Đã là thời gian nắng nóng nhất năm 1863. Và cũng là ngày thứ hai trong cuộc di cư dài ngày của Sáng và hai người anh em trai đến miền duyên hải Quảng Châu. Đầu buổi chiều, họ đã tới được một ngã tư, nơi có ba cái đầu bị chặt được cắm trên những chiếc cọc tre nhọn đóng sâu xuống lòng đất. Không thể biết được chúng được cắm ở đó bao lâu rồi. Vũ, đứa em út của họ cho rằng ít nhất cũng đã được một tuần, vì những con mắt và phần lớn má của những cái đầu đó đã bị quạ rỉa. Quốc Sĩ, người anh cả, thì cho rằng chúng mới chỉ bị chặt cách đây một vài ngày. Anh ta tin rằng mình vẫn còn nhận ra nỗi khủng khiếp trên những cái mồm méo mó biến dạng.
Sáng không nói gì cả. Trong mọi trường hợp, chẳng bao giờ Sáng chịu nói ra những gì mình nghĩ. Những cái đầu bị chặt kia có thể là một dấu hiệu gợi nhắc điều có thể xảy đến với ba anh em. Họ đã chạy thoát thân ra khỏi ngôi làng hẻo lánh thuộc tỉnh Quảng Tây. Và cuộc gặp gỡ rùng rợn này nhắc họ nhớ rằng cuộc sống của ba anh em vẫn tiếp tục gặp nguy hiểm.
Họ rời khỏi cái nơi mà trong ý nghĩ Sáng đã đặt cho cái tên: “Ngã tư ba đầu”. Trong khi Quốc Sĩ và Vũ tranh cãi nhau liệu đó có phải là những tên cướp bị chặt đầu, hay là những người nông dân đã chọc giận một địa chủ quyền thế, thì Sáng lại nghĩ về quá khứ đã dồn họ vào cuộc bỏ trốn. Mỗi bước đi là họ lại tiếp tục cách xa thêm cuộc sống trước đây của mình. Trong sâu thẳm tâm hồn, có lẽ hai anh em của Sáng đều hy vọng rằng đến một ngày nào đó lại có thể trở về Vân Hải, ngôi làng mà ở đó họ đã lớn lên. Còn về phần mình, Sáng lại không rõ. Có lẽ những người nông dân và con cái của họ sẽ chẳng bao giờ có thể thoát khỏi cảnh đói nghèo cùng cực mà họ đang phải sống trong đó. Anh em họ chờ đợi gì ở Quảng Châu? Nghe kể, tại đó người ta có thể lẻn lên những chiếc tàu thủy vượt đại dương đi về hướng Đông, rồi đến được một đất nước nơi những con sông cuốn đi trong lòng mình những cục vàng lấp lánh sáng, to như quả trứng gà. Tin đồn này lan đến tận ngôi làng Vân Hải xa xôi hẻo lánh: ở đất nước ấy có bọn “quỷ trắng xa lạ” đang sống, một đất nước giàu có tới mức mà những người Trung Hoa chất phác nếu làm việc tại đó cũng có thể thoát khỏi nghèo nàn, đến với quyền lực và giàu có.
Sáng không biết mình nên tin cái gì. Những người nghèo luôn mơ ước đến một cuộc sống mà ở đó họ không bị địa chủ hành hạ. Và bản thân anh cũng vậy, ngay từ khi còn rất nhỏ, anh đã phải đứng bên vệ đường, mặt cúi gằm mỗi khi có một người đàn ông quyền thế nào đó ngồi trong kiệu có mái che đi qua. Anh luôn tự hỏi vì sao con người lại có những cuộc đời quá khác nhau như vậy.
Có lần anh hỏi ông Bái, cha mình, về điều đó, nhưng chỉ nhận được một bạt tai thay cho câu trả lời. Người ta không nên đặt ra những câu hỏi không cần thiết. Các vị thần thánh sống trên cây, dưới suối, trong rừng đã tạo ra thế giới này và con người sống ở đó. Để vũ trụ thần bí này có được sự cân bằng thần thánh, cần phải có người giàu và kẻ nghèo, những người nông dân phải đi theo sau con trâu để cày ruộng, và những người giàu có, quyền thế thì hầu như không phải đặt chân lên mảnh đất vẫn nuôi sống họ.
Từ đó Sáng không bao giờ hỏi cha mẹ mình xem họ cầu xin gì trước các vị thần linh. Họ sống cuộc sống của mình, bị giam cầm trong khổ nhục và hành hạ. Sao lại có những người phải làm việc nặng nhọc mà lại nhận được rất ít? Anh không bao giờ có thể hỏi được ai câu đó, vì lẽ tất cả mọi người sống trong làng đều nghèo khổ, đều sợ hãi trước những điền chủ vô hình, thông qua những tay quản lý của chúng, dùng roi vọt cưỡng bức tá điền làm việc. Anh đã nhìn thấy những con người từ thuở nằm nôi cho đến khi xuống mồ phải làm việc quần quật như kéo lê một gánh nặng ngày càng nặng nề hơn. Dường như gánh nặng đó đã đè lên lưng những đứa trẻ khiến chúng bị gù ngay cả trước khi tập đi. Tối tối, dân làng ngủ trên những manh chiếu được trải ngay trên nền đất lạnh giá, đầu gối lên những chiếc gối bằng ống tre. Ngày nối ngày theo một nhịp điệu không đổi từ ngàn đời, theo các mùa trong năm. Họ cầm cày theo sau những con trâu lầm lì, gieo mạ, cấy lúa, hy vọng một mùa bội thu đủ nuôi sống mình. Những năm mất mùa hầu như họ không còn gì để ăn, hết gạo là chỉ còn biết sống bằng lá cây.
Hoặc là nằm xuống và chết. Không còn cách nào khác.
Sáng xua ý nghĩ ấy đi. Bóng đêm bắt đầu buông. Anh đưa mắt nhìn quanh tìm chỗ thích hợp để ngủ. Ven đường đi có một lùm cây, ngay sát mấy tảng đá hình như vốn thuộc dãy núi nằm ở chân trời phía Tây. Họ trải chiếu, chia nhau nắm cơm còn lại, đủ ăn cho tới khi đến được Quảng Châu. Sáng nhìn hai người anh em của mình. Liệu họ có đến đích được không? Anh phải làm gì khi một trong hai người đó bị ốm? Bản thân anh vẫn đủ sức để đi, nhưng nếu phải cõng một trong hai người chắc anh không làm nổi.
Họ không nói chuyện nhiều với nhau. Sáng đã bảo hai người không nên phí chút sức lực còn lại cho các cuộc cãi vã, tranh luận. “Mỗi câu nói ra là mất đi một bước chân đấy.”
Hai người không ai cãi lại. Sáng biết họ tin anh. Bây giờ, khi cha mẹ không còn sống nữa, họ lại đang trên đường chạy trốn, nên họ cho rằng Sáng sẽ là người đưa ra những quyết định đúng đắn.
Anh em họ nằm co ro trên manh chiếu, vắt đuôi tóc ra sau lưng rồi nhắm mắt. Sáng nghe, thoạt đầu là Quốc Sĩ, sau đến Vũ chìm vào giấc ngủ. Hai anh em cứ như là trẻ con, Sáng nghĩ, mặc dù họ đã ngoài hai mươi tuổi. Bây giờ, hai người họ chỉ còn lại có mình, như thể là một người già cả, biết được cái gì xấu, cái gì tốt đối với họ. Nhưng mình cũng còn trẻ mà.
Sáng nghĩ hai người anh em của mình khác nhau biết bao. Vũ cứng đầu cứng cổ, luôn khó vâng theo lời người khác. Cha mẹ đã lo lắng cho tương lai của nó và thường hay trách mắng nó là cứ mở miệng là cãi như thế thì sau này nó sẽ gặp nhiều khó khăn trong cuộc đời. Quốc Sĩ, ngược lại, là người chậm chạp, chưa bao giờ làm cho cha mẹ phiền lòng. Anh là đứa con trai biết vâng lời, luôn được đưa ra làm gương cho Vũ noi theo.
Còn mình, mình có chút gì đó hòa trộn giữa hai người kia, Sáng nghĩ. Nhưng thực ra mình là ai? Mình có đủ khả năng gánh những trách nhiệm bị buộc phải gánh lấy hay không?
Xung quanh Sáng có mùi ẩm ướt và mùi bùn đất. Anh nằm ngửa mặt lên trời, nhìn những vì sao.
Tối tối mẹ hay chỉ cho anh xem bầu trời. Khi ấy gương mặt mệt mỏi của mẹ nở ra một nụ cười. Những ngôi sao như an ủi mẹ trong cuộc sống khó nhọc của bà. Phần lớn đời mình, mẹ đều cắm mặt xuống đất, mảnh đất hút lấy những nhánh mạ của mẹ, trong lúc chờ đến ngày hút mất luôn chính mẹ. Mỗi khi mẹ ngẩng mặt lên nhìn những vì sao, thì trong khoảnh khắc ngắn ngủi ấy mẹ không phải nhìn thấy mặt đất dưới chân mình.
Sáng lướt nhìn bầu trời đêm. Mẹ đã đặt tên cho một vài vì sao. Một ngôi sao sáng trong một chòm sao trông giống như con rồng được mẹ đặt tên là Sáng. “Đó là con,” mẹ đã nói vậy. “Con đến từ chỗ đó, và rồi có ngày con sẽ trở về nơi ấy.”
Ý nghĩ đến từ một vì sao làm cho anh sợ hãi. Nhưng anh đã không nói gì cả, vì hình như mẹ tìm được niềm vui ở đó.
Sáng nhớ lại những chuyện khủng khiếp đã bất ngờ ập đến dồn đuổi anh em Sáng phải bỏ trốn. Một trong những tay cai thợ mới của điền chủ có tên là Phàn kêu ca rằng cha mẹ anh đã không hoàn thành mức khoán công việc hằng ngày. Sáng biết cha mình đau lưng nặng và không còn làm nổi những công việc nặng nhọc nữa. Mặc dù cha được mẹ giúp sức, nhưng họ vẫn bị chậm. Lúc này, Phàn tới đứng trước túp lều vách đất của họ, cái lưỡi cứ thò ra thụt vào giữa hai hàm răng của gã như một con rắn nguy hiểm. Phàn còn trẻ, chỉ tầm tuổi Sáng. Nhưng hai người đến từ hai thế giới khác nhau. Phàn nhìn chằm chằm vào cha mẹ Sáng với những chiếc nón rơm trên tay, đầu cúi xuống, khom lưng trước mặt gã giống như những con côn trùng mà vào bất cứ lúc nào gã cũng có thể giẫm chết. Nếu như không làm nổi những việc công nhật, họ sẽ bị quăng ra khỏi nhà và sẽ phải đi ăn mày.
Vào một đêm, Sáng nghe thấy cha mẹ thầm thì với nhau, nhưng anh không nghe rõ họ nói những gì.
Sáng sớm hôm sau, chỉ còn trơ lại chiếc chiếu nơi họ nằm. Lập tức Sáng hoảng sợ. Trong túp lều chật chội này mọi người thường cùng thức dậy. Chắc chắn cha mẹ đã lẻn ra ngoài để không làm các con thức giấc. Sáng thận trọng đứng dậy mặc lên người chiếc quần rách và chiếc áo duy nhất của mình.
Mặt trời vẫn còn chưa mọc. Phía chân trời mới hửng sáng màu hồng. Đâu đó có tiếng gà gáy. Mọi người trong làng đã thức dậy trừ cha mẹ anh. Họ thắt cổ chết trên thân cây vốn cho bóng mát vào mùa nóng nhất trong năm. Thân thể họ khẽ đung đưa trong cơn gió buổi sáng.
Những gì xảy ra tiếp theo, Sáng chỉ còn có thể nhớ được lờ mờ. Anh không muốn những người anh em của mình nhìn thấy cảnh cha mẹ treo cổ trên dây thừng, miệng há hốc. Anh đã cắt dây thừng bằng chiếc liềm mà cha anh vẫn sử dụng trong công việc đồng áng. Họ rơi xuống, đè nặng lên người anh như thể muốn đem theo anh vào cõi chết.
Hàng xóm đã gọi cho ông Báo, người già nhất trong làng đến. Ông già mắt kém, người run lên bần bật, đứng không vững. Ông kéo Sáng sang một bên và nói, tốt nhất là anh em Sáng nên trốn đi. Phàn chắc chắn sẽ trả thù họ, sẽ giam giữ họ trong ngục thất ở nhà hắn, hoặc sẽ hành quyết họ. Ở đây, không có quan tòa, không có luật pháp mà chỉ có luật lệ riêng của điền chủ do Phàn thay mặt tuyên bố và hành xử. Anh em Sáng lên đường trước cả khi đống than hỏa thiêu xác cha mẹ họ lụi tàn.
Bây giờ anh nằm đây, dưới bầu trời đầy sao, bên cạnh là Quốc Sĩ và Vũ đang say ngủ. Anh không biết điều gì đang chờ đợi họ trong tương lai. Ông già Báo nói rằng họ nên theo đường đến miền biển, đến thành phố Quảng Châu tìm việc làm ở đó. Sáng hỏi ông ở đó có việc gì để làm. Nhưng lão Báo không có câu trả lời. Ông chỉ giơ bàn tay run rẩy chỉ về hướng Đông.
Họ đã đi cho tới khi bàn chân rớm máu, môi khô nẻ vì khát. Anh và em trai của Sáng đã khóc, vì cha mẹ chết, vì sợ hãi trước những gì xa lạ đang đón chờ họ. Sáng tìm cách an ủi hai người, nhưng đồng thời cũng nhắc nhở họ không được đi quá chậm. Phàn như một con rắn độc. Gã có ngựa, gã có đám thuộc hạ với gươm giáo mài sắc, luôn luôn có thể đuổi kịp được anh em Sáng.
Sáng vẫn tiếp tục nhìn lên các vì sao. Anh nghĩ đến lão điền chủ sống trong một thế giới khác, nơi những người nghèo không bao giờ được đặt chân tới. Lão chưa xuất hiện lấy một lần ở làng, lão chỉ là một cái bóng đầy hăm dọa hòa lẫn vào đêm đen.
Cuối cùng Sáng cũng ngủ thiếp đi. Ba cái đầu bị chặt len lỏi vào giấc mơ của Sáng. Anh cảm thấy lưỡi kiếm lạnh tì vào cổ mình. Còn hai người anh em của anh đã chết, đầu họ lăn lông lốc trên cát, máu từ những chiếc cổ bị đứt phun ra. Anh giật mình tỉnh dậy, giải phóng mình ra khỏi mộng mị, nhưng hễ anh nhắm mắt ngủ thì chúng lại trở về.
Họ lên đường vào sáng sớm hôm sau khi đã uống hết bình nước mà Quốc Sĩ đeo theo ở cổ bằng một sợi dây da. Họ buộc phải tìm thấy nước uống trong ngày. Họ tiếp tục đi trên con đường đầy đá sỏi và thỉnh thoảng gặp những người ra đồng làm hoặc đội trên đầu, vác trên vai những túi hàng nặng. Sáng thầm hỏi con đường này đến khi nào mới kết thúc. Có thể sẽ không có biển. Có thể cũng chẳng có thành phố Quảng Châu, nhưng anh không bao giờ nói ra ý nghĩ này với Quốc Sĩ và Vũ, nó chỉ làm nặng thêm bước chân họ.
Một con chó mực có đốm trắng ở ngực đi theo họ. Sáng không biết nó đến từ đâu. Đơn giản là nó bất ngờ xuất hiện. Sáng tìm cách đuổi nó đi, nhưng con chó luôn quay lại. Họ lấy đá ném đuổi, nó chạy mất, nhưng không bao lâu sau nó lại đuổi kịp.
– Chắc phải gọi con chó này là Đông Phố, “Thành phố lớn bên kia bờ biển”, Sáng nói.
Giữa trưa trời nắng chang chang, họ nghỉ lại dưới gốc cây trong một ngôi làng nhỏ. Dân làng cho họ nước uống, đổ nước vào bình cho họ mang theo. Con chó nằm bên cạnh chân Sáng, thở hổn hển, lưỡi thè ra.
Sáng quan sát nó thật kỹ. Ở con vật này có gì đó đặc biệt. Liệu có thể mẹ từ âm phủ đã gửi nó dẫn đường cho họ? Một con vật dẫn đường có thể từ chỗ những người chết chạy đến với những người đang sống không? Sáng không biết, anh chưa khi nào thực sự tin vào những vị thần thánh mà cha mẹ anh và dân làng thờ phụng. Làm sao người ta lại có thể cầu xin, sùng bái một cái cây không biết trả lời, một cái cây không có tai và không có mồm? Hoặc là một con chó hoang? Nếu như có thần thánh thì vào chính lúc này anh em của Sáng đang cần đến sự phù hộ giúp đỡ của các vị đó.
Buổi chiều họ lại tiếp tục lên đường. Trước mặt họ là con đường ngoằn ngoèo, vô tận.
Sau khi đi được ba ngày, họ thấy trên đường đã có nhiều người đi lại hơn. Những chiếc xe ba gác chất đầy cói, bao gạo vượt qua họ, trong khi đó lại có những chiếc xe không chở hàng đi ngược chiều họ. Sáng cố lấy hết can đảm hỏi thăm người đàn ông ngồi trên chiếc xe không.
– Từ đây đến biển còn xa nữa không hả bác?
– Khoảng hai ngày nữa. Không hơn. Ngày mai các cậu đã có thể ngửi thấy mùi của Quảng Châu rồi đấy. Các cậu không sợ lạc đường đâu.
Nói xong lão cười và tiếp tục đánh xe đi. Sáng nhìn theo. Ông ta nói ngửi thấy mùi thành phố có nghĩa là gì nhỉ?
Cũng vào buổi chiều hôm đó bỗng nhiên anh em họ lọt vào giữa một đàn bướm. Những con bướm trong mờ, màu vàng, khi đập cánh bay, phát ra tiếng kêu sột soạt như những tờ giấy vò vào nhau. Sáng kinh ngạc dừng lại giữa đám mây bướm, giống như là bước chân vào một ngôi nhà có những bức tường làm bằng cánh bướm. Mình thích được ở lại đây, anh nghĩ. Mình mong giá như ngôi nhà này không có cửa. Ở lại đây để được nghe thấy tiếng cánh bướm, cho đến một ngày nằm xuống chết.
Nhưng ở ngoài kia Sáng còn có hai người anh em của mình, anh không không thể bỏ mặc họ. Anh lấy tay gạt đàn bướm sang hai bên rẽ lối đi và mỉm cười với hai người. Anh sẽ không bao giờ rời xa họ.
Họ ngủ thêm một đêm nữa dưới một gốc cây sau khi đã ăn ít cơm. Tất cả đều đói, họ ôm nhau ngủ.
Ngày hôm sau, họ đến Quảng Châu. Con chó vẫn đi theo họ. Càng lúc Sáng càng tin rằng từ âm phủ, mẹ đã gửi nó đến để bảo vệ họ. Trước kia, anh chưa bao giờ tin vào những điều như vậy. Còn lúc này, khi đứng trước cổng thành, anh tự hỏi liệu có thật thế không.
Họ tiến vào cái thành phố nườm nượp người, chào đón họ với cái mùi không lẫn vào đâu được, một cái mùi khó ngửi. Sáng sợ lạc mất anh em trong dòng người xa lạ chen chúc nhau trên đường phố. Chính vì sợ như vậy nên anh đã cuốn vào thắt lưng mình một chiếc khăn dài rồi buộc đầu kia vào Quốc Sĩ và Vũ. Bây giờ thì chẳng còn sợ lạc nhau nữa, trừ khi chiếc khăn bị đứt. Họ từ từ mở đường đi, ngạc nhiên trước những ngôi nhà đồ sộ, những ngôi chùa, những thứ hàng hóa bày bán.
Bỗng chiếc khăn căng ra. Vũ giơ tay chỉ trỏ.
Sáng nhìn xem cái gì đã khiến nó dừng lại. Một người đàn ông ngồi trên một chiếc kiệu. Những tấm rèm, thường được buông xuống để che người ngồi bên trong giờ được cuộn lên. Không còn nghi ngờ gì nữa, người đàn ông ấy đã chết, mặt trắng nhợt như thể có ai đó đã xoa phấn trắng lên hai má ông ta. Hay ông ta là kẻ độc ác. Quỷ vương luôn sai phái đám yêu quái với khuôn mặt trắng bệch xuống trần gian. Ngoài ra người đàn ông này lại không có bím tóc đuôi sam và có khuôn mặt dài xấu xí với chiếc mũi to, khoằm.
Vũ và Quốc Sĩ ghé sát Sáng hỏi liệu đó là người hay là quỷ. Sáng cũng không biết. Anh chưa bao giờ nhìn thấy một thứ như thế, ngay cả trong những cơn ác mộng khủng khiếp nhất.
Bỗng những tấm rèm được kéo xuống, chiếc kiệu được khiêng đi. Một người đàn ông đứng bên cạnh Sáng, nhổ nước bọt về phía chiếc kiệu.
– Người đó là ai vậy? Sáng hỏi ông ta.
Người đàn ông nhìn Sáng vẻ khinh miệt và bảo Sáng nhắc lại câu hỏi. Sáng nhận ra mọi người nói bằng những thổ ngữ rất khác nhau.
– Người đàn ông trên kiệu. Ông ta là ai?
– Một người đàn ông da trắng, sở hữu rất nhiều tàu bè ở hải cảng của chúng ta.
– Ông ta bị bệnh à?
Người đàn ông cười khinh miệt:
– Không, giống người họ là thế. Trắng như những xác chết mà lẽ ra người ta đã phải thiêu từ lâu rồi.
Anh em họ lại tiếp tục đi trong thành phố bẩn thỉu và bốc mùi khó chịu. Sáng quan sát mọi người. Có nhiều người ăn mặc sang trọng, quần áo không rách rưới như anh em họ. Anh bắt đầu đoán chừng thế giới này không hoàn toàn giống như anh tưởng.
Sau khi lang thang trong thành phố nhiều tiếng đồng hồ, họ đã nhìn thấy nước qua các hẻm nhỏ. Vũ vội vàng chạy xuống chỗ có nước, vục đầu xuống uống nhưng lập tức ngẩng lên và nhổ ra khi thấy nước mằn mặn. Xác chết đã rữa của một con mèo trôi qua. Sáng nhìn dòng nước bẩn, không chỉ có xác súc vật mà còn cả phân người nổi lều bều. Sáng rùng mình kinh tởm. Ở quê nhà, phân người, phân gia súc được họ đem bón ruộng trồng rau. Còn ở đây, hình như người ta đổ trực tiếp những thứ này xuống kênh mương mà không dùng làm phân bón ruộng.
Sáng nhìn lên mặt nước, không thể nhận ra bờ bên kia. Cái mà người ta gọi là biển, hẳn phải là một con sông rất rộng, anh thầm nghĩ.
Anh em họ ngồi trên một cây cầu bằng gỗ ọp ẹp, hai bên có những con thuyền neo đậu, nhiều không đếm xuể. Khắp nơi vang lên tiếng gào thét, tiếng gọi nhau. Đó cũng là một trong những khác biệt giữa cuộc sống nơi thành phố với cuộc sống thôn dã quê anh. Ở đây con người không ngớt gào thét, dường như họ thường xuyên phải nói hoặc phàn nàn một cái gì đó. Không có chỗ nào yên tĩnh như Sáng đã vốn quen thế.
Anh em họ ăn nốt phần cơm còn lại và chia nhau nước trong bình. Quốc Sĩ và Vũ rụt rè nhìn Sáng. Giờ là lúc anh cần chứng minh cho họ thấy anh xứng đáng với lòng tin của họ. Nhưng làm thế nào anh có thể tìm được việc làm trong cảnh ồn ào hỗn độn của con người nơi đây? Làm sao anh có thể kiếm được miếng ăn cho cả ba anh em? Họ sẽ ngủ ở đâu? Sáng nhìn con chó đang nằm, một cẳng chân gác lên mõm. Và giờ thì biết làm gì đây?
Anh thấy cần được ngồi một mình để có thể đánh giá được tình cảnh của họ. Sáng đứng lên bảo hai người anh em cứ chờ ở đây cùng với con chó. Vì họ sợ anh bỏ đi, biến mất trong đám người đông đúc, không bao giờ quay trở lại nữa, nên anh nói để họ yên lòng:
– Hai người hãy nghĩ đến một sợi dây vô hình buộc chặt chúng ta lại với nhau. Tôi sẽ quay trở lại ngay. Nếu có ai bắt chuyện, hãy lịch sự trả lời, nhưng nhớ không được rời khỏi đây. Nếu không tôi sẽ không tìm được hai người đâu.
Sáng đi vào ngõ nhỏ, chốc chốc lại quay đầu nhìn lại để nhớ đường. Bỗng con phố nhỏ dẫn ra một bãi rộng có một ngôi chùa. Nhiều người đang quỳ hoặc đang cúi đầu trước một ban thờ có nhiều lễ vật và những thẻ hương đang nghi ngút cháy.
Giá như mẹ ở đây, chắc là mẹ sẽ lập tức đi vào trong đó, Sáng thầm nghĩ. Cả cha cũng sẽ làm như vậy, nhưng sẽ do dự hơn. Mình không còn nhớ có khi nào ông đặt bàn chân này lên trước bàn chân kia mà không do dự không.
Còn lúc này, người đó lại là anh, không biết mình phải làm gì.
Trên bãi rộng có một vài tảng đá rời ra khỏi bức tường chùa. Anh lại ngồi lên đó vì bị say nắng sa sẩm mặt mày.
Sau khi thấy đỡ chóng mặt, anh đứng dậy trở lại con sông, đi dọc theo bến tàu. Nhiều người khom lưng vác những kiện hàng nặng, cố giữ thăng bằng đi trên ván cầu ọp ẹp. Phía xa hơn, anh nhìn thấy những con tàu lớn, cột buồm được hạ xuống, chui qua dưới các cây cầu ngược dòng sông.
Anh đứng lại nhìn những người phu khuân vác hàng, kiện này to hơn kiện khác. Một vài người đàn ông đứng bên cạnh ván cầu kiểm tra hàng hóa được chuyển lên tàu và từ tàu chuyển xuống, trả một vài xu tiền công cho phu khuân vác, trước khi họ biến mất vào các ngõ nhỏ.
Bỗng Sáng hiểu ra. Họ phải khuân vác để kiếm sống. Chúng ta cũng có thể, anh nghĩ, chúng ta sẽ làm phu khuân vác. Ở đây không có ruộng, không có đồng lúa. Nhưng chúng ta có thể khuân vác, chúng ta đều khỏe mạnh.
Anh quay trở lại chỗ Quốc Sĩ và Vũ đang ngồi chồm hỗm trên cầu tàu. Anh đứng lại hồi lâu nhìn hai người đang bám víu vào nhau.
Chúng ta giống như những con chó, anh nghĩ. Ai cũng có thể hành hạ chúng ta và chúng ta sống nhờ vào những gì mà người khác vứt đi.
Con chó nhìn thấy Sáng, đứng dậy chạy lại phía anh.
Anh không giẫm đạp lên nó.