Buổi sáng đầu tiên ở Bắc Kinh, Birgitta Roslin dậy sớm. Bà đã cùng ăn điểm tâm với Karin Wiman trong phòng ăn rộng thênh thang, trước khi Karin phải khẩn trương đến hội nghị và nghe những bài phát biểu xuất sắc về vị hoàng đế mà hầu như không còn dân thường nào quan tâm đến nữa. Đối với Karin Wiman, ở một vài phương diện thì lịch sử dường như sống động hơn hiện tại.
– Khi mình còn trẻ và nổi loạn, trong những tháng khủng khiếp lúc bấy giờ, vào mùa xuân và mùa hè năm 1968, mình đã sống trong một ảo tưởng, gần như là bị khóa chặt trong một kiểu giáo phái tín ngưỡng. Sau đó mình đã tìm được chỗ ẩn náu trong lịch sử, nơi không gì có thể làm cho mình đau đớn. Và rồi ai mà biết được, chẳng mấy mà mình sẽ lại được sống trong thực tế như bạn.
Birgitta Roslin không muốn phân biệt rạch ròi điều gì là mỉa mai, điều gì là sự thật trong câu nói của Karin. Khi đã ăn mặc thật ấm để có thể dám bước ra ngoài trong thời tiết lạnh khô khắc nghiệt, bà đem theo trên đường những lời nói của Karin. Có thể những lời này có giá trị đối với chính bản thân bà chăng?
Tại quầy lễ tân, một cô gái rất đẹp, nói tiếng Anh lưu loát, đã đưa cho bà một tấm bản đồ thành phố. Một câu trích dẫn hiện ra trong đầu bà. Sự chuyển mình hiện nay của phong trào nông dân là một sự kiện vĩ đại. Đó là lời phát biểu của Mao được đưa ra trong những cuộc thảo luận gay gắt vào mùa xuân năm 1968, luôn luôn được nhắc lại.
Con đường trước mặt bà rộng rãi và nhiều luồng. Khắp nơi chỗ nào cũng chỉ thấy xe hơi, còn xe đạp thì hầu như vắng bóng. Bên đường là trụ sở rộng lớn của một nhà băng và một hiệu sách cao năm tầng. Trên vỉa hè, những người bán hàng bày la liệt những bịch nước khoáng. Mới đi được một đoạn mà Birgitta Roslin đã cảm thấy không khí ô nhiễm thiêu đốt mũi và cổ họng bà, để lại trong miệng bà vị như kim loại. Giữa các tòa nhà cao tầng, vươn lên trục cần cẩu của những công trường mới: bà đang đi trong một thành phố biến đổi hối hả.
Một người đàn ông kéo chiếc xe ba gác chất đầy lồng gà trống không, dường như đã nhầm thời đại. Nếu không có ông ta, bà hẳn có thể tin rằng mình đang ở bất kỳ đâu trên thế giới này. Khi còn trẻ, bà đã hình dung ra hình ảnh một đoàn người Trung Quốc dài vô tận ăn vận giống hệt nhau, với cuốc, xẻng trong tay, vây quanh là những lá cờ đỏ, những tiếng hô khẩu hiệu, biến núi cao thành những cánh đồng. Đoàn người đông đúc vẫn còn đó, nhưng ít ra thì ở Bắc Kinh, trên đường phố này, họ không còn mặc quần áo giống nhau, không còn cầm cuốc xẻng trong tay nữa. Họ cũng không còn phải đạp xe đạp, họ đã có xe hơi, phụ nữ thả bước trên vỉa hè với những đôi giày cao gót thanh lịch.
Bà chờ đợi cái gì? Đã gần bốn mươi năm trôi qua từ mùa hè 1968, nỗi sợ, nếu không muốn nói là nỗi khiếp hãi, vì không đủ tư cách đứng trong hàng ngũ, rồi vào tháng Tám, đột ngột giải tán, tiếp đó là trống rỗng rồi nhẹ nhõm. Cảm giác giống như đi từ một khu rừng rậm ẩm thấp vào trong một hoang mạc lạnh giá, tối đen như mực.
Cuối những năm 1980 bà với Staffan đã đi du lịch châu Phi, thăm thác nước Victoria ở biên giới giữa Zambia và Zimbabwe. Khi tới bờ sông Zambezi, bỗng dưng Staffan đề nghị làm một chuyến thám hiểm trên đoạn sông chảy xiết phía dưới thác Victoria. Bà đã đồng ý, nhưng rồi mặt tái xanh khi sáng hôm sau phải tập hợp nhau bên bờ sông để nghe chỉ dẫn, ký vào bản cam kết tự chịu trách nhiệm trước những rủi ro rồi lên thuyền cao su. Sau đoạn nước chảy xiết đầu tiên được xem như là đoạn dễ dàng nhất, bà nhận ra rằng chưa bao giờ trong đời mình lại sợ đến như thế. Bà cho rằng không sớm thì muộn họ sẽ bị đắm thuyền, bà sẽ mắc kẹt dưới chiếc thuyền lật ngược và chết đuối. Staffan giữ chặt sợi dây ở mạn thuyền, trên môi nở một nụ cười bí hiểm.
Bây giờ khi đứng trước khách sạn, bà nhận ra rằng vào mùa xuân năm 1968 ấy bà cũng cảm thấy y hệt như chuyến đi thuyền trên khúc sông chảy xiết Zambezi: bà bị cuốn đi trong phong trào của những người nổi loạn, những người nghiêm túc tin rằng không lâu nữa “quần chúng” Thụy Điển sẽ đứng dậy chống lại bọn tư bản và bọn dân chủ xã hội phản bội giai cấp.
Lúc này, khi đứng trước khách sạn bóng lộn với mặt tiền được ốp đá cẩm thạch, còn nhân viên lễ tân thì nói tiếng Anh lưu loát không chê vào đâu được, bà cảm thấy như mình đã được đưa đến một thế giới khác mà bà hoàn toàn không hề biết đến sự tồn tại. Có đúng đây là xã hội nơi mà sự chuyển mình của phong trào nông dân đã là một sự kiện vĩ đại?
Bà nhìn lên tấm bản đồ và thong thả đi dọc theo con phố. Đã biết bao lần bà mường tượng ra thành phố này. Thời trẻ, bà đã tuần hành, đã bị cuốn hút bởi hàng triệu người khác, mang một thế lực mà tư bản phát xít không thể chống lại được. Còn bây giờ bà đang ở đây, là một nữ thẩm phán Thụy Điển, được nghỉ ốm vì chứng huyết áp cao. Phải chăng cuối cùng bà đã tới đích, tới thánh địa Mecca mơ ước thời trẻ, tới được quảng trường vĩ đại nơi Mao vẫy tay chào khối đông quần chúng, và cả một vài sinh viên đã ngồi trên sàn nhà của một căn hộ ở Lund tham dự cuộc họp quần chúng đầu tiên? Dù cho sáng nay có hơi bối rối một chút vì hình ảnh nhìn thấy không giống như điều mình chờ đợi, nhưng dù sao bà cũng cảm thấy như một khách hành hương cuối cùng đã đến được cái đích từng ước ao.
Cái lạnh ở đây khô và buốt giá. Bà cúi đầu xuống một chút để tránh những đợt gió lạnh và cát phả lên mặt mình. Bà có tấm bản đồ trong tay, nhưng bà biết rằng chỉ cần đi theo đại lộ này là tới được nơi cần đến.
Một kỷ niệm nữa lại ùa về trong tâm trí bà. Trong những năm làm thủy thủ, cha bà đã có lần đến Trung Quốc. Bà nhớ đến một bức tượng Phật bằng gỗ mà ông đã đem về tặng mẹ.
Lúc này khi đang đi trên đường phố, bỗng nhiên bà cảm thấy cha đang ở rất gần bên mình mặc dù ngày ấy ông không đến Bắc Kinh, mà chỉ cập bến những cảng lớn nhất.
Mình và cha tạo thành một đoàn rước vô hình, bà nghĩ. Mình và cha trong cái thành phố Bắc Kinh lạnh buốt và xa lạ này.
Birgitta Roslin phải mất hơn một tiếng đồng hồ mới tới được quảng trường Thiên An Môn. Bà chưa thấy quảng trường nào lớn thế này. Quảng trường đông đặc người. Bà vạch một lối đi giữa đám đông. Khắp nơi người ta chụp ảnh, vẫy cờ, bán bưu ảnh và nước uống.
Bà đứng lại nhìn xung quanh. Trời đầy sương mù. Vẫn còn thiếu một thứ gì đó. Phải một lúc sau bà mới nhớ ra thứ đó là gì. Không có chim sẻ. Hoặc chim bồ câu. Không có lấy một cánh chim.
Giữa đám đông chen lấn trên quảng trường, bà như vô hình. Bà có thể đột nhiên biến mất mà không ai nhận ra.
Bà nhớ lại những hình ảnh của năm 1989, khi sinh viên đòi hỏi nới rộng quyền tự do tư tưởng và tự do ngôn luận, rồi hình ảnh cuộc biểu tình bị giải tán bằng xe tăng. Ngày đó có một thanh niên đứng ở đây, tay cầm một chiếc túi nhựa. Cả thế giới nín thở nhìn anh trên màn hình vô tuyến. Người thanh niên đó đứng cản một chiếc xe tăng, không chịu nhường lối. Giống như một chú lính chì nhỏ bé, anh đã trở thành biểu tượng của sự phản kháng. Khi chiếc xe tăng tìm cách lách qua, anh vẫn tiếp tục bước sang chặn lối. Bà không biết cuối cùng chuyện gì đã xảy ra. Bà không được nhìn thấy hình ảnh đó.
Trong mối quan hệ của bà với Trung Quốc thì những sự kiện này, hình ảnh người thanh niên ấy đánh dấu một bước ngoặt. Một phần lớn cuộc đời bà đã trôi đi kể từ mùa xuân 1968 ấy khi nhân danh Mao, bà tin tưởng sắt son đến mức vô lý rằng cách mạng đã bắt đầu ở Thụy Điển. Hai mươi năm, trong thời gian ấy cô gái trẻ theo lý tưởng chủ nghĩa đã trở thành thẩm phán đồng thời là bà mẹ bốn con. Bà chưa bao giờ thôi nghĩ về Trung Quốc. Thoạt đầu chỉ như một giấc mơ, sau đó đã trở thành một đất nước kỳ bí và đầy mâu thuẫn mà bà không hiểu nổi. Những đứa con của bà lại có một cái nhìn hoàn toàn khác về đất nước này. Đối với chúng, đây là một đất nước đầy cơ hội, giống như thế hệ bà và thế hệ cha ông bà đã từng mơ về nước Mỹ. Cách đây không lâu, bà ngạc nhiên khi nghe David tuyên bố khi nào có con, sẽ tìm một vú nuôi Trung Quốc để dạy con học tiếng Trung từ trong nôi.
Bà đi dạo trên quảng trường Thiên An Môn, nhìn những người đang chụp ảnh cho nhau và những người cảnh sát có mặt khắp mọi chỗ. Bà đi cả vào phía trong khu nhà, nơi mà vào năm 1949 Mao Chủ tịch đã tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Bà trở về khách sạn khi thấy người đã bắt đầu ớn lạnh. Karin hứa sẽ từ chối bữa ăn ở hội nghị để cùng đi ăn với bà.
Ở trên tầng cao nhất của khách sạn, có một nhà hàng từ đó nhìn được toàn cảnh thành phố. Birgitta kể lại cuộc dạo chơi của mình ở quảng trường lớn và nhắc lại một phần những điều mình suy nghĩ.
– Làm sao chúng ta có thể tin được vào những điều ấy nhỉ?
– Bạn nói vậy có ý gì?
– Tin rằng thực tế Thụy Điển đã đứng bên bờ một cuộc nội chiến dẫn đến cách mạng.
– Người ta tin khi người ta biết quá ít. Đó là trường hợp của chúng ta. Ngoài ra chúng ta còn bị lừa dối bởi những kẻ tuyên truyền cho chúng ta. Bạn còn nhớ tay người Tây Ban Nha chứ?
Birgitta còn nhớ rất rõ. Đó là một trong những tay lãnh đạo phong trào nổi loạn, một gã người Tây Ban Nha đã tận mắt được nhìn thấy hồng vệ binh diễu hành tại Trung Quốc năm 1967. Không có lý lẽ nào chống lại được anh ta: anh ta đã mục sở thị cách mạng.
– Anh ta sao rồi?
Karin lắc đầu:
– Mình không biết, khi phong trào tan rã, anh ta đã lẩn mất. Theo tin đồn thì hình như anh ta bán thiết bị vệ sinh ở Tenerife. Cũng có thể anh ta đã chết. Hoặc cũng có thể đã trở thành linh mục, hồi đó anh ta đã giống thế rồi: anh ta tin Mao như người ta tin Chúa. Chỉ trong có vài tháng, anh ta đã gieo rắc nỗi hoang mang trong bao nhiêu thanh niên đầy thiện ý.
– Hồi đó, lúc nào mình cũng sợ. Sợ mình không làm được gì cả, sợ mình không biết rõ không biết đủ, sợ mình không nghĩ kỹ về những quan điểm của mình, sợ mình bị buộc phải tự làm kiểm điểm, tự phê bình...
– Mọi người ai cũng thấy như vậy. Có lẽ chỉ cái tay người Tây Ban Nha kia là không, vì anh ta là người không khiếm khuyết. Anh ta là sứ giả của Thượng đế trên trái đất này với cuốn Mao tuyển trên tay.
– Bạn lúc nào cũng hiểu biết hơn mình. Sau khi trở lại với thực tế, bạn đã gia nhập Đảng cánh tả.
– Không hoàn toàn đơn giản như vậy. Vì mình đã tìm thấy ở đó một cuốn giáo lý khác. Ở đó vẫn thống trị luận điểm cho rằng Liên bang Xô Viết là một hình thái xã hội lý tưởng. Không lâu sau mình cảm thấy xa lạ với nó.
– Dù sao thì cũng vẫn tốt hơn là hoàn toàn không tham gia hoạt động chính trị nào.
– Chúng ta đã xa cách nhau. Mình không biết vì sao lại thế.
– Phải chăng do chúng ta chẳng còn gì để nói với nhau? Những năm sau đó mình cảm thấy hoàn toàn trống rỗng.
Karin giơ hai tay.
– Chúng mình đừng tự đả kích bản thân nữa. Dù sao thì quá khứ của chúng ta vẫn cứ là quá khứ duy nhất mà ta có. Không phải tất cả những gì chúng ta làm đều là xấu.
Họ ăn nhiều món Trung Quốc và cuối bữa đã dùng trà. Birgitta lấy ra cuốn tạp chí có ghi địa chỉ bệnh viện Long Phúc.
– Mình định chiều hôm nay sẽ đến thăm bệnh viện này.
– Vì sao?
– Khi dạo chơi trong một thành phố lạ thì có một đích đến vẫn tốt hơn. Bất cứ là đích nào. Khi cứ đi không có chủ đích, đôi chân sẽ mệt mỏi. Chỉ là để tìm ra tấm biển có những chữ này và sau đó có thể quay về nói với bạn rằng bạn đã đúng.
Hai người chia tay nhau trước cửa thang máy, Karin lại vội vàng đến với hội nghị. Birgitta trở về phòng mình trên tầng mười chín để nghỉ ngơi.
Trong lúc dạo chơi buổi sáng, bà đã cảm thấy có chút bất an. Dù ở giữa dòng người đang chen chúc nhau trên đường phố hay một mình trong cái khách sạn xa lạ của thành phố Bắc Kinh rộng lớn này, bà đều cảm thấy như bản thân bà đang dần tan biến. Nếu như bà biến mất, ai sẽ nhận ra điều ấy? Ai để tâm đến bà? Người ta sẽ sống thế nào đây khi cảm thấy mình hoàn toàn có thể thay thế được?
Bà từng trải qua cảm giác tương tự khi còn rất trẻ. Bỗng nhiên cảm thấy bản thân vuột mất khỏi mình.
Bà bồn chồn đứng dậy tới bên cửa sổ. Ở sâu dưới đó là thành phố, là những con người, tất cả với những ước mơ của họ, những ước mơ xa lạ của họ.
Bà vớ lấy áo khoác, khăn và đôi găng tay, sập cửa lại phía sau. Nỗi lo lắng vẫn đè nặng trong bà chỉ càng tăng lên. Bà cần phải vận động, thăm thú thành phố. Karin hứa tối nay sẽ dẫn bà đến xem buổi trình diễn của nhà hát kịch Bắc Kinh.
Nhìn trên bản đồ, bà thấy đường đến bệnh viện Long Phúc rất xa. Nhưng bà có thời gian, chẳng bị thúc ép gì. Bà cứ thẳng theo con đường tưởng như dài vô tận và cuối cùng cũng đã đến được bệnh viện sau khi đi qua viện bảo tàng nghệ thuật đồ sộ.
Bệnh viện Long Phúc gồm hai tòa nhà. Bà đếm được bảy tầng đều được quét vôi màu trắng và màu xám. Các cửa sổ ở tầng trệt đều được lắp chấn song sắt, rèm cửa được buông xuống. Khắp nơi là những bồn hoa đã khô lá. Những hàng cây trước bệnh viện vào mùa này đều trơ lá, trên bãi cỏ khô lác đác những bãi phân chó. Ấn tượng đầu tiên của bà là Long Phúc giống một nhà tù hơn là một bệnh viện. Bà đi vào khu công viên. Một chiếc xe cứu thương chạy qua, ngay sau đó lại thêm một chiếc nữa. Ở lối vào chính bà nhìn thấy tấm biển tiếng Trung Quốc gắn ở cột đỡ. Bà so chúng với những chữ viết ở bìa sau của cuốn tạp chí và nhận ra mình đã đến đúng chỗ. Một bác sĩ mặc áo blu trắng đang đứng hút thuốc trước cửa và nói rất to vào chiếc điện thoại cầm tay. Lúc này bà đứng rất gần ông ta nên nhìn thấy được những ngón tay nhuốm vàng do nicotin. Lại thêm một chuyện nữa, bà thầm nghĩ. Hồi đó, chúng ta đã hút thuốc liên tục, hút khắp mọi nơi, hầu như không nghĩ đến xung quanh mình còn có những người khác không chịu được khói thuốc. Chỉ khác là ngày đó chúng ta vẫn chưa có điện thoại di động. Chúng ta không biết cha mẹ, bạn bè, người thân hiện đang ở đâu. Mao chủ tịch hút thuốc, cho nên chúng ta cũng làm như vậy. Ngày đó luôn phải tìm kiếm một trạm điện thoại công cộng còn hoạt động, chỗ nhét tiền không bị kẹt, dây không bị giật đứt. Mình còn nhớ chuyện những người may mắn được đến Trung Quốc thời ấy kể lại: ở đó không có tội phạm. Nếu có ai đó bỏ quên bàn chải đánh răng ở khách sạn Bắc Kinh mà sau đó lại đi đến Quảng Châu, chiếc bàn chải sẽ được gửi ngay đến nơi mới, giao tới tận nhà. Và mọi trạm điện thoại đều hoạt động tốt.
Bà đi một vòng xung quanh bệnh viện. Khắp trên các vỉa hè đều thấy những ông già ngồi chơi mạt chược. Trước kia bà cũng biết luật chơi. Liệu Karin có còn nhớ không? Bà sẽ cố tìm mua một bộ đem về Thụy Điển.
Khi đã đi được một vòng, bà lại đi theo con đường dẫn về khách sạn. Bà dừng lại khi mới đi được một đoạn ngắn. Bà đã nhận ra điều gì đó nhưng không rõ đó là cái gì. Bà từ từ quay người lại. Bệnh viện, công viên tiêu điều, đường phố, những tòa nhà khác. Cảm giác lúc này trở nên mạnh hơn, bà không hoang tưởng. Bà đã bỏ qua cái gì đó. Bà quay trở lại. Viên bác sĩ hút thuốc với chiếc điện thoại di động đã mất dạng. Lúc này đứng ở chỗ đó là mấy cô y tá đang thèm thuồng hít mạnh khói thuốc vào phổi.
Khi tới được góc công viên, bà mới hiểu ra mình đã nhìn thấy gì mà không để ý. Ở phía bên kia đường có một tòa nhà xa hoa mới được xây dựng. Bà lại lấy cuốn tạp chí bằng tiếng Trung Quốc ra. Tòa nhà được in trong đó chính là tòa nhà đang ở trước mặt bà. Không còn nghi ngờ gì nữa. Trên nóc tòa nhà có một sân thượng không giống với bất cứ một sân thượng nào khác. Nó vươn lên không trung như mũi một con tàu. Bà quan sát mặt tiền tòa nhà lắp kính tối màu. Trước cửa chính có mấy người bảo vệ cầm súng. Có lẽ đây là tòa nhà cơ quan chính quyền. Bà đứng sau một thân cây để tránh gió lạnh. Một vài người đàn ông bước ra khỏi tòa nhà qua khung cửa lớn có lẽ được làm bằng đồng thau, rồi nhanh chóng bước lên chiếc xe đang chờ họ. Một ý nghĩ hấp dẫn lướt qua tâm trí bà. Bà sờ vào trong túi xem tấm ảnh của Vương Minh Hào có ở trong đó không. Nếu như anh ta có liên quan đến tòa nhà này thì chắc chắn những người bảo vệ ở đây phải biết anh ta. Nhưng bà sẽ nói gì khi họ gật đầu bảo rằng đúng là anh ta có ở đây?
Bà không biết nên quyết định như thế nào. Trước khi chìa ra tấm ảnh này bà phải tìm được lý do vì sao mình lại tìm anh ta. Đương nhiên lý do này không được dính dáng tới sự kiện ở Hesjövallen. Nếu ai đó hỏi, bà phải đưa ra được một câu trả lời đáng tin.
Một thanh niên dừng lại chỗ bà đứng. Anh ta nói cái gì đó mà thoạt đầu bà không hiểu. Rồi bà nhận ra anh ta đang tìm cách nói với bà bằng tiếng Anh.
– Bà bị lạc đường à? Tôi có thể giúp bà được không?
– Tôi chỉ muốn ngắm tòa nhà đẹp này thôi, bà nói. Anh có biết ai là chủ nhân của nó không?
Anh ta ngạc nhiên lắc đầu.
– Tôi học ngành thú y, anh ta nói. Tôi hoàn toàn không biết gì về tòa nhà này. Tôi có thể giúp bà được gì? Tôi cố gắng nói được tiếng Anh tốt hơn.
– Anh nói hơi nhanh một chút, bà nói. Khó mà hiểu được hết các từ. Anh nên nói chậm lại.
– Thế này đã tốt hơn chưa?
– Có lẽ hơi chậm quá.
– Thế được chưa?
– Bây giờ thì tôi hiểu tốt hơn rồi.
– Tôi có thể giúp bà tìm được đường về.
– Tôi có bị lạc đâu. Tôi chỉ dừng lại ngắm tòa nhà này thôi.
– Tòa nhà này quả là đẹp.
Bà chỉ lên sân thượng nhô ra phía trước.
– Tôi tự hỏi ai có thể sống ở đó.
– Một người nào đó, rất giàu có.
Bỗng bà quyết định:
– Tôi muốn nhờ anh giúp cho một việc.
Bà lấy ra tấm ảnh của Vương Minh Hào.
– Anh có thể sang đó hỏi mấy người bảo vệ xem họ có biết người này không? Nếu họ hỏi tại sao, anh cứ nói đơn giản là có người nhờ anh nhắn anh ta.
– Nhắn gì vậy?
– Anh cứ nói là mình sẽ quay lại với lời nhắn. Tôi chờ anh ở trước bệnh viện.
Anh ta đưa ra câu hỏi mà bà chờ đợi.
– Tại sao bà không tự hỏi lấy?
– Tôi thấy e ngại, một phụ nữ châu Âu không nên đi đến đó để hỏi gặp một người đàn ông Trung Quốc.
– Bà có quen biết anh ta không?
– Có.
Birgitta Roslin tìm cách tỏ ra không muốn nói ra hết lý do, đồng thời bà bắt đầu thấy hối tiếc về ý định của mình. Nhưng người thanh niên đã cầm lấy tấm ảnh và dợm đi.
– Còn việc này nữa, bà nói. Anh hãy hỏi xem ai là người sống ở trên đó. Ở tầng trên cùng ấy. Nó trông giống như một căn hộ có sân thượng.
– Tôi tên là Hứa, anh ta nói. Tôi sẽ hỏi xem.
– Còn tôi là Birgitta. Anh hãy làm như mình là một người tò mò.
– Bà từ đâu đến? Từ Mỹ à?
– Thụy Điển. Phiên âm ra tiếng Trung Quốc là Ruidian, tôi nghĩ thế.
– Tôi không biết nước ấy ở đâu?
– Vậy thì khó có thể giải thích được.
Khi anh ta chuẩn bị bước qua đường, bà cũng quay người đi vội về phía trước khu nhà bệnh viện.
Lúc này mấy cô y tá không còn ở đó. Một ông lão chống nạng từ từ bước ra khỏi khung cửa mở. Bà bỗng có cảm giác đã tự đặt mình vào một mối nguy hiểm, nhưng rồi cũng tự trấn an rằng lúc này trên đường phố còn rất đông người qua lại. Một người đàn ông Trung Quốc có thể biến mất sau khi giết rất nhiều người trong một ngôi làng nhỏ ở Thụy Điển. Nhưng sẽ không thể giết một khách du lịch phương Tây giữa ban ngày ban mặt ngay trên phố. Điều này Trung Quốc không cho phép.
Hứa quay trở lại. Anh ta bước đi thong thả, không nhìn ngang nhìn ngửa. Birgitta Roslin đi về phía Hứa.
Anh ta lắc đầu.
– Không có ai nhìn thấy người đàn ông này.
– Không ai biết anh ta là ai ư?
– Không một ai.
– Anh đã cho ai xem tấm ảnh này?
– Mấy người bảo vệ. Có một người đàn ông nữa từ trong ngôi nhà ấy bước ra cũng xem nó. Anh ta đeo kính râm. Tôi phát âm đúng chứ? “Kính râm”?
– Rất chuẩn. Thế còn ai sống ở tầng trên cùng?
– Họ không trả lời câu hỏi này.
– Nhưng có người sống ở trên đó đúng không?
– Tôi nghĩ vậy. Họ cũng không thích câu hỏi này và bảo tôi đi đi.
– Sau đó anh làm gì?
Anh ta ngạc nhiên nhìn bà:
– Sau đó tôi bỏ đi.
Bà lấy từ trong túi xách tay ra một tờ mười đô la. Thoạt đầu anh ta không muốn nhận và trả lại bà tấm ảnh Vương Minh Hào, rồi hỏi bà hiện nay đang ở khách sạn nào, tin chắc là bà sẽ về được khách sạn của mình, nên anh lịch sự cúi chào tạm biệt bà.
Trên đường trở về khách sạn, bà lại có cảm giác choáng váng rằng lúc nào cũng có thể bị đám đông nuốt chửng và biến mất mà không một ai nhận thấy. Bà buộc phải đứng lại, tựa lưng vào tường một ngôi nhà. Gần đó có một quán trà. Bà vào đó, gọi một cốc trà cùng một vài chiếc bánh bích quy và cố thở thật sâu. Cơn hoảng loạn mà bà phải chịu từ vài năm nay lại xuất hiện. Choáng váng, cảm giác bỗng nhiên bị rơi tự do. Chuyến đi xa đến Bắc Kinh cũng không giúp bà thoát ra khỏi nỗi lo lắng vẫn gặm nhấm bà.
Bà lại nghĩ đến Vương. Bà đã theo dấu anh ta đến tận đây, nhưng không tiếp tục được nữa. Bà gõ chiếc búa thẩm phán tưởng tượng của mình lên mặt bàn trà và tuyên bố không thành tiếng với chính mình rằng tất cả đã qua. Một thanh niên phát âm tiếng Anh còn chưa chuẩn đã giúp bà hết mức có thể. Bà không thể đi xa hơn nữa, không cần nghĩ tới chuyện đó nữa.
Bà thanh toán tiền trà. Giá quá cao khiến bà giật mình. Rồi bà lại ra với gió lạnh.
Buổi tối hai người đến nhà hát. Mặc dù ở đây có tai nghe chụp đầu, nhưng Karin Wiman vẫn kiếm được một nữ phiên dịch cho bà. Suốt bốn giờ đồng hồ, Birgitta Roslin phải ngồi nghiêng đầu qua một bên lắng tai nghe lời tóm tắt đôi chỗ hơi khó hiểu của cô phiên dịch về những tình tiết đang diễn ra trên sân khấu. Khi chương trình kết thúc, và cuối cùng đã có thể rời khỏi rạp hát lạnh băng, cả hai đều mỏi cứng cổ.
Trước cửa nhà hát, họ đứng đợi xe mà hội nghị đã bố trí cho Karin sử dụng. Birgitta cho rằng mình đã thoáng thấy Hứa.
Sự việc diễn ra quá nhanh đến nỗi bà chưa kịp nhìn rõ khuôn mặt anh ta thì anh ta đã biến mất.
Khi hai người trở về đến khách sạn, bà nhìn lại phía sau. Nhưng bà không hề biết một ai trong số đó.
Người bà ớn lạnh. Từ cõi hư vô nỗi sợ hãi của bà lại xuất hiện. Bà đã nhìn thấy Hứa trước rạp hát. Bà chắc chắn điều này.
Karin hỏi liệu bà có muốn uống một chút gì trước khi lên giường không. Birgitta đồng ý.
Một tiếng đồng hồ sau Karin đã ngủ say. Birgitta còn đứng bên cửa sổ, nhìn ra những ngọn đèn nê ông nhấp nháy.
Nỗi sợ hãi không chịu rời bỏ bà. Làm thế nào Hứa lại biết bà có mặt ở đó? Tại sao anh ta bám theo bà?
Khi lên giường nằm xuống bên cạnh người bạn gái đang ngủ say, bà thấy hối hận vì đã cho Hứa xem tấm ảnh của Vương Minh Hào.
Bà thấy lạnh, thao thức rất lâu. Đêm mùa đông ở Bắc Kinh trùm lên bà tấm áo khoác giá băng của nó.