Sáng hôm sau khi Birgitta Roslin thức dậy, Karin Wiman đã đi Copenhagen vì hôm nay bà có giờ lên giảng đường. Bà để lại bức thư ngắn trên mặt bàn bếp.
Birgitta,
Đôi khi mình thấy như có một con đường mòn trong đầu. Mỗi ngày nó như dài thêm ra một vài mét và dẫn sâu hơn vào một phong cảnh lạ, nơi một ngày nào đó nó sẽ kết thúc. Nhưng con đường mòn đó cũng ngoằn ngoèo uốn khúc phía sau mình. Đôi lúc mình quay người lại, như hôm qua, trong những giờ chúng ta trò chuyện cùng nhau, và rồi mình nhìn thấy những thứ mà mình đã quên hoặc đã không muốn nhớ lại. Đôi khi mình thấy như thể chúng ta đang cố quên. Mình muốn chúng ta tiếp tục chuyện trò với nhau. Rốt cuộc bạn bè là thứ duy nhất còn lại với chúng ta. Nói cách khác, đó là pháo đài cuối cùng mà người ta cần phải bảo vệ.
Karin.
Birgitta nhét lá thư vào túi xách, uống một tách cà phê và chuẩn bị lên đường. Lúc định sập cửa lại, bà nhìn thấy một tấm vé máy bay nằm trên mặt bàn ở hành lang. Karin sẽ bay qua Helsinki tới Bắc Kinh bằng máy bay của hãng hàng không Phần Lan.
Trong một thoáng, bà rất muốn nhận lời đề nghị của Karin. Nhưng bà không thể. Chắc chắn ông chánh tòa sẽ không bao giờ đồng ý cho bà nghỉ phép sau khi vừa nghỉ ốm khá lâu, trong khi các vụ án chưa giải quyết xong còn chất đống ở tòa sơ thẩm.
Bà chạy theo đường qua Helsingborg về nhà. Gió thổi mạnh lúc qua phà. Sau đó bà dừng lại ở một quầy báo. Các báo lớn đều chạy những dòng tít lớn về lời thú nhận của Lars-Erik Valfridsson. Bà mua một xấp báo rồi phóng xe về nhà. Bà gặp người phụ nữ dọn dẹp nhà cửa ở hành lang. Một phụ nữ người Ba Lan ít nói và nhút nhát. Hai người nói vài lời với nhau bằng tiếng Anh, trong khi Birgitta trả tiền công cho bà ta. Mãi tới khi chỉ còn lại một mình, bà mới giở báo ra đọc.
Những gì hôm qua Staffan kể cho bà nghe qua điện thoại đều đúng với những thông tin đăng trên các báo. Chi tiết mới duy nhất là tấm ảnh của nghi phạm. Tấm ảnh, có lẽ được phóng to từ một tấm ảnh hộ chiếu, cho thấy người đàn ông này có gương mặt hốc hác, miệng nhỏ, trán cao và mái tóc cắt ngắn. Bà khó có thể hình dung được người đàn ông này lại là kẻ đã gây ra tội ác man rợ ở ngôi làng Hesjövallen. Dáng vẻ của một mục sư đạo Tin lành, bà tự nhủ. Không phải kiểu nung nấu những vụ giết người ghê tởm trong đầu. Nhưng bà biết chuyện này chẳng nói lên điều gì. Trong phòng xử án, bà đã nhìn thấy bao kẻ tội phạm diễu qua, và không kẻ nào thật sự có vẻ ngoài thích hợp với hành động của mình.
Mãi tới khi bà bật vô tuyến, mối quan tâm của bà mới được đánh thức. Cảnh sát đã tìm thấy hung khí phỏng đoán đã được sử dụng để giết người. Nó được đào lên ở một địa điểm không nói tên, nhưng phù hợp với lời khai của Lars-Erik Valfridsson. Đó là một thanh kiếm tự chế nhái theo một thanh kiếm Samurai của Nhật, tuy xấu nhưng rất sắc. Hiện nay người ta đang tiến hành kiểm tra dấu vân tay và vết máu trên thanh kiếm đó.
Nửa tiếng đồng hồ sau bà nghe chương trình thời sự trên radio. Lại là công tố viên Robertsson với giọng nói trầm tĩnh của ông ta, như trút được gánh nặng sau khi đã tìm thấy hung khí.
Sau khi Robertsson tuyên bố xong, các phóng viên, nhà báo đặt ra hàng loạt câu hỏi. Nhưng Robertsson từ chối không đưa ra lời bình luận nào. Khi có tin gì mới ông ta sẽ lập tức thông báo cho truyền thông.
Birgitta Roslin tắt radio, lấy từ giá sách xuống một cuốn từ điển. Bà tìm thấy trong đó hình một thanh kiếm Samurai. Bà đọc bài viết, lưỡi kiếm phải được mài sắc như dao cạo.
Điều này khiến bà rùng mình. Như vậy là người đàn ông này trong một đêm ở Hesjövallen đã đi từ nhà này sang nhà khác để giết chết mười chín người. Có thể dải lụa đỏ tìm được trên tuyết đã được buộc vào chuôi thanh kiếm?
Ý nghĩ này không để bà được yên. Trong túi xách của bà vẫn còn tấm danh thiếp của quán ăn Trung Hoa. Bà gọi vào số máy đó và nhận ra giọng của cô phục vụ mà có lần bà đã nói chuyện. Bà giải thích mình là ai. Một vài giây sau cô đã nhớ ra.
– Cô đã xem báo chưa? Ảnh của người đàn ông đã giết chết rất nhiều người ấy?
– Tôi có nhìn thấy. Một người đàn ông đáng sợ.
– Cô có nhớ liệu ông ta đã bao giờ đến quán ăn của cô chưa?
– Chưa bao giờ.
– Cô có chắc không?
– Chắc, những hôm tôi có mặt ở đây. Còn vào những ngày khác thì tôi không biết, vì những ngày đó em gái tôi hoặc cậu em họ của tôi làm thay tôi. Quán ăn gia đình mà.
– Cô có thể giúp tôi nói với họ xem lại tấm ảnh ở trong báo. Nếu như họ nhận ra người đàn ông này, cô gọi điện báo cho tôi biết nhé.
Cô bồi bàn ghi lại số điện thoại.
– Cô tên là gì vậy?
– Li.
– Tôi là Birgitta Roslin. Cảm ơn sự giúp đỡ của cô.
– Bà không ở thành phố này à?
– Tôi ở Helsingborg.
– Helsingborg? Ở đó chúng tôi cũng có một quán ăn. Cũng của gia đình. Tên là quán “Thượng Hải”. Món ăn cũng ngon như ở đây.
– Tôi sẽ đến đó ăn.
Nửa tiếng sau cô Li gọi điện lại.
– Có thể, cô nói.
– Có thể sao?
– Cậu em của tôi cho rằng người đàn ông này đã có lần đến quán ăn.
– Bao giờ?
– Năm vừa rồi.
– Cậu ấy có chắc chắn không?
– Không.
– Cô có thể cho tôi biết tên của cậu ấy được chứ?
Birgitta Roslin viết tên và số điện thoại của cậu em cô bồi bàn ở Soderhamn rồi gác máy. Sau một thoáng do dự, bà gọi đến sở cảnh sát Hudiksvall và nói muốn được gặp bà Vivi Sundberg. Bà đã tính đến khả năng phải để lại tin nhắn, nhưng bà ngạc nhiên khi thấy Vivi Sundberg nhận máy.
– Những cuốn nhật ký, Vivi Sungdberg nói, bà còn quan tâm đến chúng đấy chứ?
– Chúng khó đọc quá. Nhưng tôi có thời gian. Tôi muốn được chúc mừng kết quả điều tra của bà. Nếu tôi hiểu đúng, bà đã có lời tự thú cũng như hung khí của nghi phạm.
– Đó không phải là lý do của cuộc điện thoại này, đúng không?
– Đương nhiên là không. Tôi muốn quay trở lại với cái quán ăn Trung Quốc.
Bà kể về người em họ của cô phục vụ quán ăn hiện đang sống ở Soderhamn và việc Lars-Erik Valfridsson có thể đã đến quán ăn Trung Quốc ở Hudiksvall.
– Điều này có thể giải thích được về dải băng đỏ, cuối cùng bà nói. Nó không còn là một dấu vết rời rạc nữa.
Vivi Sundberg tỏ ra quan tâm vừa phải.
– Hiện tại chúng tôi không còn đặc biệt quan tâm đến dải băng này nữa. Điều này chắc bà cũng hiểu.
– Tôi cũng chỉ muốn kể ra. Tôi có thể cho bà số điện thoại của người thanh niên bồi bàn đó và cả tên anh ta, người đã nhìn thấy người đàn ông đó.
Bà Vivi Sundberg ghi lại.
– Cảm ơn bà đã liên lạc với chúng tôi.
Sau khi kết thúc cuộc điện thoại, Birgitta Roslin gọi điện đến cho sếp của mình, ông Hans Mattsson. Bà phải chờ cho tới khi nối máy được với điện thoại của ông. Bà cho ông biết có thể bác sĩ của bà sẽ cho phép bà đi làm trở lại vào mấy ngày nữa.
– Chúng tôi sắp chết đuối đây này, ông chánh tòa nói. Hay tốt hơn tôi nên nói là chúng tôi sắp chết ngạt? Các tòa án Thụy Điển đang bị bóp cổ qua việc bị cắt giảm quân số. Tôi chưa bao giờ nghĩ mình phải trải qua cảnh Nhà nước pháp quyền và nền dân chủ được tính toán bằng tiền. Không có một Nhà nước pháp quyền hoạt động, sẽ không có nền dân chủ nữa. Chúng ta đang quỳ gối. Khắp nơi chỗ nào cũng khó khăn và nền móng xã hội của chúng ta đang sụp đổ. Thực lòng tôi thấy rất lo lắng.
– Tôi chẳng có giải pháp nào cho những vấn đề này. Nhưng tôi hứa với anh là sẽ trở lại với các vụ xét xử của mình.
– Chúng tôi mong chị sớm trở về với công việc.
Bữa tối, bà ngồi ăn một mình vì Staffan phải ngủ lại ở Hallsberg giữa hai ca trực. Bà lại tiếp tục lật mở những trang nhật ký. Bà chỉ đọc chi tiết phần cuối của cuốn cuối cùng, được viết vào tháng Sáu năm 1892. Khi ấy JA. đã là một ông già. Ông ta sống trong một ngôi nhà nhỏ ở San Diego, mắc bệnh đau lưng và đau chân. Nhờ có thuốc uống và thuốc xoa bóp bằng thảo dược mua được của một ông già người da đỏ sau khi cò kè giá cả, nên cũng giảm đau nhiều. Ông ta viết về nỗi cô đơn đến khủng khiếp, về cái chết của vợ, về những đứa con đã chuyển đi xa, thậm chí một anh con trai còn sống ở một vùng hoang dã mãi tận Canada. Ông ta không còn viết về con đường sắt nữa, nhưng vẫn không thay đổi quan điểm khi viết về con người. Ông ta vẫn còn căm ghét người da đen và người Trung Quốc. Ông ta sợ người da đen hoặc da vàng sẽ chuyển đến ở trong một ngôi nhà hàng xóm bỏ hoang.
Cuốn nhật ký kết thúc ở giữa một câu. Ngày 19 tháng Sáu năm 1892. Ông ta viết, trời mưa cả đêm. Lưng đau nhiều hơn những ngày khác. Ông ta có một giấc mơ.
Đến đây, mọi thứ kết thúc. Không một ai, kể cả Birgitta Roslin biết được ông ta đã mơ thấy gì.
Bà nghĩ đến điều hôm qua Karin Wiman đã viết: con đường nội tâm ngoằn ngoèo cho đến một điểm rồi bỗng nhiên kết thúc. Vậy là, ngày 19 tháng Sáu năm 1892 ấy: những lời bình luận đầy khinh miệt của J. A. Về những con người có màu da khác đột ngột kết thúc.
Bà giở lại một lần nữa. Không có dấu hiệu nào cho thấy ông ta đã linh cảm thấy cái chết, hoàn toàn không. Một đời người, bà nghĩ. Nhật ký của mình, nếu như mình có viết, chắc cũng giống như thế này. Cũng dở dang như thế này. Thực ra, làm gì có ai có thể đặt dấu chấm hết cho câu chuyện của mình trước khi nhắm mắt xuôi tay trên giường.
Bà xếp những quyển nhật ký vào túi nhựa và dự định ngày mai sẽ gửi trả chúng. Bà sẽ tiếp tục theo dõi cuộc điều tra ở Hudiksvall như tất cả mọi người.
Bà lấy từ giá sách ra cuốn danh mục các chánh án trên toàn Thụy Điển. Ông chánh tòa ở Hudiksvall tên là Tage Porsén. Đây sẽ là vụ tranh tụng để đời của ông ta, bà thầm nghĩ. Hy vọng ông ta sẽ là một thẩm phán biết đánh giá công luận. Birgitta biết rằng nhiều bạn đồng nghiệp của bà không những chỉ lo ngại mà còn tỏ rõ thái độ ghê tởm khi đối mặt với cánh báo chí và truyền hình, ít nhất là với thế hệ của bà. Còn các thế hệ thẩm phán trẻ xử sự với công luận như thế nào, bà không được biết.
Chiếc nhiệt kế gắn ở trước cửa sổ bếp cho thấy nhiệt độ đã xuống thấp. Bà ngồi xuống trước vô tuyến theo dõi chương trình thời sự buổi tối rồi sẽ lên giường đi ngủ. Hôm qua ở chỗ Karin thật là thú vị, có bao nhiêu chuyện được nhớ lại, nhưng cũng là một ngày khá mệt.
Chương trình thời sự đã phát được một vài phút. Nhưng bà hiểu ngay ra rằng có chuyện gì đó liên quan đến Hesjövallen. Một phóng viên đang phỏng vấn một nhà tội phạm học. Ông ta trả lời hùng hồn, nhưng nghiêm túc. Birgitta cố gắng hiểu chuyện gì đã xảy ra.
Sau cuộc phỏng vấn với nhà tội phạm học là đến bản tin về Liban. Bà bực mình lầu bầu và chuyển kênh. Lập tức bà có được ngay câu trả lời: Lars-Erik Valfridsson đã tự tử. Mặc dù cứ mười lăm phút người ta lại kiểm tra phòng giam một lần, nhưng chừng đó thời gian cũng đủ để ông ta xé rách chiếc áo ra làm nhiều mảnh, nối chúng với nhau thành một sợi dây thòng lọng để tự treo cổ. Mọi ý định cấp cứu đều thất bại.
Bà tắt vô tuyến. Những ý nghĩ chen lấn trong đầu bà. Ông ta không chịu đựng nổi vì phải sống trong tội lỗi? Hoặc ông ta mắc bệnh tâm thần?
Ở đây có điều gì đó không đúng, bà nghĩ. Ông ta không thể là tác giả của vụ tàn sát này. Mình không biết tại sao ông ta lại tự tử, tại sao ông ta thú nhận và còn chỉ cho cảnh sát nơi chôn giấu hung khí. Nhưng ngay từ đầu, mình luôn có cảm giác rằng ở đây có một cái gì đó không đúng.
Bà ngồi xuống ghế bành, không bật đèn. Căn phòng chìm trong cảnh tranh tối tranh sáng. Ngoài đường có tiếng cười của người nào đó đi qua. Đây là chiếc ghế bành đặc biệt để ngồi suy nghĩ. Bà ngồi đó khi phải suy nghĩ về một bản án hoặc khi những tình tiết tranh tụng làm cho bà đau đầu. Bà cũng ngồi ở đó khi cần phải suy nghĩ về cuộc sống thường nhật của chính mình hoặc của gia đình.
Một lần nữa bà trở lại xuất phát điểm, khi bà nhận thấy rằng giữa bà với những người đã chết trong cái đêm tháng Giêng ấy có một mối liên hệ mơ hồ nào đó. Thật khó mà là thật được, bà nghĩ. Không phải bà cho rằng một sát thủ đầy quyết tâm không thể một mình thực hiện được vụ giết người này. Nhưng còn người đàn ông sống ở Hälsingland, chỉ mới có một vài tiền án thì sao? Ông ta đã thú nhận một tội ác mà ông ta không phạm phải. Rồi sau đó đã chỉ cho cảnh sát thấy cái thứ vũ khí tự rèn lấy và treo cổ trong phòng giam. Tất nhiên mình có thể lầm lẫn. Nhưng ở đây có cái gì đó không đúng. Việc bắt giam ông ta diễn ra quá trơn tru. Còn động cơ của ông ta? Vì sao lại phải báo thù như vậy?
Lúc bà đứng dậy khỏi chiếc ghế bành cũng đã là nửa đêm. Bà suy nghĩ xem có nên gọi điện cho Staffan vào lúc này nữa không. Có lẽ ông ấy cũng đã ngủ rồi. Bà lên giường và tắt đèn. Những ý nghĩ lại đưa bà trở lại ngôi làng đó. Bà lại thấy dải băng đỏ đã được tìm thấy trong tuyết, lại thấy hình ảnh người đàn ông Trung Quốc trong đoạn phim của ông Sture Hermansson. Cảnh sát hẳn đã biết một điều gì đó mà mình không biết, họ biết vì sao lại bắt Lars-Erik Valfridsson, động cơ thực sự của ông ta là gì. Nhưng họ đã mắc một sai lầm quen thuộc: tự buộc mình vào một hướng điều tra duy nhất.
Bà không tài nào ngủ được. Khi không muốn cứ phải nằm trằn trọc mãi trên giường nữa, bà đứng dậy mặc lên người chiếc áo choàng mỏng và đi xuống tầng trệt. Bà ngồi vào bàn, viết tóm tắt lại tất cả các sự kiện có liên quan đến vụ tàn sát ở ngôi làng Hesjövallen. Việc này kéo dài gần ba tiếng đồng hồ. Càng viết bà lại càng cảm thấy có thứ gì đó đã vuột khỏi mình. Nó ở ngay trước mắt bà, nhưng bà lại không nhận ra. Bà cảm thấy chiếc bút của mình giống như một chiếc máy cắt cỏ mà bà phải dùng cẩn trọng để không làm bị thương chú nai nào ẩn mình trong bụi cây. Khi bà đứng dậy để vươn vai thì đã bốn giờ sáng. Bà ra chỗ chiếc ghế bành cùng với những điều vừa ghi chép, ngồi xuống, bật đèn và đọc lại từ đầu. Trong lúc đọc lại, bà chú ý để ý xem còn có gì ẩn chứa sau câu chữ, liệu có còn những viên đá mà bà vẫn chưa bật lên, hoặc những sự trùng lặp mà bà chưa phát hiện ra. Không giống như cảnh sát, bà không quen tìm các lỗ hổng trong lời khai của nhân chứng hoặc trong biên bản thẩm vấn các nghi phạm. Nhưng bà lại có kinh nghiệm tìm ra những điều mâu thuẫn, những điều phi logic, và đã vô số lần bà phải can thiệp trong các phiên tòa, đặt ra những câu hỏi mà theo quan điểm của bà, công tố viên đã bỏ qua.
Nhưng ở đây hoàn toàn không có gì thu hút sự chú ý của bà. Có thể nó chỉ làm cho bà thấy rõ hơn rằng đây không phải là hành động của một kẻ điên. Hành động này đã được lên kế hoạch quá hoàn hảo, được một kẻ quá bình tĩnh thực hiện: chỉ một sát thủ điềm tĩnh và lạnh lùng mới có thể làm chuyện này.
Bà ghi ra bên lề: liệu trước đó hung thủ đã từng có mặt ở hiện trường hay chưa? Đêm ấy trời tối, hắn có thể sử dụng một chiếc đèn pin lớn, nhưng một vài nhà hẳn phải đã khóa cửa. Hắn phải biết rất chính xác ai sống ở nhà nào và có lẽ hắn còn có chìa khóa. Hiển nhiên hắn phải có một động cơ rõ ràng để có thể hành động như vậy mà không do dự lấy một giây.
Năm giờ sáng, hai mí mắt bà bắt đầu sập xuống. Không có điểm nào đáng ngờ, bà nghĩ. Kẻ làm việc này biết rõ cái gì chờ đợi mình và không gì khiến được hắn dừng tay. Thậm chí hắn còn chế ngự được một tình huống bất ngờ, khi bắt gặp thằng bé. Hắn không phải là một kẻ bạo hành tình cờ xuất hiện, mà là một kẻ máu lạnh có mục tiêu rõ ràng.
Hắn không hề chần chừ, bà nghĩ. Và muốn các nạn nhân phải đau đớn. Hắn muốn những người phải chết hiểu rằng chuyện gì sẽ xảy ra với họ. Trừ một người. Một đứa bé trai.
Bỗng một ý nghĩ đến với bà. Hung thủ có thể cho các nạn nhân nhìn thấy mặt hắn không? Họ có biết hắn là ai không? Hắn có muốn để những người đó nhìn thấy không?
Đó là một câu hỏi mà Vivi Sundberg phải trả lời, bà nghĩ vậy. Trong những căn phòng nơi các nạn nhân được tìm thấy có sáng đèn không? Họ có nhìn thấy cái chết trước mặt mình không?
Bà để tờ giấy ghi chép sang một bên, liếc qua chiếc nhiệt kế trước cửa sổ và nhận ra nhiệt độ đã tụt xuống âm tám độ. Bà uống một cốc nước rồi lên giường nằm. Lúc thiu thiu ngủ, bà có cảm giác mình đã bỏ qua một chi tiết: hai người chết bị trói chặt vào với nhau. Hình ảnh này nhắc bà nhớ tới một điều gì đó, nhưng là gì? Bà ngồi dậy trên giường và bỗng nhiên trở nên tỉnh táo. Bà đã nhìn thấy cảnh này ở đâu đó.
Rồi bà nhớ ra. Những quyển nhật ký. Trong một đoạn mà bà chỉ đọc lướt qua, có viết về điều gì đó tương tự như vậy. Bà lại đi xuống tầng trệt, bày tất cả các quyển nhật ký lên bàn và bắt đầu lục tìm. Bà gần như tìm ra ngay được đoạn miêu tả ấy.
Đó là vào năm 1865. Đoạn đường sắt vươn dài về phía Đông, mỗi một thanh tà vẹt, mỗi một thanh ray là một sự khổ ải. Bệnh tật tấn công đám thợ. Họ chết như ruồi. Nhưng lực lượng lao động mới từ phía Tây tràn tới đã cứu được cái dự án khổng lồ này và giải thoát nó trước khó khăn về tài chính. Một hôm, chính xác là vào ngày mùng 9 tháng Mười một, JA. nghe được tin về một tàu thủy chở nô lệ Trung Quốc đang trên đường từ Quảng Châu sang. Đó chẳng qua là một chiếc thuyền buồm cũ kỹ chỉ dùng để chuyên chở những người Trung Quốc bị bắt cóc đưa sang California. Trên thuyền đã nổ ra một cuộc nổi loạn khi có khả năng sẽ bị thiếu nước và lương thực sau hành trình kéo dài. Để bóp chết cuộc nổi loạn này, viên thuyền trưởng đã áp dụng những biện pháp cực kỳ dã man, chưa từng nghe thấy. Ngay cả JA., kẻ không do dự sử dụng nắm đấm và những chiếc roi, khi nghe kể, cũng cảm thấy phẫn nộ. Viên thuyền trưởng ra lệnh trói những người còn sống với những kẻ nổi loạn đã chết với nhau. Rồi để họ nằm trên boong tàu, người sống thì chết dần vì đói, người chết thì dần thối ruỗng. JA. Viết trong nhật ký: “Trò này thật là quá trớn.”
Liệu có thể so sánh những cảnh này với nhau? Một trong những nạn nhân ở Hesjövallen đã bị trói với một xác chết? Một tiếng đồng hồ, hay ít hơn, hoặc có thể lâu hơn trước khi nhát chém cuối cùng giáng xuống mình?
Mình đã bỏ qua chi tiết này, bà nghĩ. Thế còn cảnh sát ở Hudiksvall? Bất luận thế nào, mình vẫn hoài nghi họ đã đọc kỹ những cuốn nhật ký này trước khi giao chúng cho mình.
Nhưng người ta cũng có thể đưa ra một lập luận khác, ngay cả khi xem ra nó cũng cực kỳ khó tin. Liệu thủ phạm có biết chút gì về những sự kiện mà JA. đã viết trong cuốn nhật ký của ông ta? Liệu ở đây có tồn tại một mối liên quan đặc biệt vượt thời gian và không gian hay không?
Tại sao Vivi Sundberg lại đưa cho bà những quyển nhật ký này? Bà ấy hy vọng rằng Birgitta Roslin đọc chúng và sẽ cho biết khi bà thấy có gì đó quan trọng? Ý nghĩ này không có gì là lạ, vì cảnh sát có quá nhiều việc phải làm.
Cuối cùng, Birgitta cũng có thể ngủ lại được. Điều bà vừa phát hiện ra bất luận thế nào cũng sẽ khiến Vivi Sundberg quan tâm. Đặc biệt vào lúc này, khi nghi phạm đã tự tử.
Bà ngủ đến mười giờ, trở dậy và nhìn thời gian biểu của Staffan, chiều nay vào lúc ba giờ ông ấy sẽ có mặt ở Helsingborg. Đúng lúc bà ngồi xuống bên máy điện thoại để gọi cho Vivi Sundberg thì nghe có tiếng chuông cửa. Bà mở cửa. Trước mặt bà là một thanh niên Trung Quốc nhỏ thó, một túi nhựa đựng đầy đồ ăn trên tay.
– Tôi đâu có gọi đồ ăn, bà nói vẻ ngạc nhiên.
– Của cô Li ở Hudiksvall, người thanh niên cười nói. Đây là suất ăn miễn phí. Cô ấy muốn bà gọi điện cho cô ấy. Đây là quán ăn của gia đình chúng tôi mà.
– Quán Thượng Hải phải không?
Người thanh niên mỉm cười.
– Quán Thượng Hải. Món ăn ngon lắm.
Người thanh niên trao cho bà chiếc túi đựng đồ ăn, cúi đầu chào bà rồi biến mất qua cổng vườn. Birgitta mở gói đồ ăn, hít hà mùi thơm của nó rồi đặt lên mặt bàn bếp. Sau đó bà gọi điện cho Li.
– Cảm ơn suất ăn của cô gửi đến, Birgitta Roslin nói. Thật là bất ngờ.
– Bà đã nếm thử chưa?
– Chưa. Tôi đợi nhà tôi về đã.
– Ông ấy cũng thích món ăn Trung Quốc sao?
– Rất thích. Cô bảo tôi gọi lại cho cô à?
– Tôi nghĩ nhiều đến chiếc đèn lồng, cô Li nói. Dải băng đỏ bị mất ấy. Bây giờ thì tôi biết thêm được chút ít. Tôi đã nói chuyện với mẹ tôi.
– Hình như tôi chưa gặp mẹ cô thì phải.
– Mẹ tôi thường ở nhà. Thỉnh thoảng mới đến tiệm dọn dẹp. Hôm nào cũng ghi vào sổ. Hôm 11 tháng Giêng mẹ tôi đã có mặt ở đây. Vào sáng sớm, trước giờ mở cửa.
Birgitta Roslin nín thở.
– Mẹ tôi bảo, hôm đó bà lau chùi tất cả các đèn giấy ở trong tiệm và tin chắc rằng không thấy thiếu một dải băng nào cả.
– Liệu bà có nhầm không?
– Không đời nào. Mẹ tôi chẳng nhớ nhầm cái gì bao giờ.
Birgitta Roslin nhận thấy điều này có ý nghĩa gì. Buổi sáng hôm người đàn ông Trung Quốc ngồi ăn ở cái bàn trong góc phòng, dải băng vẫn còn. Như vậy là dải băng tìm thấy ở Hesjövallen đã bị mất trong buổi tối hôm đó. Không còn nghi ngờ gì nữa.
– Việc này quan trọng à? Li hỏi.
– Có thể, Birgitta Roslin nói. Cảm ơn cô đã cho tôi biết.
Bà gác máy. Lập tức điện thoại lại đổ chuông. Lần này là Lars Emanuelsson.
– Bà đừng gác máy, ông ta nói.
– Ông muốn gì?
– Muốn được nghe quan điểm của bà về việc đã xảy ra.
– Tôi không có gì để nói cả.
– Bà có thấy bất ngờ không?
– Về điều gì?
– Về chuyện nghi phạm đã xuất hiện? Lars-Erik Valfridsson ấy?
– Tôi hoàn toàn không biết gì về ông ta, ngoài những gì được đăng trên báo.
– Nhưng trên đó không phải là tất cả.
Ông ta đang nhử mồi bà. Lập tức bà trở nên tò mò.
– Ông ta đã ngược đãi hai bà vợ cũ của mình, Emanuelsson nói. Người đầu tiên thì bỏ trốn được. Sau đó Valfridsson tìm được một cô gái người Philippin, bằng những hứa hẹn, dối trá, lừa đảo, ông ta đã nhử được cô ấy sang Thụy Điển, để rồi sau này đã đánh đập hết sức tàn nhẫn đến mức hàng xóm phải báo động và ông ta đã bị kết án tù. Nhưng thật ra ông ta còn tồi tệ hơn.
– Điều gì còn có thể tồi tệ hơn được nữa?
– Đánh chết người. Từ năm 1977. Ngày đó ông ta còn trẻ. Cuộc ẩu đả xảy ra chỉ vì một chiếc xe máy. Ông ta đã lấy đá đập vào đầu người thanh niên kia khiến anh ta chết ngay tại chỗ. Một bác sĩ tâm lý đã tiến hành kiểm tra thần kinh của Lars-Erik cho biết ông ta có thể sẽ tái diễn hành động bạo lực. Ông ta phải bị xem như là nguy hiểm đối với cộng đồng. Do vậy mà cảnh sát và viện công tố tin rằng họ đã tìm ra được đúng đối tượng.
– Nhưng ông cho rằng họ đã nhầm lẫn?
– Tôi đã nói chuyện sơ qua với những người biết ông ta. Valfridsson luôn mơ được nổi tiếng. Hình như ông ta còn kể với mọi người rằng mình là một điệp viên, là người con bí mật của nhà vua. Thú nhận là thủ phạm vụ tàn sát là một cách để trở nên nổi tiếng. Điều duy nhất mà tôi không hiểu nổi là vì sao ông ta lại kết thúc màn diễn của mình sớm như vậy. Đến đó thì tôi không theo dõi ông ta nữa.
– Nghĩa là ông cho rằng Valfridsson không phải là thủ phạm?
– Điều này thời gian sẽ cho ta biết. Nhưng bà đã nghe tôi nói suy nghĩ của mình. Với bà thế là đủ rồi. Giờ thì tôi muốn biết kết luận của bà ra sao. Liệu chúng có trùng với những kết luận của tôi không?
– Tôi không còn quan tâm đến chuyện này nhiều hơn người khác nữa. Còn bây giờ ông cũng nên chấp nhận rằng tôi đã ngán nói chuyện với ông rồi đấy.
Lars Emanuelsson làm ra vẻ mình không nghe thấy gì.
– Giờ thì bà nói về mấy cuốn nhật ký đi. Chúng phải có một mối liên quan nào đó với chuyện này.
– Ông hãy thôi việc gọi điện thoại cho tôi đi!
Bà dập máy. Lập tức điện thoại lại đổ chuông. Bà không nhấc ống nghe. Sau khi nó im lặng được năm phút, bà bấm số máy của sở cảnh sát ở Hudiksvall. Phải mất một lúc khá lâu bà mới liên lạc được với phòng thường trực. Bà nhận ra giọng của cô trực tổng đài hôm trước. Cô ta có vẻ căng thẳng và mệt mỏi. Vivi Sundberg bận việc không nói chuyện điện thoại được. Birgitta Roslin để lại tên và số điện thoại của mình.
– Tôi hoàn toàn không thể hứa trước được, cô gái nói. Hôm nay ở đây lộn xộn lắm.
– Tôi hiểu. Cô nói với bà Sundberg, lúc nào bà ấy có thời gian thì gọi điện cho tôi.
– Việc có quan trọng không?
– Bà Sundberg biết tôi là ai. Có lẽ điều đó đã đủ thay cho câu trả lời về câu hỏi của cô.
Hôm sau Vivi Sundberg gọi điện đến. Vụ bê bối trong trại tạm giam ở Hudiksvall có mặt trên mọi bản tin. Ông bộ trưởng Bộ Tư pháp trong một bài phát biểu đặc biệt đã hứa sẽ làm sáng tỏ vụ việc và tuyên bố những người chịu trách nhiệm sẽ phải làm bản tường trình. Trong cuộc gặp với báo chí và truyền hình, Tobias Ludwig đã cố gắng thể hiện tốt vị thế của mình. Nhưng tất cả đều thống nhất cho rằng điều đáng lẽ không được phép để xảy ra thì đã xảy ra.
Bên máy điện thoại, Vivi Sundberg tỏ ra mệt mỏi. Birgitta Roslin quyết định không hỏi gì. Thay vì thế, bà kể về dải băng đỏ và chia sẻ với Sundberg những suy nghĩ, cân nhắc của mình.
Vivi Sundberg lắng nghe Birgitta nói, không bình luận gì. Birgitta nghe trong điện thoại những tiếng nói lao xao lọt vào cho thấy lúc này ở sở cảnh sát không khí đang căng thẳng như thế nào. Cuối cùng, Birgitta Roslin kết thúc cuộc trao đổi bằng câu hỏi: ở trong các phòng nơi tìm thấy các nạn nhân có sáng đèn không.
– Bà đã đúng, Vivi Sundberg trả lời. Chúng tôi cũng đã nghĩ về điều này. Đèn sáng trong tất cả các phòng. Trừ một phòng.
– Căn phòng nơi đứa bé bị giết?
– Đúng thế.
– Bà có lời giải thích nào không?
– Bà hiểu cho, tôi không thể nói điều đó với bà qua điện thoại.
– Tôi hiểu. Tôi xin lỗi.
– Không sao. Nhưng tôi muốn đề nghị bà một việc. Bà hãy viết lại những suy nghĩ của mình về sự kiện ở Hesjövallen. Về dải băng đỏ, tôi sẽ tự tìm hiểu kỹ. Nhưng những cái khác, bà hãy viết ra và gửi cho tôi.
– Lars-Erik Valfridsson không làm chuyện đó, Birgitta Roslin nói.
Những lời này đến thật bất ngờ. Bà đã không chuẩn bị để nói chúng, cũng như Vivi Sundberg không chuẩn bị để nghe chúng.
– Hãy gửi cho tôi những lý lẽ của bà, Vivi Sundberg nhắc lại. Cảm ơn bà đã gọi điện đến.
– Còn những cuốn nhật ký?
– Lúc này tốt hơn là chúng tôi nhận lại chúng.
Sau cuộc trao đổi, Birgitta Roslin cảm thấy nhẹ nhõm. Dù gì thì những cố gắng của bà cũng không vô ích. Bây giờ bà đã có thể phó thác tất cả. Trong trường hợp may nhất, một ngày nào đó cảnh sát sẽ tìm ra một hoặc nhiều thủ phạm. Khi đó bà cũng sẽ không ngạc nhiên khi biết có một người Trung Quốc dính líu vào.
Ngày hôm sau Birgitta Roslin đến gặp bác sĩ. Đó là một ngày mùa đông trở gió. Từng cơn gió từ eo biển thổi vào. Bà đã thấy sốt ruột và muốn trở lại với công việc.
Bà không phải chờ lâu trong phòng đợi. Ông bác sĩ hỏi bà cảm thấy trong người ra sao và bà trả lời rằng mình thấy đã hoàn toàn bình phục. Sau khi cô y tá lấy mẫu máu thử, bà lại ngồi ở phòng chờ. Một lúc sau bà lại được mời vào phòng của bác sĩ, ông đo huyết áp và đi thẳng vào vấn đề:
– Bà cảm thấy khỏe. Nhưng huyết áp của bà vẫn còn quá cao. Như vậy là chúng tôi phải tiếp tục tìm ra nguyên nhân. Trước hết tôi viết giấy nghỉ ốm cho bà hai tuần nữa. Tôi sẽ chuyển bà sang cho một bác sĩ chuyên khoa.
Mãi tới lúc ra đến ngoài đường, làn gió lạnh tạt mạnh lên người, bà mới hiểu rõ vấn đề. Bà bị bệnh nặng sao? Bà thấy rất lo lắng, dù bác sĩ có đảm bảo với bà rằng chưa đến mức phải như vậy.
Bà đứng trên quảng trường, quay lưng về hướng gió. Lần đầu tiên sau rất nhiều năm, bà cảm thấy bất lực. Bà đứng im, cho tới lúc chiếc điện thoại di động trong túi áo măng tô bắt đầu đổ chuông. Đó là Karin Wiman.
– Bạn đang làm gì đấy? Karin hỏi.
– Mình đang đứng trên một quảng trường, Birgitta Roslin nói. Mình đang chẳng biết phải làm gì.
Rồi bà kể cho bạn mình nghe về chuyện đi khám ở chỗ bác sĩ. Hai người thỏa thuận sẽ gọi lại cho nhau trước khi Karin đi Trung Quốc.
Tuyết lại rơi lúc bà bước qua cổng vườn. Gió vẫn thổi mạnh từng cơn.