Birgitta Roslin đã tìm thấy cái bà cần tìm trong góc phòng của quán ăn Trung Quốc. Chiếc đèn lồng treo trên bàn thiếu một dải băng đỏ.
Bà đứng lại và nín thở.
Người đó đã ngồi ở đây, bà nghĩ. Trong góc tối nhất. Rồi sau đó, người ấy đứng dậy, rời khỏi quán ăn và đi về Hesjövallen. Người đó hẳn là đàn ông. Chắc chắn là một người đàn ông.
Bà nhìn quanh căn phòng. Cô phục vụ mỉm cười. Từ trong bếp vọng ra tiếng trò chuyện bằng tiếng Trung Quốc.
Bà nghĩ rằng không chỉ bản thân bà mà cả cảnh sát cũng không hiểu được chuyện gì đã xảy ra. Nó rộng lớn hơn, sâu sắc hơn, bí ẩn hơn so với những gì mà họ có thể tưởng tượng ra.
Nói đúng ra, họ hoàn toàn không biết được gì.
Bà quay lại chỗ mình và lơ đễnh ăn những món vừa tự chọn ở quầy buffet. Đến lúc này bà vẫn còn là thực khách duy nhất trong quán ăn. Bà vẫy cô phục vụ lại phía mình và chỉ vào chiếc đèn.
– Nó bị mất một dải băng, bà nói.
Thoạt tiên cô phục vụ chưa hiểu ý bà. Bà chỉ vào chiếc đèn lồng một lần nữa. Cô phục vụ gật đầu ngạc nhiên. Cô hoàn toàn không hề biết về dải băng bị thiếu. Rồi cô cúi xuống gầm bàn tìm xem nó có rơi xuống đó không.
– Mất, đoạn cô nói. Không thấy đâu cả.
– Nó bị thiếu từ bao giờ vậy? Bà Birgitta Roslin hỏi.
Cô phục vụ nhìn bà, sững sờ. Roslin nhắc lại câu hỏi, vì bà nghĩ cô phục vụ không hiểu bà. Cô ta lắc đầu vẻ sốt ruột.
– Không biết. Nếu bà không muốn ngồi ở bàn này, có thể đổi.
Trước khi Roslin kịp nói, cô phục vụ đã quay ra đón một tốp khách khá đông đang bước qua cửa vào trong quán. Bà Roslin đoán đây là những nhân viên của ủy ban hành chính địa phương. Qua những mẩu trao đổi mà bà nghe được, bà được biết họ vừa tham dự một hội nghị về nạn thất nghiệp cao ở Hälsingland. Birgitta Roslin vẫn uể oải ăn trong lúc quán ăn mỗi lúc một thêm đông. Cô phục vụ phải vất vả, luôn chân luôn tay. Cuối cùng cũng có một người đàn ông từ trong bếp ra phụ giúp cô dọn dẹp bát đĩa và lau bàn ăn.
Hai tiếng đồng hồ sau, cảnh chen chúc buổi trưa trong quán ăn đã qua. Birgitta Roslin vẫn tiếp tục nhấm nháp đồ ăn trong đĩa, rồi gọi một ấm trà xanh và tận dụng thời gian để suy nghĩ lại những gì đã xảy ra ở Hälsingland từ khi bà đến đây. Đương nhiên bà không tự giải thích nổi vì sao dải băng đỏ từ quán ăn này lại có thể nằm trong tuyết ở Hesjövallen được.
Cuối cùng cô phục vụ cũng đến bên bà và hỏi xem bà còn muốn gọi thêm gì nữa không. Bà Roslin lắc đầu.
– Tôi chỉ muốn hỏi cô một vài câu.
Trong quán ăn vẫn còn lại một vài thực khách. Cô phục vụ nói chuyện với người đàn ông Trung Quốc đã giúp cô dọn dẹp, lau chùi bàn ăn, rồi cô quay trở lại chỗ bà Roslin.
– Nếu bà muốn mua đèn, thì có thể, cô gái cười nói.
Bà Roslin cười đáp lại:
– Không, tôi không mua đèn. Dịp nghỉ lễ đầu năm mới quán ăn của cô vẫn mở cửa đấy chứ?
Cô phục vụ lại nhìn bà vẻ ngạc nhiên:
– Cửa hàng chúng tôi mở liên tục. Buôn bán kiểu Trung Quốc. Luôn luôn mở, khi những cửa hàng khác đóng.
Bà Roslin nhủ thầm rằng câu hỏi của mình muốn đưa ra thật khó mà trả lời được. Tuy vậy bà vẫn hỏi:
– Cô có nhớ được khách hàng của mình không?
– Bà cũng đã tới rồi, cô ta nói. Tôi nhớ được các thực khách của mình.
– Cô có nhớ ai đã ngồi ở chính bàn này vào mấy ngày đầu năm mới không?
Cô phục vụ lắc đầu.
– Chiếc bàn này là chiếc bàn ở vị trí đẹp. Khách thường ngồi ở đây. Lúc này bà cũng đang ngồi ở đây mà. Ngày mai lại có người khác đến ngồi.
Birgitta Roslin nhận ra rằng những câu hỏi mơ hồ của mình chẳng dẫn tới đâu. Bà cần phải hỏi chính xác hơn. Sau một lúc do dự, bà đã biết mình nên đặt câu hỏi như thế nào:
– Mấy ngày đầu năm mới, bà nhắc lại, một thực khách mà cô mới nhìn thấy lần đầu.
– Nghĩa là chưa bao giờ?
– Chưa bao giờ. Cả trước đó lẫn sau đó.
Bà thấy cô phục vụ đang cố gắng nhớ lại.
Những thực khách buổi trưa cuối cùng cũng rời khỏi quán ăn. Máy điện thoại bên máy tính tiền đổ chuông. Cô phục vụ nhận điện thoại đặt hàng của khách. Sau đó cô quay lại chỗ bà. Có ai đó làm việc trong bếp lúc này đã cho chạy đĩa CD nhạc Trung Quốc.
– Nhạc hay, cô phục vụ nói. Nhạc Trung Quốc. Bà có thích không?
– Hay, Birgitta Roslin nói. Rất hay.
Cô phục vụ ngập ngừng. Cuối cùng cô gật đầu, trước tiên còn đắn đo, sau đó có vẻ quả quyết hơn.
– Một người đàn ông Trung Quốc, cô nói.
– Người đã ngồi ở chỗ này ấy à?
– Trên chính chiếc ghế bà đang ngồi. Ăn tối.
– Đó là khi nào?
Cô gái ngẫm nghĩ:
– Vào tháng Giêng. Nhưng không phải vào ngay đầu năm. Sau đó.
– Sau đó bao lâu?
– Hình như chín hoặc mười ngày gì đó?
Birgitta Roslin cắn chặt môi. Có lẽ đúng rồi, bà thầm nghĩ. Đêm 12 rạng ngày 13 là một ngày đẫm máu ở Hesjövallen.
– Có thể muộn hơn một vài ngày nữa không?
Cô phục vụ đi đến quầy bar lấy cuốn sổ ghi chép rồi quay trở lại.
– 12 tháng Giêng, cô nói. Anh ta ngồi ở chỗ này, không đặt bàn trước.
– Trông anh ta thế nào?
– Người Trung Quốc. Mảnh khảnh.
– Anh ta có nói gì không?
Câu trả lời của cô phục vụ đến rất nhanh làm cho bà Roslin phải ngạc nhiên.
– Hoàn toàn không. Anh ta chỉ chỉ vào thứ mình muốn.
– Nhưng anh ta là người Trung Quốc cơ mà?
– Tôi tìm cách nói chuyện với anh ta bằng tiếng Trung Quốc. Nhưng anh ta chỉ nói “im lặng”. Tôi nghĩ anh ta muốn được yên tĩnh. Anh ta ăn. Xúp, chả giò, cơm rang và món tráng miệng. Anh ta có vẻ rất đói.
– Anh ta có uống gì không?
– Nước suối và trà.
– Suốt trong thời gian đó anh ta không nói gì sao?
– Anh ta muốn được yên tĩnh.
– Còn sau đó?
– Trả tiền. Bằng tiền Thụy Điển. Rồi đi.
– Và không quay lại nữa?
– Không.
– Anh ta có lấy dải băng đỏ không?
Cô phục vụ cười:
– Sao phải làm thế?
– Dải băng đỏ có ý nghĩa gì đặc biệt không?
– Chỉ là một dải băng đỏ. Chẳng có nghĩa gì cả.
– Ngoài ra còn có chuyện gì xảy ra nữa không? Sau khi anh ta đi ấy?
– Bà hỏi nhiều câu buồn cười quá. Bà là người của sở tài chính à? Anh ta đâu có làm việc ở đây. Chúng tôi đóng thuế. Mọi người làm ở đây đều có giấy tờ.
– Tôi chỉ tò mò vậy thôi. Vậy là cô không gặp lại anh ta nữa à?
Cô phục vụ chỉ ra cửa sổ.
– Anh ta đi về hướng tay phải. Tuyết rơi. Rồi anh ta biến mất, không quay trở lại nữa. Vì sao bà lại hỏi?
– Có thể tôi biết anh ta, Birgitta Roslin trả lời.
Roslin trả tiền và rời khỏi tiệm ăn. Người đàn ông ấy đã rẽ về hướng tay phải. Bà cũng làm đúng như vậy. Ở chỗ ngã tư bà đưa mắt nhìn quanh. Ở một bên có mấy cửa hàng và một bãi đỗ xe. Con đường ngang dẫn tới phía bên kia chập vào một ngõ cụt. Ở đó có một khách sạn nhỏ với cửa kính bị rạn. Bà lại nhìn quanh một lần nữa. Một ý nghĩ thoáng qua trong đầu bà.
Bà quay trở lại tiệm ăn Trung Quốc. Cô phục vụ đang ngồi ở quầy bar hút thuốc. Cô ta giật mình khi thấy cửa mở và lập tức dụi tắt mẩu thuốc lá.
– Tôi có một câu hỏi nữa, Roslin nói. Người đàn ông Trung Quốc mà cô nói đến không mặc áo khoác đúng không?
Cô phục vụ suy nghĩ một lúc.
– Không. Thật sự là không. Sao bà lại biết?
– Tôi có biết gì đâu. Cô cứ hút thuốc tiếp đi. Cảm ơn sự giúp đỡ của cô.
Cánh cửa của khách sạn bị hỏng. Có ai đó đã tìm cách cạy cửa. Ổ khóa sau đó chỉ được sửa tạm thời. Bà bước lên tầng lửng tới quầy lễ tân chỉ có một chiếc bàn quầy và một khoang trống thay cho cửa. Không có ai trực. Bà cất tiếng gọi. Không một ai xuất hiện. Bà phát hiện ra chiếc chuông nhỏ và rung chuông. Bà giật nẩy mình khi bất ngờ có ai đó đứng sau lưng. Một người đàn ông gầy trơ xương như người ốm nặng. Ông ta đeo một cặp kính cận dày cộp và người bốc mùi rượu.
– Bà tìm phòng trọ à?
Bà Roslin nghe như ông ta nói giọng địa phương. Hình như ông ta xuất thân từ vùng Göteborg.
– Tôi chỉ muốn được hỏi ông một vài câu. Về một người bạn mà theo tôi biết thì đã ngủ lại trong khách sạn của ông.
Người đàn ông lệt xệt đi vào sau quầy, đưa những ngón tay run rẩy lấy ra cuốn sổ ghi tên khách trọ. Bà không bao giờ tưởng tượng nổi một khách sạn như thế này vẫn còn tồn tại. Bà thấy mình như được đưa trở lại trong một bộ phim của những năm 1940.
– Tên người khách đó là gì?
– Tôi chỉ biết anh ấy là một người Trung Quốc.
Người đàn ông đặt cuốn sổ lên mặt bàn. Khuôn mặt ông run rẩy trong lúc nhìn bà. Chắc ông ta mắc chứng Parkinson, bà thầm nghĩ.
– Thường thì người ta phải biết tên những người bạn của mình, kể cả khi đó là một người Trung Quốc.
– Anh ấy là bạn của một người bạn tôi. Một người Trung Quốc.
– Tôi hiểu rồi. Anh ta ở trọ chỗ chúng tôi hôm nào?
– Đầu tháng Giêng, bà trả lời.
– Dạo đó tôi đang phải nằm viện. Thằng cháu thay tôi quản lý khách sạn.
– Ông có thể gọi điện cho cậu ta được không?
– Đáng tiếc là không được. Nó đang có mặt trên một con tàu thám hiểm ở Bắc Cực.
Ông lão dùng đôi mắt cận nặng lần tìm trong các trang sổ.
– Quả thật đã có một người Trung Quốc trọ ở đây, ông lão bất ngờ nói như reo lên. Một người đàn ông có tên là Vương Minh Hào, đến từ Bắc Kinh. Anh ta đã ngủ lại một đêm. Đêm 12 rạng ngày 13 tháng Giêng. Có phải đó là người đàn ông mà bà cần tìm không?
– Đúng đấy, Birgitta Roslin nói mà gần như không giấu nổi sự phấn khích. Đúng là anh ấy.
Ông già quay cuốn sổ ghi chép cho bà đọc. Bà lấy từ trong túi xách tay ra một mảnh giấy và ghi lại những thông tin về người đàn ông này: tên họ, số hộ chiếu và một chi tiết nữa có thể là một địa chỉ ở Bắc Kinh.
– Cảm ơn ông đã giúp đỡ tôi, bà Roslin nói. Liệu anh ấy có quên thứ gì ở khách sạn không?
– Tôi tên là Sture Hermansson, người đàn ông nói. Vợ chồng tôi đã mở khách sạn này từ năm 1946. Giờ thì bà ấy đã qua đời. Cũng sắp đến lượt tôi. Đây có lẽ là năm cuối cùng. Ngôi nhà này sẽ được phá bỏ.
– Nếu vậy thì thật đáng buồn.
Sture Hermansson lầu bầu vẻ không tán thành.
– Điều gì đáng buồn ở đây? Ngôi nhà cũng đã tàn tạ, cả tôi cũng vậy. Người già phải chết đó là lẽ thường. Nhưng tôi thực sự tin rằng cái anh chàng Trung Quốc có để lại một thứ gì đó.
Ông lão biến mất vào trong căn phòng phía sau bàn quầy. Bà Roslin chờ đợi.
Bà đang tự hỏi liệu ông ta có bị lên cơn đau tim không thì ông ta trở ra, trên tay cầm một cuốn tạp chí.
– Cái này nằm trong một sọt rác khi tôi từ bệnh viện về. Tôi có thuê một phụ nữ người Nga giúp việc lau chùi nhà cửa. Tôi chỉ có tám phòng nghỉ nên cô ấy cũng kham nổi. Nhưng cô ấy hơi cẩu thả. Khi từ viện về, tôi đã đi kiểm tra. Cái này ở trong phòng của người Trung Quốc đó.
Ông Sture Hermansson đưa cho bà cuốn tạp chí có những dòng chữ tiếng Trung, ảnh chụp bên trong, bên ngoài một tòa nhà. Bà Roslin cho rằng đây không phải là một cuốn tạp chí thông thường, mà chỉ là một catalog giới thiệu của một công ty nào đó. Ở trên bìa sau có những ký tự tiếng Trung Quốc được viết cẩu thả bằng bút mực.
– Nếu thích bà có thể giữ lấy nó, tôi không biết tiếng Trung, ông Sture Hermansson nói.
– Cảm ơn ông đã giúp đỡ, bà nói rồi cầm lấy cuốn tạp chí nhét vào túi xách tay và tạm biệt ông lão.
– Bà không cần phải cảm ơn. Bà hài lòng chứ?
– Hơn cả hài lòng.
Ra gần tới cửa, bà nghe có tiếng ông Hermansson sau lưng:
– Hình như tôi còn có thêm cái này cho bà nữa. Nhưng tôi thấy bà có vẻ đang vội, bà không có nhiều thời gian thì phải?
Birgitta Roslin quay lại bên quầy. Ông lão cười, rồi ông chỉ vào một điểm phía sau đầu ông. Thoạt đầu bà Roslin không hiểu mình phải nhìn cái gì. Trên tường có treo một chiếc đồng hồ và một quyển lịch của xưởng sửa chữa xe dành riêng cho tất cả các loại xe Ford.
– Tôi không hiểu ông định nói gì?
– Vậy là bà nhìn còn kém hơn tôi đấy, ông nói, rồi lấy từ dưới bàn quầy lên một chiếc gậy nhỏ thường dùng để chỉ bản đồ và giải thích. Đồng hồ treo tường của tôi chạy chậm. Tôi phải dùng đến chiếc gậy này để chỉnh lại kim đồng hồ. Ở tình trạng của tôi mà trèo lên thang thì quả là không nên.
Ông dùng đầu gậy chỉ vào một điểm ở trên tường ngay dưới chiếc đồng hồ. Bà chỉ nhìn thấy một lỗ thông gió. Bà vẫn còn chưa hiểu ông muốn chỉ cho bà xem cái gì. Cuối cùng bà cũng nhận ra đó không phải là một lỗ thông gió mà là một cái lỗ được khoét để giấu ống kính camera bên trong.
– Nhờ thứ này, chúng ta có thể biết người đàn ông ấy trông như thế nào, ông lão nói với vẻ khoái chí.
– Đấy là một camera giám sát?
– Hoàn toàn đúng vậy. Tôi tự thiết kế lấy. Thuê hẳn một hãng chỉ để lắp đặt cho một khách sạn nhỏ như thế này thì quá tốn kém. Ngoài ra, có ai lại nảy ra ý định trộm cắp của tôi chứ? Kẻ nào làm vậy thì thật là ngốc nghếch, có khác nào đi trấn lột mấy thằng cha đáng thương ngồi uống cho đến say trên ghế băng công viên chứ.
– Có nghĩa là ông đã chụp ảnh từng khách trọ?
– Tôi quay video. Nói chung tôi không biết làm vậy có hợp pháp không. Nhưng tôi có một cái nút ở chỗ này, dưới mặt bàn, chỉ cần ấn lên nó, vậy là vị nào đứng trước quầy đều bị ghi hình.
Ông lão thích thú nhìn bà:
– Tôi vừa mới quay phim bà đấy, ông nói. Bà đứng rất đúng vị trí đấy.
Roslin đến bên ông sau quầy bàn. Đó là một căn phòng nhỏ có lẽ ông lão vừa dùng nó làm chỗ ngủ vừa làm văn phòng. Qua một cánh cửa để ngỏ bà nhìn thấy một phòng bếp cũ, bên trong có một phụ nữ đang lau rửa.
– Đó là cô Natacha, ông lão nói. Đúng ra tên của cô ấy không phải vậy. Nhưng tôi thấy đã là phụ nữ Nga thì nên gọi là Natacha.
Bất ngờ ông lão nhìn chằm chằm Roslin vẻ lo lắng:
– Tôi hy vọng bà không phải là người của bên cảnh sát.
– Không đâu. Ông khỏi lo.
– Tôi không tin là mọi giấy tờ của cô ấy đều ổn. Nhưng mà hầu như phần lớn người nhập cư đều vậy cả, phải không?
– Không hoàn toàn như vậy đâu, Birgitta Roslin nói. Nhưng tôi không phải là cảnh sát.
Ông lão tìm trong đống băng video được ghi rõ ngày tháng.
– Chúng ta chỉ còn có thể hy vọng rằng thằng cháu tôi đã không quên ấn nút, ông lão nói trong lúc lục tìm. Tôi đã không kiểm tra các cuộn băng ghi từ đầu tháng Giêng. Thời gian này gần như chỗ chúng tôi không có khách.
Sau khi lục tìm cuối cùng ông lão cũng tìm được ra cái mình cần. Ông nhét nó vào máy và bật vô tuyến. Người phụ nữ có tên là Natacha biến ra khỏi bếp như một cái bóng.
Ông Sture Hermansson ấn nút Play. Birgitta Roslin cúi người về phía trước. Hình ảnh rõ đến đáng ngạc nhiên. Một người đàn ông đội một chiếc mũ lông thú to đứng trước quầy.
– Đây là Lundgren đến từ Järvsö, ông giới thiệu. Mỗi tháng ông ta đến đây một lần để được yên tĩnh uống cho đến say. Khi đã ngà ngà, ông ta gào lên những bài Thánh vịnh. Rồi ông ta trở về nhà. Một gã dễ mến. Buôn sắt vụn. Là khách ruột của tôi gần ba mươi năm nay. Một khách được giảm giá.
Màn hình nhấp nháy. Khi hình ảnh đã ổn định và rõ ràng, bà nhìn thấy hai người phụ nữ trung tuổi.
– Đó là những bạn gái của Natacha. Thỉnh thoảng họ lại qua đây. Tốt hơn là không nên biết họ làm gì ở thành phố. Họ không được phép tiếp khách trong khách sạn của tôi. Nhưng tôi đoán, họ vẫn làm chuyện này khi tôi ngủ.
– Họ cũng được giảm giá đấy chứ?
– Tôi giảm giá cho tất cả mọi người. Tôi không đặt ra giá cố định. Khách sạn đã làm ăn thua lỗ từ cuối những năm 1960. Thực ra tôi sống nhờ lợi tức của một gói chứng khoán, cổ phiếu. Tôi hy vọng vào ngành lâm nghiệp và công nghiệp nặng.
Hình ảnh thay đổi. Birgitta Roslin giật mình. Hình ảnh rất rõ. Một người đàn ông Trung Quốc, mặc áo măng tô đen. Anh ta ngước nhìn lên chỗ đặt máy camera trong giây lát. Như thể ánh mặt họ đã giao nhau. Anh ta trẻ, bà thầm nghĩ. Không quá ba mươi tuổi, nếu như hình ảnh trên màn hình không đánh lừa. Anh ta nhận chìa khóa phòng và biến mất khỏi màn hình.
– Có đúng là người đó không? Ông lão hỏi. Tôi không nhìn được rõ nữa.
– Hôm đó là ngày 12 tháng Giêng?
– Tôi tin thế. Nhưng để tôi xem lại trong sổ đăng ký, liệu có đúng anh ta đăng ký trọ sau những cô bạn gái người Nga của chúng ta không đã.
Ông lão đứng lên và biến mất vào căn phòng phía sau quầy. Trong lúc vắng mặt ông lão, Birgitta Roslin đã tua đi tua lại nhiều lần hình ảnh người đàn ông Trung Quốc. Bà cho dừng lại đúng lúc anh ta ngước mắt nhìn lên nơi đặt máy quay. Anh ta đã phát hiện thấy chiếc camera bí mật, bà thầm nghĩ. Sau đó, anh ta nhìn đi chỗ khác và cúi mặt xuống. Thậm chí anh ta còn thay đổi cả vị trí để khuôn mặt không bị lộ trước máy quay nữa. Mọi việc diễn ra rất nhanh. Bà cho tua lại đoạn băng, xem lại một lần nữa. Lúc này bà tin chắc rằng suốt thời gian đó anh ta luôn tỏ ra cảnh giác và tìm kiếm xem ở đây có chỗ nào đặt máy quay không. Bà lại cho dừng hình. Một người đàn ông tóc cắt ngắn, đôi mắt linh hoạt, hai môi mím chặt. Di chuyển nhanh, cảnh giác. Có lẽ nhiều tuổi hơn là lúc đầu bà đoán.
Ông Sture Hermansson trở ra.
– Xem như là chúng ta đúng, ông nói. Hai bà đầm người Nga đã ghi tên, đương nhiên là tên giả. Rồi sau đó đến người đàn ông này, Vương Minh Hào, đến từ Bắc Kinh.
– Có thể sao lại đoạn băng này không?
Ông lão nhún vai.
– Bà có thể giữ nó. Tôi cần nó làm gì đâu. Tôi lắp chiếc camera này cho vui. Cứ nửa năm tôi lại xóa bỏ. Tôi tặng bà cuốn băng này.
Ông lão nhét cuộn băng vào bao rồi đưa nó cho bà. Hai người cùng đi ra cầu thang. Natacha đang lau các bóng đèn chiếu sáng hành lang, lối vào khách sạn.
Ông Sture Hermansson thân thiện bẹo cánh tay bà.
– Bây giờ có lẽ bà đã có thể nói cho tôi biết vì sao bà lại quan tâm đến cái anh chàng người Trung Quốc này, được chứ? Hắn nợ tiền bà à?
– Sao ông lại nghĩ như vậy?
– Tất cả đều nợ nhau một cái gì đó. Khi người ta tìm kiếm ai đó, phần nhiều là vì tiền bạc.
– Tôi nghĩ người đàn ông này có thể có câu trả lời về một vài vấn đề, Roslin nói. Nhưng đáng tiếc là tôi không thể nói gì nhiều hơn nữa.
– Và bà không phải là cảnh sát đấy chứ?
– Không.
– Bà cũng không phải là người vùng này?
– Đúng thế. Tên tôi là Birgitta Roslin, đến từ Helsingborg. Nếu như người này lại xuất hiện ở đây, ông có thể báo cho tôi biết qua điện thoại được không?
Bà ghi lại số điện thoại của mình cho ông Sture Hermansson rồi tạm biệt.
Lúc ra đến ngoài đường bà mới nhận ra mình đã vã mồ hôi. Đôi mắt của người đàn ông Trung Quốc ám ảnh bà. Bà nhét cuộn băng vào trong túi xách tay và đảo mắt nhìn quanh, vẻ lưỡng lự. Bây giờ bà phải làm gì? Đáng ra bà đã phải đang trên đường trở về Helsingborg. Lúc này đã gần tối. Bà đi vào một nhà thờ gần đó và ngồi xuống hàng ghế đầu. Trời lạnh. Một người đàn ông đang quỳ trước tường sửa chữa lại chỗ ghép thạch cao. Bà cố nghĩ cho rõ ràng mọi chuyện, ở Hesjövallen người ta tìm thấy một dải băng đỏ. Trong tuyết. Nhờ tình cờ bà đã lần ra dấu vết trong một tiệm ăn Trung Quốc. Ngày 12 tháng Giêng, vào buổi tối, đã có một người đàn ông Trung Quốc ngồi ăn ở đó. Cũng trong đêm đó hoặc rạng sáng hôm sau, đã có mười chín người ở làng Hesjövallen bị giết chết.
Bà nghĩ đến hình ảnh trên cuộn băng của ông Sture Hermansson. Liệu có thể tưởng tượng được rằng một mình người đàn ông đó đã gây ra tất cả chuyện này? Hoặc còn có nhiều người cùng tham gia mà cho đến giờ bà hoàn toàn chưa biết gì về họ? Liệu dải băng đỏ có thể vì một lý do khác đã rơi trên tuyết ở ngoài ấy?
Bà lấy từ trong túi xách tay ra cuốn tạp chí đã bị ném vào sọt đựng giấy ở khách sạn. Chi tiết này cũng khiến cho bà hoài nghi. Có thể cuối cùng cái người tên là Vương Minh Hào này chẳng có liên quan gì đến sự kiện đã xảy ra ở Hesjövallen. Một tên giết người ranh mãnh liệu có để lại dấu vết rõ ràng như vậy không?
Ánh sáng trong nhà thờ yếu ớt. Bà phải đeo kính để đọc cuốn tạp chí. Trên một trang bà nhìn thấy bức ảnh chụp một tòa nhà chọc trời của Bắc Kinh và những dòng chữ Trung Quốc. Trên trang khác là một loạt các con số, những tấm ảnh của một vài người đàn ông Trung Quốc đang cười.
Bà quan tâm nhiều nhất đến những ký tự Trung Quốc được viết bằng mực ở bìa sau. Ở đây Vương Minh Hào đến gần bà hơn. Có thể những chữ này do chính tay anh ta viết ra. Anh ta muốn ghi nhớ điều gì chăng? Và đó là điều gì?
Ai có thể giúp bà đọc những chữ này? Ngay khi đặt ra câu hỏi này, bà đã có câu trả lời. Bỗng cái quá khứ đầy nhiệt huyết cách mạng trở về trong bà. Bà rời khỏi nhà thờ, đi đến khu nghĩa trang với chiếc máy điện thoại di động trên tay. Karin Wiman, một trong những cô bạn của bà từ thời sinh viên ở Lund, đã trở thành nhà Hán học và đang làm việc tại trường đại học Copenhagen. Karin không bắt máy, nhưng bà đã để lại tin nhắn đề nghị Karin gọi lại cho mình. Sau đó bà trở về chỗ đậu xe, phóng đến một khách sạn lớn ở trung tâm thành phố và thuê một phòng ở đó. Căn phòng rộng rãi nằm ở tầng trên cùng. Bà bật vô tuyến và được biết đêm nay sẽ có tuyết rơi.
Bà nằm xuống giường chờ đợi. Bà nghe có tiếng đàn ông cười ở phòng bên cạnh.
Tiếng chuông điện thoại cầm tay làm bà thức giấc. Đó là Karin gọi lại cho bà, không giấu nổi vẻ ngạc nhiên. Khi Birgitta Roslin giải thích rõ chuyện của mình, Karin Wiman bảo bà gửi qua máy fax cho bà ấy tấm ảnh với những dòng chữ ghi ở đó. Tại quầy lễ tân của khách sạn, người ta đã vui vẻ giúp bà fax bức ảnh này đi. Bà trở về phòng mình và chờ đợi. Lúc này ở bên ngoài trời đã tối. Cũng đã đến lúc phải gọi điện về nhà thông báo rằng bà đã suy tính lại, thời tiết quá xấu nên bà còn ở lại đây một đêm nữa.
Karin Wiman gọi điện cho bà vào lúc bảy rưỡi tối.
– Chữ viết hơi cẩu thả, nhưng mình tin là đã đọc được nó.
Birgitta Roslin nín thở.
– Đó là tên của một bệnh viện. Mình đã kiểm tra rồi. Bệnh viện Long Phúc, nằm ngay giữa trung tâm Bắc Kinh trên Phố sau bảo tàng Mỹ thuật. Gần ngay Viện bảo tàng Mỹ thuật lớn của Trung Quốc. Nếu bạn muốn, mình có thể gửi cho bạn một tấm bản đồ thành phố.
– Thế thì hay quá.
– Nhưng bây giờ bạn phải giải thích cho mình rõ, vì sao bạn lại muốn biết tất cả việc này. Niềm đam mê của bạn đối với Trung Quốc lại trỗi dậy à?
– Có thể là như thế. Mình sẽ kể cho bạn nghe sau. Bạn có thể fax cho mình tấm bản đồ vào số máy vừa rồi không?
– Một vài phút nữa nó sẽ có mặt ở chỗ bạn. Nhưng bạn hơi làm ra vẻ bí mật quá đấy.
– Bạn phải kiên nhẫn một chút. Mình sẽ kể mà.
– Sắp tới bọn mình phải gặp nhau thôi.
– Bạn nói đúng đấy. Chúng ta gặp nhau ít quá.
Birgitta Roslin đi xuống quầy lễ tân và chờ. Mấy phút sau tấm bản đồ trung tâm Bắc Kinh đã được chuyển đến qua máy fax. Karin đã cẩn thận đánh mũi tên chỉ vào khu nhà bệnh viện.
Lúc này bà cảm thấy đói. Khách sạn không có nhà ăn nên bà lên phòng lấy áo khoác và đi ra phố.
Bên ngoài trời đã tối. Ít ô tô qua lại, lác đác có một vài người đi bộ trên vỉa hè. Nhân viên quầy lễ tân giới thiệu cho bà một quán ăn Ý ở gần đấy. Bà tới đó, ăn bữa tối trong quán ăn vắng khách.
Tuyết lại bắt đầu rơi khi bà bước ra đường. Bà trở về khách sạn.
Bỗng nhiên bà đứng lại, ngoảnh đầu nhìn. Bà có cảm giác như đang bị theo dõi. Nhưng bà không nhìn thấy ai.
Bà vội vàng rảo bước về khách sạn và ngoắc sợi dây xích vào chốt cửa phòng. Rồi bà đến đứng sau bức rèm cửa sổ nhìn xuống đường phố.
Vẫn không thấy ai. Chỉ có tuyết đang rơi.