bị hạ lệnh rút quân theo lối cửa nam để ra ngoài thành, nếu Ngũ Tử Tư có điều tới, thì lại vòng sang phía tây, chẳng thà chạy quanh thành còn hơn dừng lại đây đánh nhau để rồi người chết ngựa cũng hết, toàn quân tan tành. Đấu Sào đang định ra lệnh, Ngũ Tử Tư đã dùng cây thương của mình ấn lưỡi rìu của hắn xuống:

– Quân Sở thương vong gần hết rồi, bên đó ít bên này đông, nếu người có thua chắc hẳn trong lòng sẽ không phục. Cho nên nghĩ rằng hôm nay ngươi chưa chuẩn bị, thì để đến sáng mai, chúng ta sẽ chọn mỗi bên năm ngàn quân, ra đây quyết sống mái với nhau một phen – Quay sang binh lính của mình, Ngũ Tử Tư ra lệnh – Quân bay đâu! Chúng ta hãy nhường một phen!

Quân Ngô theo lệnh lập tức dừng tay, lũ lượt lùi về phía sau, nhường ra một lối đi ở giữa, để cho quân Sở rút đi. Đấu Sào lúc này, trông chẳng khác gì một tử tù bị giải ra pháp trường, đến giờ ngọ sẽ hỏi tội và chém đầu, bỗng được nhà vua ban chiếu đại xá, làm gì mà chẳng vui mừng hớn hở trong lòng! ấy thế nhưng hắn kìm nén được, không để lộ ra mặt, mà làm ra bộ đàng hoàng:

– Được! Ngày mai nhất định đến! Quân bay đâu! Rõ rồi chứ? – Miệng thì nói vậy, nhưng trong bụng Đấu sào lại nghĩ rằng: Vào thành xong, đóng cổng lại, ngày mai Tôn Tử mới đến, có giỏi thì cứ công phá toà thành này đi, còn đâu là “thành lừa”, thành “cối xay”, kệ cho các người xây, ta đây chẳng thèm quản làm gì, để xem các người có cách gì để phá được Mạch Thành của chúng ta nào!…

Ngũ Tử Tư ra lệnh thu quân, về đại bản doanh của mình. Đợi cho Ngũ Tử Tư đi xa rồi, Đấu Sào mới lệnh cho quân lính trên mặt thành thả cầu treo xuống, đám tàn quân lũ lượt vào thành. Một phen kịch chiến, một trận chém giết, ba ngàn quân bị chết bị thương đến quá nửa, kẻ nào may mắn sống sót về trại, được biên chế lại, lần lượt thay nhau thức đêm canh gác, đề phòng quân Ngô đánh úp.

Đấu Sào về đến cửa trong thành, xuống ngựa, buông rìu, bỏ mũ giáp ra, ăn uống vội vàng, nghỉ ngơi qua loa, rồi lại túi bụi vào lo công việc, cho đến tận đêm khuya. Khi mọi việc đã xong, vừa định lên giường nghỉ ngơi, tự nhiên bỗng thấy tim mình nhảy thót lên chợt nghĩ: Ngũ Tử tư thừa biết Mạch thành khó đánh, khó khăn lắm mới lừa được ta ra ngoài thành, thế mà rồi lại “thả hổ về rừng”, hẳn là lại có một ý đồ gì đây? Mục đích của Ngũ Tử Tư không phải ở chỗ muốn giết hết quân Sở, mà là ở chỗ phải công phá cho được Mạch thành, sở dĩ hắn thả cho ta về thành, là để nhân khi ta để tâm hết vào việc chuẩn bị cho trận đánh ngày mai mà lờ là canh gác, đêm nay sẽ bất ngờ đánh thành..

Nghĩ đến đây, Đấu Sào mới trấn tĩnh lại tinh thần, nai nịt lại như ban đầu, rồi mang theo cả chục tướng sĩ, người nào cũng lăm lăm khí giới trong tay, đi tuần một vòng trên mặt thành, không thấy có hiện tượng gì khác thường, các tướng sĩ giữ thành không ai là không trung thành canh giữ, chỗ nào cũng nghiêm răm rắp. Lúc đi tuần trở về, trống đã điển canh tư. Vật lộn suốt một ngày và gần trọn một đêm, Đấu Sào quả thực là thấy hết sức mệt mỏi, về đến phòng mình, cứ để nguyên mũ giáp như thế lăn ra ngủ say như lợn.

Đấu Sào không phải là hạng người tầm thường rồi thần hồn nát thần tính, mà đêm ấy quân Ngô quả nhiên đã bất ngờ đánh thành. Ngũ Tử Tư mang tám ngàn quân lúc ban ngày mai phục ẩn nấp ở một nơi, lắng nghe tin tức trong thành. Ban ngày, khi Ngũ Tử Tư thả cho quân Sở về thành, năm trăm binh lính do Đảm Bao Thiên dẫn đầu, theo sự sắp đặt từ trước của Ngũ Tử Tư, nhanh chóng trút bỏ trang phục quân Ngô mặc ở bên ngoài, để lộ ra quần áo quân Sở đã mặc sẵn ở bên trong, rồi lấy mũ của quân Sở vào thành. Lúc ấy năm trăm “quân Sở” ấy đã rải rác ra khắp bốn cổng thành nam bắc tây đông, trong đó ở cửa bắc nhiều hơn cả. Quân Sở canh gác trên cửa Bắc thành vốn đã mệt mỏi sẵn, nên sau khi Đấu Sào đi khỏi, đã đút dao vào bao, bỏ cung vào túi, tên tháo cho vào ống, người nọ nhìn người kia thi nhau ngáp ngắn ngáp dài, ngủ gà ngủ gật. Tuy không dám trắng trợn bỏ đó mà đi ngủ, nhưng chẳng ai còn hăng hái nữa, đi qua đi lại như những cái bóng không hồn. Đảm Bao Thiên ẩn nấp ở gần đó, thấy thời cơ đã có vẻ chín muồi, chồm lên như hố đói vồ mồi, kết liễu luôn một lúc hai tên lính canh không dám ngủ gật, sau đó dẫn hơn hai chục người, đốt đuốc giơ cao lên, cắp dao bên mình, vác giáo trên vai, sải bước leo lên dốc thành, vượt xuống khỏi tường thành để tới cửa bắc thành. Quân Sở canh cửa ở đây có chừng hơn chục tên, chúng chỉ biết theo lệnh đóng kín cổng thành, lúc này chỉ có một tên đang trực ban, số còn lại đều chui cả vào trong doanh trại ngủ say tít. Thấy có một toán người như thần hiện ra và từ trên tường thành bước xuống, còn ngỡ rằng quân lính của mình đến đốc gác, tên trực ban vội vàng ân cần chào hỏi:

– Chào các ông anh! Đêm hôm vất vả quá nhỉ?

Đảm Bao Thiên đi đầu đáp:

– Quan sai thì không được tự do, có quân lệnh thì phải loan báo.

Anh chàng lính trực ban, bước lên phía trước, nói:

– Đấu tướng quân vừa đi khỏi, trời lại sắp sáng rồi, còn có quân lệnh gì nữa.

Đảm Bao Thiên ra giọng quở mắng ngay:

– Mày làm gì mà quang quác lên thế, muốn chết à? Mau ghé tai lại đây mà nghe, kẻo lộ hết quân cơ, thì cả tao lẫn mày đều có tội đấy!

Tên lính Sở trực ban tưởng thật ghé đầu sang, xuất kỳ bất ý, Đảm Bao Thiên rút dao găm ra, xỉa thẳng vào tim hắn. Cùng lúc đó, những người lính còn lại đã xông vào trại, cứ mỗi nhát dao nhằm cổ một tên lính canh đang ngủ say chém một nhát như chém chuối, giết hết sạch sành sanh… Từ trên mặt án thư, Đảm Bao Thiên đã tìm ra được chiếc chìa khoá cổng thành, liền vội chạy xuống mở khoá sắt, hạ then lớn, gạt then nhỏ, cởi móc xích ra, đẩy cánh cửa thành kêu lên ken két và từ từ mở toang rồi cầm bó đuốc huơ lên cao mấy vòng. Nhìn ra tín hiệu, Ngũ Tử Tư biết cổng thành đã mở, bèn chỉ huy quân Ngô ào lên như nước thuỷ triều tràn vào Mạch thành.

Bọn lính Sở trên mặt thành từ cõi mông lung giật mình tỉnh dậy, đang định bảo nhau xuống thành để ngăn chặn lại. Đảm Bao Thiên đã dẫn quân xông lên đón đầu, miệng hô vang:

– Quân Ngô đã vào thành! Chúng ta chính là quân Ngô đây! – Vừa nói vừa ào lên trước, trên mặt thành, quân Sở giả đánh nhau với quân Sở thật, chẳng còn biết ai vào với ai, hai ba trăm tên quân Sở còn đang mơ mơ hồ hồ đã lần lượt biến thành quỷ không đầu, tên nào thoát chết, thì tìm đường trốn chạy tứ tung. Ba cổng thành đông, nam, tây… tình hình cũng tương tự như thế, Ngũ Tử Tư vào thành, có Đảm Bao Thiên dẫn lối, mang quân vào thẳng viên môn bắt Đấu Sào.

Sau trống canh tư, Đấu Sào mới lên giường ngủ, đặt mình xuống là ngủ rất say, bỗng tên lính hầu vô cùng hốt hoảng xông vào:

– Báo cáo chủ tướng! Hỏng… Hỏng to mất rồi! Quân Ngô Ngô đã vào thành rồi ạ!

Đấu Sào bật ra khỏi giường như một con cá nhảy, thấy bên ngoài đang ầm ĩ tiếng kêu la. Vốn thuộc hạng người dày dạn, Đấu Sào bình tĩnh lệnh cho sửa ngựa mang rìu ra, sau đó đội mũ mặc giáp, bình tĩnh lên ngựa, cắp rìu, mang theo đám quân hầu, vệ sĩ, xông ra viên môn. Ngoài phố, người đi như nước chảy, đèn đuốc sáng tưng bừng, kẻ chạy ngược, người đi xuôi, lính tráng cũng có, dân thường cũng có, chen nhau lũ lượt bỏ chạy, vừa chạy vừa hô:

– Mau chạy trốn đi thôi! Quân Ngô đã vào thành rồi!

Thấy tình cảnh loạn như ong vỡ tổ thế này, trong bụng Đấu Sào đã hiểu hết mọi điều và nghĩ ra rằng lúc này phải mau mau trốn ra ngoài thành, kẻo đến lúc bốn cổng thành đều đóng lại thì có mọc cánh cũng khó mà bay ra. Ý định đã dứt khoát, Đấu Sào mang theo một ngàn quân Sở, đánh ra cửa nam, chạy thẳng lên Sính đô.

Mạch thành đã bị phá, nhưng Đấu Sào lại trốn thoát, trước hết Ngũ Tử Tư viết văn thư, sai người vội về báo tin chiến thắng với Ngô vương và Tôn Tử, sau đó là cắt đặt mọi việc tiếp theo, nào là quét dọn chiến trường, chôn cất người chết, sắp xếp cho hàng binh, nào là thả cho những người dân thường bị Đấu Sào cố tình bắt tới, để họ tự về nhà mình, nào là hiểu dụ dân chúng, để mọi người an cư lạc nghiệp, nào là kiểm tra xem xét lại kho tàng, rồi sai người đi báo tin cho Thái Chiêu hầu đang đóng giữ ở đại bản doanh để ông ta chuyển quân về đóng ở Mạch thành. Mọi việc cắt đặt đâu vào đấy Ngũ Tử Tư chợt nhớ tới Tôn Tử, không hiểu ông đem quân đi đánh thành Kỷ Nam tình hình ra sao. Lúc này đây, mình đã lấy được Mạch thành rồi, tại sao lại chẳng mang quân đến Kỷ Nam xem sao, để một là thỉnh thị hành động bước tiếp theo, hai là cố gắng giúp sức một tay, ba nữa là tiện thể đưa thêm ít đồ tiếp tế. Ngũ Tử Tư lập tức cho sửa soạn một trăm cỗ xe lớn, trên xếp đầy lúa mạch loại tốt, điều hai ngàn quân đi áp tải, căn dặn Thái Chiêu hầu ở lại giữ thành cho cẩn thận. Đang định xuất phát thì người đưa thư bữa trước quay về đến nơi, nói đại bản doanh của nguyên soái đóng ở núi Hổ Nha. Ngũ Tử Tư lên ngựa cắp thương, mang theo hai ngàn quân, hộ tống cho đoàn xe lương thực đến thẳng núi Hổ Nha.

Ở phía đông bắc thành Kỷ Nam chừng mười dặm, có hai quả núi đứng đối diện nhau, cao ngang nhau, hình giống nhau, đều dưới thô trên nhọn, từ xa nhìn tới, chẳng khác gì hai chiếc răng nanh ở hàm dưới con hổ, thế cho nên người đời mới đặt tên cho là núi Hổ Nha – răng hổ – Tôn Tử dẫn quân đến chân núi Hổ Nha, lệnh cho quân sĩ nghỉ ngơi tại chỗ để chờ lệnh. Ông mang theo một bộ phận tướng sĩ leo lên đỉnh núi Hổ Nha để xem xét địa hình. Lên cao nhìn ra, từng dải núi xanh rì xen giữa những cánh rừng lam sẫm và những khoảng đồng rộng mênh mông. Những dòng sông như dải lụa bay, điểm xuyết vào đó là những thôn ấp phố phường, từng làn khói lam bay lên, bảng lảng trên những nóc nhà rải rác như bàn cờ, và những con đường như những dải thắt lưng… tất cả hiện ra trước mắt, như vẽ như bày, càng nhìn càng thấy vô cùng thi vị. Thế nhưng thành Kỷ Nam trong tầm mắt lúc này lại nhạt nhoà trong màn sương đục, phía bắc nó lại là một dải trắng dài khá rộng, từng tia sáng từ đó lấp loá lên dưới ánh mặt trời, đó chính là sông Chương. Từ ánh lấp loá ngợp mắt ấy mà phán đoán, lúc này đây, hẳn là nước sông đang dâng tràn và ào ào cuộn chảy. Phía tây thành là một vùng đầm hồ, phẳng lặng như mặt gương, đó là Xích Hồ. Từ Xích Hồ lại chảy ra một dòng sông nhỏ, là sông Xoa ngoằn ngoèo trôi về phía đông nam, qua Kỷ Nam đến thẳng chân thành Sính đô. Tôn Tử vừa ngắm địa hình vừa cân nhắc, và trong óc bỗng hình thành một kế sách gọi là chắn nước bằng túi cát. Kỷ Nam và Mạch thành đều là những nơi mới xây dựng, thành cao hào sâu, tường dày vách cứng, thế nhưng thế đất lại trũng, nếu như đắp cao đê chắn nước quanh Xích Hồ lên, rồi đào một con kênh mới nối sông Chương với Xích Hồ, để đưa nước sông Chương vào hồ, trong khi đó đê bao quanh Xích Hồ đã được tôn cao lên rồi, cho nên nước hồ mông mênh trước hết sẽ theo sông Xoa chảy tới Kỷ Nam, dần dần Kỷ Nam sẽ bị ở vào thế bốn bề ngập nước. Kế phá thành đã định, Tôn Tử lập tức hạ sơn, lệnh cho tướng sĩ trong toàn quân tìm chỗ cao ráo quanh chân núi Hổ Nha hạ trại và đóng lại.

Kế chắn nước bằng túi cát của Tôn Tử tuy chỉ hình thành trong nháy mắt, thế nhưng lại lần lữa mãi không được thực hiện. Bởi vì kế này hay thì có hay, nhưng mà chưa phải là khéo. Nước ngập Kỷ Nam, cố nhiên là có thể làm được, nhưng chưa vị tất đã đến mức có thể dìm chết được địch, còn dân chúng thì chắc chắn là bị vạ lây. Vì nghĩ đến lợi ích của dân chúng, Tôn Tử đã phải nhiều lần thăm dò từng tấc đất ở xung quanh Kỷ Nam, mong qua đó tìm ra được một phương án hay nhất. Nhiều lần đã dùng kế ở chân thành, lấy vật chất mà nhử mồi, dùng lời lẽ mà chọc tức, mục đích là làm thế nào đó để kéo được Tống Mộc ra ngoài thành quyết chiến một phen. Nhưng Tống Mộc lại là một gã cáo già xảo quyệt, mềm không ăn, cứng không chịu, mặc cho ai ở ngoài lồng lộn vật vã, hắn trước sau vẫn co lại không chịu ra. Không còn cách nào hơn, Tôn Tử đành hạ quyết tâm, nhắm mắt dùng hạ sách, nhưng trước khi cho nước dìm thành Kỷ Nam, đã khéo léo kêu gọi dân chúng di chuyển hoặc đi nơi khác mượn sẵn thuyền bè.

Tôn Tử chia quân ra làm ba đội, một đội đắp cao đê bao Xích Hồ lên thêm một trượng, đội thứ hai đào một còn sông mới nối Xích Hồ với sông Chương, đội thứ ba vào rừng chặt tre đẵn gỗ để đóng thành mảng thành bè. Cách nâng cao mặt đê của Xích Hồ rất giản đơn, dùng bao tải vẫn để đựng lúa gạo và đồ dùng cũng như túi vải và bao cỏ, đong đầy đất vào, rồi xếp những bao đất đó lên như người ta xây tường, tầng trên đè lớp dưới, càng đè càng chặt, càng chất càng vững, cứ xếp mãi tới chiều cao hơn một trượng mới thôi. Tôn Tử phong cho Phu Khái chức tổng giám công trông coi việc đào sông đắp đê vì Phu Khái là em ruột của Ngô vương, là một con người hiếu thắng, lính tráng người nào cũng rất nể sợ. Phu Khái mà làm đốc công, bảo đảm rằng binh lính không ai dám lười nhác. Ngày đầu khởi công, tất cả xẻng, cuốc, cào, bao gai, túi cỏ, xe lớn xe nhỏ trong toàn quân đều được mang ra công trường thứ gì thiếu thì mượn của dân, hiện trường thi công bỗng chốc ầm ầm ào ào, rầm rộ khác thường. Mọi người ai cũng lo trễ hẹn, nên hăm hở làm suốt ngày đêm, cắt lượt ra mà làm, mà nghỉ, bởi vì Tôn Tử hẹn cho trong vòng nửa tháng phải làm xong, nếu chậm trễ, sẽ xử theo quân pháp. Phu Khái lúc nào cũng giáp mãng sẵn sàng, cắp dao trên mình ngựa, đi đi lại lại kiểm tra đôn đốc. Tuy nhiên, chốc chốc vị tướng hiếu thắng này lại ngó mông về phía thành Kỷ Nam, mong Tống Mộc bất chợt ra khỏi thành để đánh nhau với hắn. Cũng đều mong sao Tống Mộc ra khỏi thành để hại bên quyết chiến, nhưng giữa Phu Khái và Tôn Tử lại có hai mục đích khác nhau. Tôn Tử thì muốn giảm bớt tai hoạ bởi chiến tranh cho dân chúng Kỷ Nam, Phu Khái thì chỉ mong sao mình lập được nhiều công để chơi trội với mọi người, cho nên luôn nghĩ rằng nếu Tống Mộc mang quân ra ngoài thành, thế nào cũng tìm cách cho hắn một nhát dao toi mạng, rồi đem quân đuổi theo vào lấy thành Kỷ Nam, nếu được thế, mình mới có thể sánh với công của Ngũ Tử Tư đã hạ được Mạch thành…

Tống Mộc như một con quái vật ngoan cố và bướng bỉnh, ngoài thành làm như đất lở trời long thế, hắn vẫn chẳng hề hỏi han nhòm ngó, y như một con người đã bị tê liệt, chai lì. Điều ấy cũng dễ hiểu thôi, bởi hắn vẫn nghe Tôn Vũ cầm quân như thần, từ khi nhận lệnh đến lúc này, suốt ngày thấp tha thấp thỏm, quyết tâm cố thủ trong thành. Mấy ngày gần đây lại nghe tin Đấu Sào vì ra khỏi thành đi phá “thành lừa”, “thành cối xay” thế nào đó mà mắc phải mưu sâu, để mất Mạch thành, cho nên lại càng không dám để lơi lỏng cổng thành một chút nào. Kỳ thực Tống Mộc lúc này đã thực sự vừa điếc vừa đui, không hề hay biết chút gì trước hành động của quân Ngô; một là, ở trong thành sớm đã cắt đứt mối liên hệ với bên ngoài, tin tức ở bên ngoài thành khó có thể lan vào bên trong được; hai là, tháp canh của thành Kỷ Nam cũng vẫn còn chưa cao bằng chân núi Hổ Nha, hai nơi lại cách xa nhau hơn mười dặm, có đứng trên mặt thành hắn cũng không thể nhìn thấy bất cứ hành động gì của quân Ngô. Vả lại xưa nay hắn cũng chưa từng nghe nói có ai lấy nước để phá thành bao giờ, nên đã không cân nhắc gì về mặt này. Kỷ Nam thành vốn vững tựa kim thang, cho nên Tống Mộc cho rằng, chỉ cần giữ vững được thành trì, không ra khỏi thành nửa bước, thì dù Tôn Vũ có tài giỏi bằng trời, cũng chỉ có thể ngắm thành mà thở dài, không làm gì được.

Sau mười ngày, cả hai việc đào sông, đắp đê đều đã ở phần cuối. Một buổi chiều, bỗng đâu cuồng phong nổi dậy, mây đen vần vụ, dần dần cuốn vòm lên, đen kịt từng đám như trôn nồi, xám như tro, đặc sệt như quết mực, mặt đất cuộn lên, cát đá bay ào ào, bốn phía lá bay lả tả, rồi trong nháy mắt mưa trút cuống ào ào không trung như treo một bức màn mưa, mặt đất hạt mưa vỡ thành lớp sương mù trắng xoá. Chẳng bao lâu, mặt đất đâu đâu nước cũng dâng cao tới hai thước. Trăm sông ngàn suối nước dâng đầy mà xem ra chỉ thấy ngày một tăng thêm không hề giảm xuống. Có khá nhiều nơi, nước đã dâng ngập bụng ngập lưng Giữa ngày đông tháng giá, trời lại trút mưa rào, cho rằng ở ngay vùng Giang Nam, cũng là chuyện hiếm thấy, đó há lại chẳng là ý trời? Tôn Tử một mặt lệnh cho quân lính dồn chỗ ở lại, vốn đang nằm thì bây giờ chỉ đủ để đứng hoặc ngồi, dành lều bạt ra để che chở cho dân chúng, để người già yếu, bệnh tật và trẻ nhỏ tránh bớt nỗi khổ vì mưa gió. Một mặt khác ra lệnh cho Phu Khái chỉ huy quân lính đội mưa ra đào phá đoạn đê chắn hai đầu sông mới, để nước sông Chương thông sang với Xích Hồ. Đê chắn đã phá đi, nước ở mọi ao hồ sông suối ở khắp nơi thuận dòng chảy về sông Chương, rồi từ sông Chương, nước chảy vào Xích Hô. Tiếng gió, tiếng mưa, tiếng nước réo xen lẫn vào nhau, lúc nhặt lúc khoan, khi bổng khi trầm, như tiếng núi long đất lở, tựa như ngàn vó ngựa phi. Những con sóng nhô lên như đỉnh núi rồi lồng lộn lên, gầm thét ở tây nam, gào rú ở đông bắc, ngập trời ngập đất tràn đi đổ vào Kỷ Nam…

Nguyễn Bá Thính
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Tào Nghiêu Đức

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.